Tài liệu này được hoàn thiện như một phần của hoạt động tăng cường năng lực của Dự án nói trên. Mục đích sử dụng của tài liệu là dùng để tập huấn cán bộ nông, lâm nghiệp ở các địa phương MNPB để họ có thể trở thành những tập huấn viên về CSA/NLKH cho nông dân như một phần của chiến lược tăng cường năng lực hướng tới mở rộng ứng dụng CSA/NLKH trong khu vực.
Những vấn đề chính đối diện sản xuất nông nghiệp MNPB
Những vấn đề liên quan điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Miền núi phía Bắc (MNPB) bao gồm 14 tỉnh phía cực Bắc của Việt Nam và được chia thành
Vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam gồm hai khu vực chính là Tây Bắc và Đông Bắc Vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và Lào Cai, nổi bật với đa dạng các loại hình nông nghiệp và phong cảnh núi non tuyệt đẹp Trong khi đó, các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc bao gồm Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và Bắc Giang, là những trung tâm nông nghiệp quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực Các vùng này đóng vai trò thiết yếu trong phát triển nông nghiệp bền vững và đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước.
Các tỉnh miền núi phía Bắc
MNPB vẫn là khu vực dễ bị tổn thương và nghèo nhất cả nước Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo của vùng Đông Bắc vẫn là 12,08%, trong khi đó vùng Tây Bắc còn đến 24,23%, cho thấy mức độ nghèo đói vẫn còn rất cao Với hơn 80% dân số sống hoàn toàn dựa vào nông nghiệp, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của MNPB đang đối diện với những thách thức ngày càng nghiêm trọng và khó khăn.
1 Bộ LĐ-TB và XH, 2019 1052/QĐ-LĐTBXH ngày 29/7/2019 công bố kết quả rà soạt hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018
Câu hỏi dẫn dắt thảo luận về nội dung phần học
1 Những đặc điểm nào về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp MNPB?
2 Sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua có làm gia tăng những khó khăn này? Tại sao?
3 Những biểu hiện nào của BĐKH được quan sát thấy ở MNPB, và đã ảnh hưởng thế nào tới sản xuất nông nghiệp trong khu vực?
4 Ngành nông nghiệp có thể làm gì để cải thiện tình hình?
3 dự báo Điều này, một phần là do những đặc thù chính về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực như dưới đây
MNPB có địa hình phức tạp với nhiều đồi núi cao, chia cắt mạnh, tạo thành khu vực có đa dạng địa hình và khí hậu đặc thù, thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng và vật nuôi đa dạng Tuy nhiên, đặc điểm địa hình hiểm trở này cũng gây nhiều khó khăn cho ngành nông nghiệp, khi hơn 80% diện tích đất canh tác là đất dốc, trong đó hơn 60% có độ dốc lớn, gây thách thức trong việc canh tác và quản lý đất đai.
25 độ), bị xé lẻ và trở nên manh mún, dễ bị xói mòn, rửa trôi
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa, với một số đặc điểm gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp:
MNPB có 4 mùa rõ rệt gồm xuân, hạ, thu và đông, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Lượng mưa hàng năm lớn từ 1700 đến 1900 mm giúp đa dạng hóa các loại cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, gây khó khăn trong quản lý và sản xuất nông nghiệp.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Mặc dù đa dạng bản sắc văn hóa phong phú, khu vực MNPB vẫn đối mặt với nhiều hạn chế về trình độ dân trí, khi theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, có khoảng 56,2% trong tổng số 12 triệu dân là người thuộc các dân tộc thiểu số, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 14,7% của cả nước Trong khu vực sinh sống của hơn 30 dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng, đồng thời có truyền thống và kinh nghiệm trong việc bảo tồn, phát triển sản xuất và sử dụng đa dạng các giống cây trồng, vật nuôi để thích ứng với điều kiện tự nhiên và phát triển cộng đồng.
2 Bộ TNMT,2018 3873/QĐ-BTNMTngày 25/12/2018 phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2017
3 https://text.123doc.org/document/2370693-suy-thoai-dat-viet-nam.htm
4 Bộ LĐ-TB và XH, 2019 Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
Kho tàng kiến thức bản địa phong phú đóng vai trò quan trọng trong phát triển đa dạng các sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên, việc chuyển giao tiến bộ khoa học và kỹ thuật để thúc đẩy tăng trưởng sản xuất bền vững gặp nhiều khó khăn do các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống Ngoài ra, hạn chế về nhận thức và hiểu biết của người dân cũng là thách thức lớn trong việc mở rộng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới.
Dân số tăng cao và nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn đặt ra thách thức lớn cho vùng MNPB, mặc dù có mật độ dân số thấp (năm 2019 là 132 người/km² so với trung bình cả nước là 290 người/km²) Tuy nhiên, diện tích đất canh tác trên đầu người của khu vực cũng còn hạn chế, khiến cho việc duy trì năng suất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Sự thoái hóa đất do rửa trôi, bạc màu, mất mủ, cùng với việc người nông dân phải dùng nhiều phân hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật để duy trì sản lượng, ngày càng làm tăng tình trạng suy thoái đất, ô nhiễm môi trường và giảm độ phì nhiêu Đồng thời, nguồn nước cũng bị ô nhiễm nặng và suy giảm do các hoạt động nông nghiệp chưa bền vững này, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực và phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.
Mặc dù cơ sở hạ tầng và đường xá trong khu vực đã được cải thiện rõ rệt trong hơn chục năm qua, MNPB vẫn là khu vực gặp nhiều khó khăn nhất về giao thông và vận chuyển của cả nước, gây ảnh hưởng lớn đến ngành nông nghiệp Vận chuyển khó khăn, tốn kém làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông sản trong khu vực so với các địa phương khác Ngoài ra, hạn chế về vốn đầu tư tài chính, trình độ và nhận thức của nông dân cũng là rào cản lớn trong việc mở rộng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất cây trồng, vật nuôi Thiếu liên kết giữa nông dân với nông dân và các bên liên quan khiến các khó khăn chưa được giải quyết một cách hiệu quả, dẫn đến vấn đề tiêu thụ nông sản vẫn còn nhiều thách thức.
Những vấn đề do tác động của BĐKH
Do đặc thù địa hình và điều kiện sản xuất, kinh tế, xã hội, MNPB rất dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu toàn cầu; trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm, nắng nóng kéo dài, mưa lớn tập trung và hạn hán kéo dài đã trở nên thường xuyên và khó dự báo Việc mất rừng và thực hành sản xuất nông nghiệp không bền vững đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng do sạt lở đất, bão, lũ quét, hạn hán, ngập lụt Theo các kịch bản phát thải (RCP) và dự báo biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Việt Nam, những tác động này sẽ tiếp tục gia tăng, gây khó khăn lớn hơn cho sản xuất nông nghiệp ở MNPB.
5 Tổng cục Thống kê, 2019 Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
6 Bộ TN&MT 2016 Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
Biến đổi khí hậu gây ra những khó khăn lớn liên quan đến nhiệt độ, với nhiệt độ trung bình hàng năm tiếp tục tăng và số ngày nóng (nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥35°C) tăng lên rõ rệt Các đợt lạnh, rét đậm kéo dài trở nên khó dự đoán hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực của cộng đồng.
Sự gia tăng nhiệt độ và các đợt rét đậm đã có tác động đáng kể đến sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất của cây trồng và vật nuôi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến ngành nông nghiệp.
Biến đổi về lượng mưa và phân bố lượng mưa gây ra nhiều khó khăn lớn cho nông nghiệp và sinh hoạt cộng đồng Lượng mưa hàng năm được dự báo sẽ tăng, nhưng sự phân bố không đều giữa các mùa và vùng địa phương làm gia tăng các rủi ro như khô hạn vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 4) với mức giảm 6-9%, và lũ lụt trong mùa mưa Những biến đổi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất cây trồng, vật nuôi, gây thiệt hại đáng kể và đòi hỏi các giải pháp phòng chống thích hợp.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được ghi nhận làm thay đổi tần suất xuất hiện và sự phát triển của sâu bệnh hại cây trồng, vật nuôi Nhiều tỉnh đã ghi nhận sự xuất hiện của các chủng loại sâu bệnh mới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến nhiều loại cây trồng khác nhau Những thay đổi này đe dọa an ninh lương thực và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi các biện pháp quản lý và phòng chống sâu bệnh phù hợp với tình hình mới.
Mất rừng, suy thoái tài nguyên rừng làm gia tăng và trầm trọng thêm những khó khăn, thách thức
Trong vài thập kỷ qua, rừng MNPB đã bị tàn phá nặng nề, với diện tích rừng tự nhiên giảm nhanh chóng và chủ yếu còn lại ở các khu bảo tồn, khu vực quốc gia Diện tích rừng khoanh nuôi, rừng tái sinh, rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn còn ít ỏi và rất nghèo, khiến chúng không đủ khả năng đóng vai trò bảo vệ môi trường và chống xói mòn đất.
Theo số liệu điều tra chính thức, trung bình mỗi năm cả nước mất hơn 100.000 ha rừng, trong đó giai đoạn 1975-1990 xảy ra tình trạng mất rừng nhiều nhất với trung bình 140.000 ha/năm Năm 1976, tổng diện tích rừng cả nước đạt 11 triệu hecta, chiếm tỷ lệ che phủ 34% Đến năm 1985, diện tích rừng giảm xuống còn 9,3 triệu hecta, tỷ lệ che phủ còn 30%; và đến năm 1995, diện tích rừng còn khoảng 8 triệu hecta, tỷ lệ che phủ giảm xuống còn 28%.
7 IPCC (Intergovernmental panel on climate change), 2007 The fourth assessment report (AR4).
8 Báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp của Sở NN &PTNT các tỉnh
Based on the 2015 report by Pham Thi Sen et al., a comprehensive situation analysis and needs assessment were conducted for Ma Village in Yen Bai province, Vietnam, highlighting critical socio-economic and environmental challenges The study emphasizes the importance of tailored interventions to improve local livelihoods and promote sustainable development Key findings include the identification of pressing needs in agriculture, infrastructure, and climate resilience, which are essential for fostering long-term community growth Implementing strategic solutions based on this assessment can significantly enhance the resilience and overall well-being of Ma Village residents For more detailed insights, consult the full report at the CCAFS website.
10 UBND tỉnh Phú Thọ, 2011 Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012 –
11 Tổng kết tình hình dịch hại lúa - màu vụ Xuân 2010; Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Nam Định)
12 Tổng cục Lâm nghiệp, 2010 http://tongcuclamnghiep.gov.vn/LamNghiep/Index/tai-nguyen-rung-va-nguyen- nhan-suy-thoai-rung-o-viet-nam-195
Kể từ năm 1995, nhờ vào nỗ lực trồng rừng, diện tích rừng bắt đầu có sự tăng trưởng, góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học Tuy nhiên, chất lượng rừng vẫn còn hạn chế, chủ yếu là rừng nghèo và rừng một tầng, ảnh hưởng đến khả năng khai thác và giá trị kinh tế của rừng Trữ lượng gỗ rừng vẫn còn ở mức thấp, đòi hỏi các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng bền vững hơn để nâng cao giá trị tài nguyên rừng trong thời gian tới.
Năm 1993, ước tính cả nước có khoảng 525 triệu m³ rừng, trung bình đạt 76 m³/ha Riêng vùng MNPB 13 đã ghi nhận sự tăng lên đáng kể về diện tích rừng và tỷ lệ che phủ, chứng tỏ công tác bảo vệ và phục hồi rừng đang có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên, phần lớn rừng tại đây vẫn là rừng trồng đơn tầng với chu kỳ khai thác trung bình từ 7 đến 10 năm, đồng thời chất lượng rừng tái sinh còn nghèo, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu phát triển bền vững.
Dưới quy định của Chính phủ, cây ngắn ngày chỉ được trồng trên đất dốc dưới 20 độ, còn cây dài ngày chỉ được trồng trên đất dốc dưới 30 độ; đất dốc từ 30 độ trở lên là đất lâm nghiệp, không phù hợp để trồng các loại cây nông nghiệp và công nghiệp Tuy nhiên, tại MNPB, nhiều diện tích đất dốc trên 30 độ, thậm chí đến 50-60 độ, vẫn bị sử dụng để trồng cây nông nghiệp cả ngắn ngày lẫn dài ngày Năm 2019, tổng diện tích trồng ngô ở MNPB ước tính khoảng 450.000 ha, trong đó chỉ 21,9% là đất dốc dưới 15 độ, 16,4% đất dốc 15-25 độ, còn lại 61,7% là đất dốc trên 25 độ Các cây cà phê, chè và cây ăn quả cũng đã và đang "leo dốc" để phát triển trên các đỉnh đồi, đỉnh núi.
Cây nông nghiệp trên nhiều diện tích đất rừng (ảnh: Sơn La, 7/2018; Phạm Thị Sến)
13 Quyết định số 1423 /QĐ-BNN-TCLN, ngày 15/4/2020, công bố thực trạng rừng toàn quốc năm 2019
14 Chỉ thị số 15-TTg ngày 15/2/1964 về việc chống xói mòn, giữ đất, giữ mầu, giữ nước
15 https://baotintuc.vn/tay-bac-tay-nguyen-tay-nam-bo/tay-bac-canh-tac-ben-vung-tren-dat-doc-
Việc phá rừng, làm mất rừng và nghèo rừng đã làm giảm khả năng giữ nước của đất, gây gia tăng các hiện tượng sạt lở đất, hạn hán, lũ ống, lũ quét, lụt lội, sương muối và rét đậm Đốt nương và sử dụng đất rừng để trồng cây lương thực khiến rừng không còn khả năng tái sinh, phá hủy cấu trúc đất, dẫn đến đất bạc màu, xói mòn và rửa trôi nghiêm trọng Theo nghiên cứu, trung bình mỗi năm, từ 1 hectare đất dốc, hàng chục đến hơn trăm tấn đất bị rửa trôi do mất lớp phủ thực vật Nhiều diện tích cây trồng, vật nuôi hàng năm bị ảnh hưởng hoặc mất hoàn toàn bởi hạn hán, lũ lụt, rét đậm và sương muối, gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp và sinh kế người dân.
Việc phủ xanh đất dốc và đỉnh đồi bằng cây nông nghiệp lâu dài như chè, cà phê, bưởi, cam, xoài, nhãn chưa thực sự giải quyết được vấn đề đất đồi Các cây này không có hệ rễ ăn sâu, đặc biệt khi trồng theo chế độ thâm canh, khiến rễ phát triển mất cân đối và hút dinh dưỡng chủ yếu ở tầng đất mặt Dù các vườn cây vẫn xanh tốt, lòng đất vẫn bị hoang mạc, cấu trúc đất không chắc chắn, không thấm nước và dễ bị rửa trôi, gây thoái hóa nghiêm trọng vùng đồi núi, dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất và mất đất trồng liên tục.
Bảng 1.1: Phân bố đất dốc và đất bị thoái hóa do xói mòn, rửa trôi ở các vùng
Số TT Vùng Diện tích đất
Tỷ lệ (%) đất dốc trên 5 độ
Tỷ lệ (%) đất thoái hóa và chưa sử dụng
(Nguồn: Hội Khoa học đất Việt Nam, 2000; Niên giám thống kê, 2009)
Việc suy thóa đất dốc ở MNPB được ghi nhận về cả tính chất lý học, hóa học, vi sinh vật và mức độ ô nhiễm 17
Thoái hóa về hóa học của đất tại MNPB biểu hiện rõ qua việc tăng độ chua pHkcl, với hơn 84% diện tích đất có độ chua cao Quá trình này còn dẫn đến giảm lượng mùn trong tầng đất mặt, làm suy giảm độ phì nhiêu và khả năng giữ chất dinh dưỡng của đất Ngoài ra, thoái hóa còn gây tăng hàm lượng sắt và nhôm di động, làm giảm khả năng cố định lân và gây ra hiện tượng giảm lượng lân dễ tiêu cho cây trồng Bên cạnh đó, quá trình này còn làm tăng khả năng hấp thụ bazơ của đất, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cây trồng và năng suất nông nghiệp.
16 Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne, 2005 Canh tác đất dốc bền vững, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Đề tài của Đỗ Thị Vân Hương (2008) tập trung vào thực trạng thoái hóa đất đồi núi vùng cao phía Bắc, nguyên nhân chính gây ra tình trạng này và các giải pháp bảo vệ môi trường đất hiệu quả Nghiên cứu nhấn mạnh rằng sự suy giảm chất lượng đất đồi núi ảnh hưởng lớn đến phát triển bền vững của khu vực, đòi hỏi các biện pháp quản lý và bảo vệ đất đai phù hợp Các giải pháp đề xuất bao gồm việc cải thiện kỹ thuật canh tác, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và nâng cao nhận thức cộng đồng, nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác và nông nghiệp đối với đất đồi núi Bài viết cũng nhấn mạnh vai trò của các chính sách môi trường trong việc đảm bảo sự bền vững của đất đai vùng cao phía Bắc.
Thoái hóa về lý học gây ra hiện tượng xói mòn, làm cho tầng đất mặt trở nên mỏng và phần kết cấu đất bị thay đổi, kém kết dính, trở nên chai, chặt, giảm độ tơi xốp Điều này làm đất mất khả năng giữ ẩm, giữ nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng phát triển của cây trồng và cân bằng sinh thái đất đai.
Thoái hóa về vi sinh vật gây ra sự suy giảm đáng kể nồng độ vi sinh vật tổng số và vi sinh vật có ích trong lớp đất canh tác, khiến nhiều diện tích đất trở nên “chết”, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh trưởng của cây trồng và năng suất nông nghiệp.
- Ô nhiễm: Ô nhiễm tàn dư thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, ô nhiễm do chất thải khai thác mỏ, quặng v.v
Xói mòn, rửa trôi đất từ nương cả phê (ảnh: Sơn La, 17/2017; Phạm Thị Sến)
Sản xuất nông nghiệp hiện làm gia tăng BĐKH và suy thoái tài nguyên thiên nhiên, môi trường
(1) Nhiều thực hành và hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện phát thải KNK vào khí quyển, làm gia tăng BĐKH
Trên toàn cầu, hoạt động sản xuất nông nghiệp góp khoảng 25% tổng lượng khí nhà kính phát ra từ các hoạt động của con người, trong đó trồng trọt chiếm 14% và chăn nuôi 13,5% Tại Việt Nam, phát thải khí nhà kính từ ngành nông nghiệp chiếm hơn 50% tổng lượng phát thải, phản ánh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong việc đóng góp vào vấn đề biến đổi khí hậu.
Tất cả hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, và quản lý tài nguyên thiên nhiên đều có thể phát sinh khí nhật kí công nghiệp (KNK) gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt, các hoạt động như canh tác trên ruộng lúa nước, đốt tàn dư cây cối, cày đất, làm đất bị rửa trôi, và chăn nuôi gia súc đều có tiềm năng sinh ra lượng lớn KNK, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường (Hình 1.2).
Các nguồn gây phát thải KNK trong sản xuất nông nghiệp (nguồn:greencleanguide.com, 2011)
(2) Nhiều thực hành và hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện gây xói mòn, suy thoái tài nguyên thiên nhiên và làm ô nhiễm môi trường
Việc thực hành đốt nương và làm rẫy theo phương pháp truyền thống, cùng với việc trồng cây nông nghiệp trên đất dốc cao, gây ra hiện tượng xói mòn và thoái hóa đất nghiêm trọng Ảnh hưởng của quá trình này không chỉ làm giảm độ phì nhiêu của đất canh tác mà còn dẫn đến lắng đọng phù sa trong lòng hồ, lòng sông Điều này gây ra tình trạng tắc nghẽn, buộc phải nạo vét và khơi thông các công trình thủy lợi, hồ chứa, hồ thủy điện để duy trì hoạt động.
Việc áp dụng các chế độ tưới nước, phân bón, phòng trừ sâu bệnh không hợp lý gây lãng phí kinh tế và ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai Tàn dư thuốc trừ cỏ và phân bón tích tụ trong đất, bị rửa trôi vào các con suối, sông, ao hồ, dẫn đến mức ô nhiễm báo động.
Hầu hết các địa phương hiện nay vẫn chưa xử lý hiệu quả rác thải chăn nuôi và phế phụ phẩm cây trồng, dẫn đến ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính Năm 2010, tổng chất thải rắn của Việt Nam ước tính khoảng 200 triệu tấn, trong đó chất thải từ hoạt động chăn nuôi chiếm tới 42,5% (khoảng 85 triệu tấn) Dự báo đến năm 2050, tổng lượng rác thải quốc gia sẽ tăng lên khoảng 370 triệu tấn, trong đó chất thải từ chăn nuôi và trồng trọt vẫn là các nguồn lớn gây ô nhiễm môi trường.
Ở nhiều khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm rác thải ngày càng trở nên đáng báo động, đặc biệt với các loại rác thải hữu cơ như phụ phẩm nông nghiệp, rau, hoa quả, thức ăn thừa, chiếm khoảng 55-69% Trong đó, các loại rác thải này đóng góp lớn đến 18% tổng lượng rác thải, gây áp lực lớn lên môi trường và hệ thống xử lý rác thải cộng đồng.
Nông nghiệp cần và có thể chuyển đổi để vượt qua các nguy cơ, thách thức
Nông nghiệp MNPB cần áp dụng các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên để giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất tới môi trường Việc tích hợp các chiến lược này vào các dự án, chương trình khuyến nông, đề tài nghiên cứu và kế hoạch phát triển ngắn hạn cũng như dài hạn là rất quan trọng để bảo vệ, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng, đất đai và nước Đồng thời, mở rộng ứng dụng các kỹ thuật, thực hành và hệ thống sản xuất bền vững sẽ giúp ngành nông nghiệp phát triển một cách hiệu quả, phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn tài nguyên.
- Bảo vệ đất khỏi bị xói mòn, rửa trôi và khôi phục cấu trúc, độ phì nhiêu của những diện tích đất đã bị thoái hóa, bạc màu;
Trong các mùa khác nhau, biến đổi khí hậu gây ra những tác động nghiêm trọng Mùa khô kéo dài dẫn đến tình trạng hạn hán, đòi hỏi need sự thích ứng linh hoạt để duy trì sản xuất và sinh hoạt Trong mùa mưa, lũ quét, lũ ống và lụt lội ngày càng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản và đời sống của người dân Mùa đông, những đợt rét hại đậm và sương muối khó dự báo lại gây ảnh hưởng đáng kể đến nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng, đòi hỏi các giải pháp chống chịu phù hợp để giảm thiểu thiệt hại.
- Tăng tích tụ các-bon, giảm phát thải KNK, góp phần giảm thiểu BĐKH;
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực (nguyên liệu, nhiên liệu, phân bón, hóa chất, công lao động);
- Giảm thải hóa chất và các rác thải khác vào môi trường
(1) Nông nghiệp có thể tích tụ các-bon, giảm phát thải các-bon, góp phần giảm thiểu BĐKH và làm trong sạch môi trường
Thay đổi các thực hành sản xuất và ứng dụng công nghệ phù hợp trong nông nghiệp giúp tăng khả năng tích tụ carbon và giảm phát thải các-bon từ đất và cây trồng Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường bền vững Theo chu trình các-bon của đất, việc quản lý hiệu quả nguồn phát thải có thể nâng cao khả năng giữ carbon tự nhiên, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.
Cụ thể, có thể tăng tích tụ và giảm phát thải các-bon bằng các cách chính dưới đây:
Việc áp dụng các kỹ thuật làm đất phù hợp giúp giảm thiểu công việc cày, xới đất, đồng thời duy trì lớp phủ thực vật trên mặt đất để bảo vệ đất Điều này góp phần giảm lượng các-bon phát thải từ đất ra khí quyển, hỗ trợ các hoạt động nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường.
- Ứng dụng các kỹ thuật canh tác giảm xói mòn, rửa trôi đất (như làm đất tối thiểu, che
Trong bài viết của Trần Văn Thể (2019), về quản lý chất thải nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn Công tác xử lý chất thải nông nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng nông thôn và thúc đẩy phát triển bền vững Việc xây dựng các chính sách phù hợp và thực thi các tiêu chuẩn môi trường là yếu tố quyết định thành công trong hạn chế ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp Bài viết cũng trình bày các thực tiễn phù hợp của Việt Nam trong quản lý chất thải nông nghiệp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới hiệu quả và bền vững.
19 Đỗ Thêu, 2019 .http://ictvietnam.vn/bao-dong-o-nhiem-moi-truong-khu-vuc-nong-thon-mien-nui-9534.htm
Kỹ thuật phủ bề mặt đất và canh tác theo đường đồng mức, tiểu bậc thang giúp giảm phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường Nhờ đó, hạn chế phân hủy chất hữu cơ và bốc hơi phân bón bị rửa trôi cùng với đất, góp phần bảo vệ môi trường nông nghiệp bền vững.
Trồng rừng, phát triển rừng và kết hợp nhiều cây lâu năm, đặc biệt là cây gỗ lâm nghiệp, giúp các hệ thống sản xuất trở nên bền vững hơn; những loại cây này có chu kỳ sinh trưởng dài và khả năng tích tụ lượng lớn các-bon, góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu Cây gỗ lâm nghiệp với hệ rễ phát triển sâu giúp đất giữ nước, kết dính và phòng chống sạt lở, hạn chế thiệt hại do lũ lụt, hạn hán; đặc biệt quan trọng trong các khu vực núi cao, dốc và có mùa khô kéo dài Việc làm rừng giàu và đa dạng hệ sinh thái rừng có tác dụng giữ đất, ngăn rửa trôi chất dinh dưỡng, bảo vệ đất khỏi thoái hóa và chống tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu Trong điều kiện khu vực có mùa mưa lớn, đợt mưa kéo dài như ở miền núi, việc trồng và phát triển các hệ thống rừng kết hợp nhiều cây lớn là giải pháp không thể thay thế để đảm bảo an sinh môi trường và chống chịu biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng.
Hình 1.3: Minh họa về việc phát thải và tích tụ các-bon từ hệ thống sản xuất nông nghiệp (dựa theo Eash và cs., 2011)
Việc áp dụng các thực hành và hệ thống canh tác phù hợp giúp tăng lượng các-bon tích tụ trong đất và cây cối, đồng thời giảm phát thải các-bon vào khí quyển Đây là giải pháp bền vững để cải thiện chất lượng đất, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái nông nghiệp, và góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn cầu.
Quang hợp (ánh sáng mặt trời +
CO2 + cây xanh): Các-bon được thu, tích tụ trong đất và cây cối
Quá trình cày, xới đất làm phát thải cácbon
Hoạt động của vi sinh vật trong đất
Mùa khô, lạnh, cây cối ít phát triển
Phát thải các-bon từ đất
(2) Nông nghiệp có thể giúp khôi phục, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Các thực hành và hệ thống sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phục hồi độ phì nhiêu và cấu trúc của đất, bảo vệ đất khỏi xói mòn, đa dạng sinh học, tài nguyên rừng, nguồn nước và làm trong sạch môi trường không khí Đồng thời, những phương pháp này giúp cây trồng và vật nuôi phát triển khỏe mạnh, nâng cao khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do sâu bệnh và dịch hại.
Phần II của tài liệu sẽ trình bày chi tiết về các thực hành sản xuất nông nghiệp bền vững, giúp nông dân miền núi phía Bắc thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Những giải pháp này có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng suất, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời giữ gìn bền vững nguồn tài nguyên tự nhiên tại khu vực Đọc thêm để hiểu rõ các phương pháp sản xuất phù hợp với đặc thù của miền núi phía Bắc, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tài liệu tập huấn “Nông nghiệp ứng phó biến đổi khí hậu” của Phạm Thị Sến và cộng sự, xuất bản năm 2015, cung cấp thông tin chi tiết về tác động qua lại giữa nông nghiệp và biến đổi khí hậu Tài liệu cũng đề cập đến các thực hành và hệ thống sản xuất có thể giúp giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp Người đọc có thể tải tài liệu tại đường link: http://www.nomafsi.com.vn/vn/nong-nghiep-thong-minh-ung-pho-voi-b.html.
1 Trong bối cảnh BĐKH toàn cầu nông nghiệp miền núi phía Bắc đối mặt với ngày càng nhiều khó khăn, thách thức
Việc phá rừng, làm suy thoái rừng và sử dụng đất nông nghiệp không đúng quy định của Chính phủ về quản lý và sử dụng đất dốc, cũng như thiết kế nương đồi, là nguyên nhân chính gây ra các khó khăn, thách thức trong quản lý tài nguyên rừng và phát triển bền vững nông nghiệp.
3 Để tiếp tục tăng trưởng sản xuất một cách bền vững, ngành nông nghiệp MNPB cần và có thể chuyển đổi để vượt qua các khó khăn, thách thức
Làm giàu rừng và xây dựng hệ thống sản xuất nông nghiệp đa dạng với nhiều cây gỗ lâm nghiệp là giải pháp hiệu quả giúp nông nghiệp miền núi phía Bắc nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) Các hoạt động này góp phần bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, đảm bảo sự ổn định lâu dài cho khu vực.
CSA - Nông nghiệp thông minh với khí hậu
(Nông nghiệp ứng phó BĐKH)
Một kiểu NLKH cảnh quan (ảnh: Sơn La, 7/2012; Phạm Thị Sến)
Mục tiêu của Phần II:
Nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA) là một khái niệm quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các phương pháp canh tác bền vững CSA giúp nâng cao năng suất nông nghiệp, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và thích nghi với điều kiện khí hậu thay đổi Các thực hành CSA tiềm năng phù hợp cho miền núi phía lành mạnh hóa nền nông nghiệp địa phương, tăng khả năng chống chịu của cây trồng và đảm bảo an ninh lương thực lâu dài.
Bắc cùng những khó khăn, rào cản trong việc nhân rộng ứng dụng các thực hành này trong khu vực
Kết thúc phần này, học viên sẽ có thể nắm được và thảo luận về:
1 Khái niệm nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA);
2 Những thực hành/hệ thống CSA tiềm năng phù hợp cho vùng miền núi phía Bắc;
3 Những rào cản và giải pháp trong việc nhân rộng các thực hành/hệ thống CSA ở vùng miền núi phía Bắc.
Hiểu về nông nghiệp thông minh với khí hậu
II.1.1 Khái niệ m nông nghiệp thông minh với khí hậu ( CSA)
Nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA) là khái niệm do FAO khởi xướng năm 2010 tại hội nghị quốc tế về nông nghiệp, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu tại Hà Lan CSA được xác định là nền nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường, hướng tới đạt các mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng diễn biến phức tạp.
CSA là phương pháp nông nghiệp bền vững hướng tới ứng phó với biến đổi khí hậu, nhằm đạt đồng thời ba mục tiêu chính: thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu tác động của khí nhà kính, và thúc đẩy tăng trưởng sản xuất để đảm bảo an ninh lương thực lâu dài.
Một thực hành được coi là thực hành CSA khi thực hành này góp phần làm tăng 3 khả năng dưới đây của các hệ thống sản xuất nông nghiệp:
(1) Khả năng thích ứng BĐKH;
(2) Khả năng giảm thiểu BĐKH;
(3) Tăng trưởng sản xuất lâu dài góp phần đảm bảo an ninh lượng thực một cách bền vững
CSA không chỉ là các thực hành hay gói kỹ thuật đơn lẻ mà là một phương pháp tiếp cận tích hợp trong phát triển chính sách, kế hoạch và chương trình nông nghiệp Đây là chiến lược nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của các hộ nông dân và cộng đồng nông dân thông qua các dự án phát triển bền vững.
20 FAO, 2013 Climate smart agriculture Sourcebook (available at www.fao.org/ publications)
Câu hỏi dẫn dắt thảo luận về nội dung phần học
1 Thế nào là thích ứng, giảm thiểu BĐKH?
2 Ngành nông nghiệp MNPB cần làm gì để có thể thích ứng và giảm thiểu BĐKH
3 Có những kỹ thuật, thực hành nông nghiệp nào ở MNPB có tác động thích ứng và giảm thiểu BĐKH?
4 Điều gì cản trợ việc mở rộng ứng dụng những thực hành này tại MNPB?
CSA (Nông nghiệp chính xác và bền vững) tập trung vào tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn vật tư sản xuất như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu và tài nguyên đất, nước để nâng cao hiệu quả sản xuất Điều này giúp giảm phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường, đồng thời tiết kiệm chi phí, từ đó tăng lợi nhuận cho nông hộ Ngoài ra, CSA còn góp phần bảo vệ tài nguyên đất và nước, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường so với các giải pháp nông nghiệp thâm canh truyền thống.
Hình 2.1: Ba trụ cột của nông nghiệp ứng phó BĐKH (theo Neha Gupta, devalt.org)
II.1.2 Một số thực hành, hệ thống CSA tiềm năng phù hợp cho MNPB
Các nghiên cứu về thực trạng ứng dụng các thực hành Nông nghiệp Cố định Carbon (CSA) tại Việt Nam đã được công bố trong nhiều tài liệu, trong đó có cuốn sách "CSA - Thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu ở Việt Nam" của nhóm tác giả Phạm Thi Sến và cộng sự xuất bản năm 2017 Tài liệu này giới thiệu tổng quan về các thực hành CSA phù hợp với hệ thống sản xuất Nông nghiệp Điện Biên Phủ (MNPB), đồng thời cho thấy tiềm năng lớn của các thực hành này trong việc thúc đẩy nông nghiệp bền vững Chi tiết về các phương pháp cụ thể của CSA có thể được tìm thấy trong cuốn sách tham khảo trên để phục vụ cho các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
II.1.2.1 Trong sản xuất lúa nước a) Các gói kỹ thuật thâm canh bền vững lúa nước:
- IPM (quản lý sâu bệnh hại tổng hợp);
- ICM (quản lý cây trồng tổng hợp);
Thâm canh lúa bền vững (SRI) đòi hỏi sử dụng giống lúa phù hợp với điều kiện địa phương, cấy mạ non, cấy thưa, áp dụng chế độ tưới nước hợp lý, cùng với việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng (đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng cách) Việc ứng dụng các gói kỹ thuật này giúp giảm phát thải khí nhà kính, giảm chi phí đầu tư, đồng thời thúc đẩy cây lúa sinh trưởng khỏe mạnh, thích nghi tốt hơn với biến đổi khí hậu, mang lại năng suất cao hơn và hiệu quả kinh tế tốt hơn Tùy vào giống lúa và điều kiện cụ thể, các kỹ thuật này có thể mang lại hiệu quả rõ rệt trong nông nghiệp bền vững.
- Giảm chi phí về giống tới 50%-80%, giảm chi phí về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tới 30%;
- Giảm lượng nước tưới cần thiết cho lúa, tăng hiệu quả sử dụng nước, góp phần bảo vệ nguồn nước và môi trường;
- Giảm tới 50% lượng khí nhà kính phát thải từ sản xuất lúa nước;
Thực hành ICM trên lúa (ảnh: Cao Bằng, 2011; NOMAFSI)
Sử dụng phân nén dúi sâu cho lúa nước là một tiến bộ kỹ thuật giúp tăng hiệu quả sử dụng phân bón và giảm chi phí đầu tư Phân ka-li và ni-tơ được trộn lẫn, nén thành viên nhỏ khoảng 5-8 cm sâu để bón dưới mặt ruộng, gần vùng phát triển của rễ cây lúa Phương pháp này giúp cải thiện sinh trưởng và phát triển của cây lúa, từ đó tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.
Phân nén dúi giúp giảm lượng phân bón cần thiết, hạn chế rửa trôi và bay hơi, từ đó tối ưu hiệu quả sử dụng phân, giảm phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường Theo CODESPA 21, kỹ thuật này có thể giảm tới 35% lượng phân đạm cần bón cho lúa và tăng năng suất lúa từ 10-20%, giúp cây lúa phát triển khỏe mạnh hơn.
II.1.2.2 Trong canh tác trên đất dốc
Kể từ những năm 1960, chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản chính sách và quy định nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất, tiêu biểu là Chỉ thị chống xói mòn, giữ đất, giữ nước của Thủ tướng năm 1964, cùng với Quy phạm thiết kế đồi nương của Ủy ban Nông nghiệp trung ương năm 1971 Những văn bản này vẫn còn hiệu lực ngày nay, đóng vai trò quan trọng trong hướng dẫn thực hành canh tác bền vững Tuân thủ các quy định trong các văn bản này chính là cách hiệu quả nhất để thực hiện bảo vệ đất đồi và duy trì sự ổn định của tài nguyên đất đai.
Chỉ thị số 15-TTg, ngày 15/2/1964 về chống xói mòn, giữ đất, giữ nước, giữ màu, quy định:
- Chỉ được trồng cây hàng năm ở đất dốc dưới 20 độ;
- Chỉ được trồng cây lâu năm ở đất dốc dưới 30 độ;
Áp dụng chế độ luân canh và bón phân hợp lý phù hợp với từng loại đất và cây trồng nhằm duy trì độ màu mỡ và cải thiện chất lượng đất Nên trồng các loại cây có tác dụng che phủ đất và bồi dưỡng đất để giữ độ ẩm và hạn chế cỏ dại Trồng xen các loại cây họ đậu và cây phân xanh giữa các cây lâu năm để bổ sung chất dinh dưỡng tự nhiên cho đất và tăng năng suất cây trồng.
Trồng cây trên đất dốc phải theo đường đồng mức để giữ đất và tránh xói mòn Không trồng cây xuôi theo chiều dốc mà sử dụng các hàng rào hoặc vành nón theo đường đồng mức giúp bảo vệ đất hiệu quả Các hoạt động như cày, bừa, cuốc, xới đất cũng cần thực hiện theo đường đồng mức, kết hợp với khơi rãnh ngang, đắp bờ ngang và xây dựng các bậc thang để duy trì độ dốc và giảm thiểu mất đất, đảm bảo nông nghiệp bền vững trên đất dốc.
21 CODESPA, 2011 Root solutions: Fertilizer Deep Placement (FDP) for poverty reduction in Vietnam
Quy phạm thiết kế đồi nương, ngày 17/7/1971 của Uỷ ban Nông nghiệp trung ương:
- Ở những đồi có độ dốc từ 10 độ trở lên nhất thiết phải chừa lại đất rừng ở chỏm đồi, diện tích chỏm đồi chừa lại bằng 7 - 12% diện tích quả đồi;
- Ở những quả đồi có chiều dài dốc từ 150 m trở lên, cứ 80 m chừa lại một băng theo đường đồng mức, bề rộng băng 8 -10 m;
- Ở chân đồi chừa băng 5 - 10 m, tính từ chân đồi trở lên;
- Ở ven khe, suối, lạch chừa lại băng rộng gấp 2 - 3 lần chiều sâu của khe, suối, lạch; chiều rộng băng ít nhất phải là 5 m
Toàn bộ các chỏm đồi và các băng chừa đều cần được cải tạo, tu bổ và trồng bổ sung cây rừng để đảm bảo mật độ theo quy định Việc này phải được thực hiện kết hợp chặt chẽ với các đai rừng trồng nhằm tạo thành một mạng lưới đai rừng phòng hộ vững chắc, góp phần bảo vệ đất hiệu quả.
Để bảo vệ đất chống xói mòn, cần xây dựng các công trình bảo vệ đất hiệu quả và tránh để đất hoang hóa Các vùng đất dốc không thể đưa vào sản xuất ngay lập tức cần được trồng cây che phủ đất nhằm giảm thiểu xói mòn, giữ độ bền vững cho đất, góp phần phát triển bền vững nông nghiệp.
- Tận dụng tất cả những đất không có khả năng nông nghiệp và đất dọc đường giao thông để trồng cây rừng
Hình 2.1: Mô phỏng thiết kế nương đồi theo quy định của Chính phủ
Nhiều thực hành nông nghiệp dựa trên Kiến thức Địa phương (CSA) đang được thử nghiệm và chứng minh hiệu quả, đặc biệt phù hợp để mở rộng trên đất dốc tại miền núi phía Bắc Các phương pháp này mang lại tiềm năng thúc đẩy phát triển bền vững, cải thiện năng suất và bảo vệ môi trường khu vực Những thực hành tiêu biểu đã cho thấy khả năng thích nghi cao, góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp bền vững tại vùng núi phía Bắc.
19 a) Che phủ bề mặt đất và làm đất tối thiểu
Không đốt, cũng không dọn bỏ tàn dư thực vật như thân cây trồng và cỏ dại, mà duy trì chúng trên ruộng để làm vật liệu che phủ bề mặt đất Việc giữ lại tàn dư thực vật giúp bảo vệ đất khỏi xói mòn, duy trì độ ẩm và cung cấp chất dinh dưỡng tự nhiên cho cây trồng Đây là phương pháp canh tác bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tối ưu hoá năng suất nông nghiệp.
Những rào cản cản trở việc mở rộng ứng dụng thực hành CSA ở MNPB
Các kỹ thuật và thực hành CSA đã được chứng minh mang lại hiệu quả rõ ràng trong việc thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi, cũng như trong việc bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu Tuy nhiên, việc mở rộng ứng dụng các phương pháp này tại các địa phương miền núi phía Bắc (MNPB) vẫn gặp nhiều hạn chế do các rào cản chính như thiếu kiến thức, hạn chế về nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật Những thách thức này cần được giải quyết để thúc đẩy việc áp dụng bền vững các kỹ thuật CSA, góp phần nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường và đối phó với biến đổi khí hậu hiệu quả hơn.
(1) Tăng chi phí về công lao động và vật tư nông nghiệp, và những rủi ro khi ứng dụng các thực hành CSA, nhất là trong thời gian đầu;
(2) Sự phức tạp và khó ứng dụng của các kỹ thuật đối với nông dân;
Nông dân thường gặp phải khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạn chế khả năng mở rộng và nâng cao năng suất Việc tiếp cận thị trường để mua vật tư, thiết bị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và thu nhập của họ Các hạn chế này khiến nông dân khó cạnh tranh và phát triển bền vững trong ngành nông nghiệp.
Trong bài viết của Phạm Thị Sến (2015), tác giả nhấn mạnh về thực trạng và những khó khăn trong việc ứng dụng thực hành nông nghiệp để đối phó với biến đổi khí hậu tại Tây Bắc Nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các thách thức hiện hữu, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững nông nghiệp khu vực trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp Bài viết nằm trong chương trình “Nông nghiệp Tây Bắc: Nhận diện Thách thức và định hướng phát triển trong bối cảnh BĐKH” do PanNature xuất bản năm 2017, giúp lý giải rõ ràng hơn về các chiến lược thích ứng phù hợp với điều kiện địa phương.
Có nhiều vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và tài sản chung, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của cộng đồng Những cản trở xuất phát từ các yếu tố văn hóa và truyền thống của cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định và thực thi chính sách Việc hiểu rõ các thách thức này giúp xây dựng các giải pháp phù hợp, thúc đẩy sự cân đối giữa bảo vệ tài nguyên và giữ gìn bản sắc văn hóa.
II 2.1 Tăng chi phí lao động, vật tư nông nghiệp và rủi ro trong thời gian đầu ứng dụng các thực hành CSA
Tăng chi phí đầu tư, đặc biệt là về nguồn nhân lực, cùng với nguy cơ rủi ro cao hơn là những nguyên nhân chính khiến nông dân còn nhiều "rào cản" trong việc tiếp cận và áp dụng các kỹ thuật canh tác bền vững (CSA) Việc này ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng tự nhiên, an toàn và hiệu quả Do đó, các chính sách hỗ trợ về tài chính và giảm thiểu rủi ro cần thiết để khuyến khích nông dân chuyển đổi sang các phương pháp canh tác bền vững.
Hầu hết các kỹ thuật canh tác bền vững (CSA) yêu cầu đầu tư lớn về công lao động so với phương pháp canh tác truyền thống Các kỹ thuật như phủ đất trên đất dốc, trồng xen, và tạo tiểu bậc thang đòi hỏi công sức đáng kể để thu thập, quản lý vật liệu che phủ, trồng và chăm sóc cây xen, cũng như duy trì các công trình như tiểu bậc thang để đảm bảo hiệu quả canh tác.
Các thực hành canh tác bền vững (CSA) thường đi kèm với chi phí cao hơn do yêu cầu vật tư và thiết bị sản xuất đắt đỏ hơn, chẳng hạn như khi sử dụng kỹ thuật che phủ đất bằng tàn dư thực vật, chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật và công lao động tăng lên trong giai đoạn đầu do sâu bệnh phức tạp Ngoài ra, kỹ thuật trồng xen cần đầu tư thêm phân bón và thuốc trừ sâu cho các loại cây trồng xen, góp phần nâng cao hiệu quả sinh trưởng và phát triển của cây trồng trong mô hình CSA.
Nghiên cứu của Phạm Thị Sến và cộng tác viên năm 2015 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy ứng dụng thực hành sử dụng đất bền vững trong hệ thống canh tác, đặc biệt là trên đất dốc vùng Tây Bắc trồng ngô làm cây trồng chính Các kết quả nghiên cứu này được trình bày trong “Kỷ yếu nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, 2006 – 2010”, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ đất đai tại khu vực.
Việc triển khai các phương pháp trồng trọt, chăn nuôi và bảo vệ đất, nước thường cần vài năm để đạt được hiệu quả rõ ràng Việc áp dụng nhiều thực hành CSA trong thời gian đầu có thể gia tăng nguy cơ rủi ro, khiến giảm năng suất và thu nhập Chính vì vậy, người nông dân cần có sự kiên nhẫn và chuẩn bị kỹ lưỡng khi bắt đầu áp dụng các kỹ thuật này để đảm bảo thành công lâu dài.
II 2.2 Sự phức tạp và mức độ khó ứng dụng của kỹ thuật đối với nông dân
Nhiều gói kỹ thuật CSA gồm các công đoạn phức tạp, đòi hỏi người sử dụng có kinh nghiệm và trình độ nhất định, trong khi nhiều nông dân vẫn còn hạn chế về nhận thức và năng lực Việc xác định ngưỡng kinh tế của sâu bệnh hoặc chọn giống phù hợp như IPM hoặc ICM là thách thức lớn đối với nông dân Họ cũng gặp khó khăn trong việc tìm mua hạt giống hoặc cây trồng chất lượng cao Đặc biệt, trong hệ thống nông lâm kết hợp, việc lựa chọn loại và giống cây phù hợp, cũng như thiết kế hệ thống phù hợp với điều kiện đất đai, nước và khí hậu của từng khu vực, là những công việc rất phức tạp.
Để áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến như phương pháp SRI, cần có hạ tầng cơ sở đảm bảo, như ruộng canh tác phải bằng phẳng và có hệ thống tưới tiêu phù hợp Tuy nhiên, nhiều diện tích canh tác lúa ở vùng miền núi phía Bắc vẫn chưa đáp ứng được các điều kiện này, gây khó khăn trong việc chủ động điều tiết mực nước và tối ưu hoá năng suất.
II 2.3 Qui mô sản xuất nhỏ lẻ và khó khăn trong tiếp cận thị trường
Nhiều nông dân vùng miền núi phía Bắc gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vật tư nông nghiệp, trở thành rào cản chính trong việc ứng dụng tiến bộ KHKT và kỹ thuật CSA Việc tìm nguồn cung cấp phân nén để áp dụng kỹ thuật này còn hạn chế, làm giảm phạm vi sử dụng Ngoài ra, thiếu công cụ hỗ trợ như dụng cụ tra hạt dưới lớp phủ để thực hiện kỹ thuật che phủ và làm đất tối thiểu cũng khiến việc mở rộng áp dụng các kỹ thuật này gặp nhiều khó khăn.
Khó khăn trong tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm là một trở ngại lớn trong việc nhân rộng áp dụng kỹ thuật CSA Diện tích đất sản xuất nhỏ lẻ và phân mảnh gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng mở rộng sản phẩm, làm giảm hiệu quả và khả năng cạnh tranh trên thị trường Việc gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm làm hạn chế sự phát triển bền vững của các mô hình nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật CSA.
24 Phạm Thị Sến, 2015 Tổng quan về nông lâm kết hợp ở Việt Nam Báo cáo trình bày tại hội thảo
“Agroforestry: the way forward”, 2015, New Delhi, India
In 2017, Phạm Thị Sến highlighted how Moc Chau vegetable farmers utilize data-driven decision-making, traceability, and quality assurance to improve their farming practices The report emphasizes the importance of these techniques in enabling farmers to access higher-value markets and enhance product quality Presented at the annual CrowFord Fund conference in Australia, the study underscores the role of technology in modernizing agriculture and increasing farmers' competitiveness in the global market.
26 sản của từng nông hộ cũng rất nhỏ, và từng nông hộ nhỏ lẻ không thể tiếp cận những thị trường lớn để bán sản phẩm 24
Hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin của các nông hộ là một rào cản lớn trong phát triển nông nghiệp bền vững Hiện nay, nông dân chủ yếu phụ thuộc vào thương lái và người thu gom trung gian, không có nhiều cơ hội hoặc khả năng thương thảo về giá cả và hình thức mua bán vật tư, nông sản Ngoài ra, kỹ thuật sản xuất và các thực hành CSA còn thiếu các nguồn thông tin dễ hiểu, dễ tiếp cận, gây khó khăn cho việc áp dụng các phương pháp phát triển bền vững của nông dân MNPB.
II.2.4 Các vấn đề liên quan tới quản lý đất đai, tài sản chung của cộng đồng và một số vấn đề khác
Một số giải pháp khắc phục rào cản để mở rộng ứng dụng thực hành CSA
II.3.1 Tăng cườ ng liên kết giữa các bên liên quan và ứng dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia
Liên kết giữa các bên như nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay, các mối liên kết này vẫn chưa được xây dựng và phát triển một cách hiệu quả Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các mối liên kết sẽ giúp vượt qua các rào cản, thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nông nghiệp Đây là bước cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam.
Phát triển liên kết nông dân giúp khắc phục những khó khăn về quy mô nhỏ lẻ của các hộ nông dân bằng các hoạt động tập thể trong các tổ, nhóm hoặc hợp tác xã, như lập kế hoạch mua vật tư, tiếp cận dịch vụ khuyến nông, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Việc này giúp các hộ nhỏ có thể sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường và dễ dàng bán sản phẩm hơn Tham gia các tổ chức cộng đồng còn tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân thảo luận, đồng thuận trong quản lý tài sản chung và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt trong việc mở rộng ứng dụng thực hành CSA như ICM, IPM, SRI, NLKH Chi tiết về phương pháp phát triển mối liên kết nông dân-nông dân sẽ được đề cập phần V của tài liệu.
Phát triển liên kết chuỗi giá trị giữa các bên liên quan là yếu tố then chốt để thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ nông sản hiệu quả Việc xây dựng mối liên kết vững chắc giúp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và thúc đẩy bền vững trong ngành nông nghiệp Phần V của tài liệu sẽ thảo luận chi tiết về vai trò của liên kết chuỗi giá trị cũng như các phương pháp thiết lập và phát triển mối liên kết này để đảm bảo lợi ích cho toàn bộ chuỗi cung ứng.
Chúng tôi đề xuất xây dựng và thực thi cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân ứng dụng kỹ thuật sản xuất nông nghiệp bền vững, bao gồm các thực hành CSA Các hình thức hỗ trợ có thể bao gồm ưu đãi vay vốn, ưu đãi tiếp cận dịch vụ khuyến nông, thúc đẩy sản xuất và cung ứng các công cụ, thiết bị nông nghiệp cần thiết, cải thiện cơ sở hạ tầng, đồng thời phát triển liên kết chuỗi giá trị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và bền vững cho ngành nông nghiệp.
Sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong xây dựng các kế hoạch, chương trình và đề tài nghiên cứu nông nghiệp nông thôn là giải pháp quan trọng để vượt qua rào cản và thúc đẩy ứng dụng các kỹ thuật CSA Sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là nông dân, trong quá trình xây dựng kế hoạch giúp đảm bảo các kế hoạch phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương Ngoài ra, đóng góp của nông dân vào phát triển và thực hiện các ý tưởng nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các dự án nông nghiệp.
In her 2017 report, Phạm Thị Sến highlights how Moc Chau vegetable farmers leverage data-assisted decision-making, traceability, and quality assurance to improve their productivity and product standards She emphasizes that these innovative practices enable farmers to access higher-value markets, thereby increasing their income and market competitiveness The report was presented at the annual conference of the CrowFord Fund in Australia, showcasing the significance of technology adoption in agricultural development.
Kết hợp kiến thức bản địa và kinh nghiệm của nông dân với tri thức khoa học mới giúp các nhà khoa học phát triển kỹ thuật phù hợp để nông dân áp dụng trong sản xuất thực tiễn Sự tham gia của các bên trong xác định nhu cầu và hoạch định chính sách đảm bảo các chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn, qua đó thúc đẩy việc thực thi hiệu quả Phương pháp có sự tham gia được đề cập chi tiết tại phần IV của tài liệu này, nhằm nâng cao hiệu quả và phù hợp của các chính sách và kỹ thuật nông nghiệp.
Thảo luận giữa các bên liên quan để tìm giải pháp khắc phục rào cản ứng dụng TBKT
(ảnh: Yên Bái, 10/2014; Đỗ Trọng Hiếu)
II.3.2 Tăng cường vai trò và phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống văn hóa của các cộng đồng nông dân
Từ ngàn xưa, tính cộng đồng đã thể hiện rõ nét trong các làng quê Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự đoàn kết và đồng thuận trong quản lý tài sản chung Trong quá trình nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là các thực hành CSA, việc quan tâm đến giá trị truyền thống văn hóa và tập quán địa phương có ý nghĩa quan trọng để nâng cao khả năng ứng dụng rộng rãi và hiệu quả Nhiều tiến bộ kỹ thuật chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được áp dụng trên quy mô lớn, trong khi các thực hành CSA đòi hỏi sự thống nhất trong việc quản lý tài sản, nguồn lực chung như rừng cộng đồng, nguồn nước, hệ thống giao thông và thủy lợi, cũng như sự đồng thuận trong cải thiện hạ tầng cơ sở và hạ tầng tiếp nhận thông tin.
Việc lồng ghép và khai thác các ưu điểm văn hóa cộng đồng vào quá trình xây dựng kế hoạch, chính sách và hoạt động nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật sẽ nâng cao khả năng hiểu biết của nông dân về kỹ thuật, củng cố mối liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng, góp phần nâng cao tỷ lệ tiếp nhận và ứng dụng kỹ thuật tại cấp độ cá nhân và tập thể, thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng nông thôn.
II.3.3 Thực hiện các chiến lược truyền thông và chuyển giao thích hợp
Nông dân MNPB hầu như chưa chủ động tìm kiếm thông tin về kỹ thuật sản xuất và chủ yếu tiếp nhận thông tin một cách thụ động từ cán bộ khuyến nông địa phương, phát thanh, truyền hình, đặc biệt là hệ thống loa phát thanh thôn, bản Tuy nhiên, hệ thống khuyến nông chưa đủ nguồn lực để phổ biến thông tin và chuyển giao kỹ thuật hiệu quả, trong khi hệ thống truyền thanh cơ sở còn chưa phát triển đầy đủ Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thường diễn ra qua tập huấn, hội nghị đầu bờ, tham quan học tập và chia sẻ kinh nghiệm, nhưng do hạn chế về nguồn lực nên các hoạt động này không thường xuyên, gây khó khăn cho nông dân trong việc hiểu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Phương pháp tập huấn và tổ chức các buổi thăm quan chưa phù hợp với trình độ và khả năng tiếp thu của nông dân MNPB Thêm vào đó, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật và video thường bằng tiếng quốc ngữ, gây khó hiểu đối với nhiều nhóm dân tộc thiểu số Để mở rộng thành công các thực hành CSA tại MNPB, cần xây dựng các chiến lược truyền thông và chuyển giao phù hợp, hiệu quả.
Nâng cao và mở rộng việc sử dụng các kênh truyền thông như hệ thống phát thanh thôn, bản và truyền hình địa phương giúp lan tỏa thông tin hiệu quả đến cộng đồng Đồng thời, với sự phát triển mạnh mẽ của internet và các mạng điện thoại di động tại MNPB, tận dụng các mạng liên lạc này là giải pháp tối ưu để cung cấp thông tin về thị trường, tiến bộ khoa học và kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp tới người dân một cách nhanh chóng và chính xác.
Tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến nông địa phương để thực hiện các phương pháp và chiến lược chuyển giao kỹ thuật phù hợp với từng cộng đồng nông dân là rất cần thiết Những phương pháp và chiến lược này phải giải quyết các rào cản về văn hóa, trình độ hạn chế, cũng như các thói quen và tập quán của nông dân để nâng cao hiệu quả chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp.
Tăng cường công tác tiếp thị và truyền thông về nông sản từ các hệ thống CSA là hoạt động giúp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và cộng đồng về nguồn gốc, xuất xứ cũng như tính an toàn của thực phẩm Việc này góp phần thúc đẩy tiêu thụ nông sản sạch, bền vững và xây dựng lòng tin của khách hàng vào các sản phẩm nông nghiệp địa phương Đồng thời, truyền thông hiệu quả giúp quảng bá các hệ thống CSA, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng an toàn, chất lượng.
Nghiên cứu của Đỗ Trọng Hiếu, Lê Khải Hoàn, Lê Viết San, Lưu Ngọc Quyến và Phạm Thị Sến (2015) đề cập đến việc phát triển các làng ứng phó thông minh với biến đổi khí hậu tại khu vực miền núi phía Bắc Báo cáo này, nằm trong Kỷ yếu nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (2010-2015), nhằm thúc đẩy các giải pháp thích ứng bền vững giúp cộng đồng địa phương đối phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Các sản phẩm này có 30 đặc điểm chính, giúp hiểu rõ tác động của thực hành CSA đối với bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu Việc phát triển liên kết chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nông dân dễ dàng tiêu thụ sản phẩm, từ đó khuyến khích họ mở rộng áp dụng thực hành CSA Chi tiết về tiếp thị và xây dựng mối liên kết trong chuỗi giá trị được thảo luận kỹ hơn tại phần VI của tài liệu này Đọc thêm để có cái nhìn toàn diện hơn về các chiến lược phát triển bền vững trong nông nghiệp.