Bài viết này nêu lên có nhiều đề tài, dự án về phát triển và thúc đẩy ứng dụng các phương thức sản xuất nông nghiệp bền vững, thân thiện môi trường và ứng phó BĐKH. Đặc biệt, các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH (CSA) được phát triển nhằm thích ứng với BĐKH thông qua việc cải thiện năng suất một cách bền vững, tăng cường khả năng chống chịu, giảm phát thải khí nhà kính (KNK). Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA) tại Việt Nam
Đỗ Thị Mỹ Lương (1) , Mai Thị Huyền (1) , Nguyễn An Thịnh (2) , Ngô Xuân Nam (3)
(1) Viện Khoa học Môi trường và Biến đổi khí hậu,
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
(2) Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN (3) Văn phòng SPS Việt Nam, Bộ NN&PTNT
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và các hiện tượng thời tiết cực đoan Theo kết quả đánh giá chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu (global climate risk index) năm 2021
về những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoạn giai đoạn 2000-2019, Việt Nam xếp thứ 38 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2019 nhưng xếp thứ 13 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI) khi xét cả giai đoạn 2000-2019 (Eckstein và nnk., 2021) Những biểu hiện của BĐKH đã gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống của người dân Trong đó, ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nông - lâm kết hợp ) chịu rất nhiều tổn thất, thiệt hại do BĐKH Cụ thể, BĐKH làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng khi các hiện tượng mưa đá, hạn hạn, lũ lụt, diễn ra với tần suất và cường độ ngày càng lớn Sự sinh trưởng, phát triển của gia súc, gia cầm cũng bị ảnh hưởng lớn từ hiện tượng rét đậm, rét hại hoặc nắng nóng kéo dài Tại các khu vực nuôi trồng thủy sản phụ thuộc chính vào nguồn nước, nước biển dâng và xâm nhập mặn gây ra rất nhiều khó khăn
Các thách thức từ BĐKH đòi hỏi ngành nông nghiệp Việt Nam phải
có những hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện tự nhiên và hoạt động
sinh kế của từng vùng, từng địa phương, đảm bảo an ninh lương thực và
phát triển nông nghiệp bền vững Hiểu được việc này, Chính phủ Việt Nam
đã phê duyệt và cho thực hiện một số chính sách liên quan, đặc biệt là Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Thích ứng với Biến đổi Khí hậu và
Trang 2Nước Biển Dâng, Chiến lược Tăng trưởng Xanh trong giai đoạn
2011-2020, tầm nhìn 2050 Trên thực tế, có nhiều đề tài, dự án về phát triển và thúc đẩy ứng dụng các phương thức sản xuất nông nghiệp bền vững, thân thiện môi trường và ứng phó BĐKH Đặc biệt, các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH (CSA) được phát triển nhằm thích ứng với BĐKH thông qua việc cải thiện năng suất một cách bền vững, tăng cường khả năng chống chịu, giảm phát thải khí nhà kính (KNK)
3 CÁC MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (CSA) TẠI VIỆT NAM
3.1 Mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA) tại Việt Nam
Ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của các yếu tố khí hậu như: tình trạng hạn hán và thiếu nước gia tăng, nước biển dâng và xâm nhập mặn diễn ra thường xuyên hơn, khí hậu nóng lên, cường độ mưa và lũ lụt nghiêm trọng hơn, đồng thời dựa theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã được xây dựng và dự báo về những ảnh hưởng của nó gây ra cũng như thách thức ngày càng gia tăng thì các vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu càng được chú trọng hơn, đặc biệt đối với các khu vực dễ bị tổn thương
Đối với ngành nông nghiệp, một trong những động lực chính trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Đặc biệt, trong bối cảnh khó khăn
do ảnh hưởng của Covid-19 trong năm 2020, sản xuất nông, lâm, thủy sản vẫn đảm bảo cung cấp hàng hóa cho thị trường nội địa, duy trì hoạt động xuất khẩu Hiện tại, ngành nông nghiệp đóng góp 7,9% tổng kim ngạch xuất khẩu và 13,5% tổng GDP quốc gia năm 2020 (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2020; Bộ Công Thương, 2021) và giúp Việt Nam trở thành nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về một số mặt hàng nông sản bao gồm 09 mặt hàng chủ lực sau: gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, chè, rau quả, sắn, cao su, thủy sản Đồng thời, Việt Nam cũng trở thành quốc gia có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực thế giới do tính chính trị của mặt hàng này
Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp cũng đi kèm với thiệt hại về môi trường, như phá rừng, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng
Trang 3sinh học, suy thoái đất và ô nhiễm nước (Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2013) Mặt khác, ngành nông nghiệp là nguồn phát thải khí nhà kính lớn thứ hai sau ngành năng lượng ở Việt Nam Do đó, những hậu quả này là thách thức nghiêm trọng đối với Việt Nam trên con đường đạt được Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) vào năm 2030
Hình 1 Điểm nóng môi trường nông nghiệp Việt Nam
(Nguồn: Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2013)
Ba trong số 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Việt Nam liên quan đến nông nghiệp - vấn đề nghèo đói - biến đổi khí hậu bao
gồm: (1) Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi; (2) Xóa đói, bảo đảm
an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững; (3) Ứng phó kịp thời, hiệu quả với biến đổi khí hậu và thiên tai (Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, 2015) Việc
áp dụng các mô hình CSA được coi là một trong những chiến lược hay giải pháp nhằm hướng đến sự phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Theo thông tin thống kê của trang thông tin cơ sở dữ liệu thực hành nông nghiệp thông minh ứng phó với BĐKH (CSA), hiện nay Việt Nam có tổng số 935 mô hình CSA Trong đó số lượng mô hình CSA theo từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, nông - lâm - thủy sản kết hợp lần lượt là: 736; 120; 12; 18; 49 Các mô hình này phân bố theo 07 vùng sinh thái của Việt Nam cụ thể như sau: Vùng trung du và miền núi phía Bắc có
170 mô hình; Vùng đồng bằng sông Hồng có 160 mô hình; Vùng Bắc Trung
Bộ có 94 mô hình; và duyên hải Nam Trung Bộ có 58 mô hình; Vùng Tây Nguyên có 154 mô hình; Vùng Đông Nam Bộ có 70 mô hình; Vùng đồng bằng sông Cửu Long có 229 mô hình
Trang 4Một trong những CSA phổ biến nhất là mô hình liên quan đến quản
lý nước và tưới tiêu thông minh được áp dụng trong hầu hết các hệ thống sản xuất cây trồng như cà phê, chè, cam, điều, ngô, lúa và tiêu Các mô hình này bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật tưới tiết kiệm như tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun mưa, biện pháp giữ ẩm bằng che phủ đất trong trồng sắn, tưới khô ẩm xen kẽ (AWD); Canh tác lúa cải tiến (SRI)); kỹ thuật tiết kiệm đầu vào (1P5G, 3G3T) trong canh tác lúa, kết hợp vườn cây - ao cá trong trồng cam, và sử dụng hố chứa chất mùn cho trồng cao su (CIAT; World Bank, 2017)
Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (The Vietnam Irrigated Agricultural Improvement Project-VIAIP) (WB7) được tài trợ bởi Hiệp hội Phát triển Quốc tế (International Development Association - IDA - WB) và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam (GOVN) Dự án do Bộ Nông Nghiệp
và PTNT chủ trì thực hiện tại 7 tỉnh gồm Hà Giang, Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Nam trong thời gian từ năm 2014
- 2020 với tổng mức đầu tư là 210 triệu USD Mục tiêu của dự án là cải thiện sản xuất nông nghiệp có tưới tại một số tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp và bền vững thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở cải thiện hệ thống tưới tiêu và thể chế, chính sách quản lý thủy lợi, theo định hướng Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Ngoài ra, đối với lĩnh vực trồng trọt, còn có các mô hình khác có thể
kể tới như: Áp dụng các giống cây trồng có khả năng chống chịu với điều kiện hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh; Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM); Trồng xen canh các loại cây trồng; Quản lý đất dốc bền vững; Chuyển đổi mục đích
sử dụng đất;… cũng giúp nông dân đa dạng hóa thu nhập, nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản các thực hành CSA phổ biến gồm: tích hợp công nghệ khí sinh học (biogas) trong chăn nuôi lợn nhằm quản lý phân chuồng hiệu quả; cải thiện quản lý thức ăn gia súc như sử dụng nguồn thức ăn chất lượng cao, sẵn có tại địa phương; Nuôi thủy sản xen canh; Nuôi trồng nhuyễn thể vỏ cứng;…
Trang 5Ngoài ra, để giải quyết vấn đề xâm nhập mặn tại những vùng ven biển, nông dân có thể áp dụng một số biện pháp như nuôi tôm hoặc mô hình kết hợp tôm-lúa, tôm-cá rô phi trong ruộng lúa hoặc tôm- rừng trong hệ thống rừng ngập mặn nhằm tăng hiệu quả sản xuất;… (CIAT; World Bank, 2017)
Bảng 1 Một số mô hình CSA tiềm năng tại Việt Nam
Trồng trọt 1 Thâm canh bền vững:
- Quản lý dịch hại tổng hợp IPM (Integrated pest management)
- Quản lý cây trồng tổng hợp ICM (quản lý cây trồng tổng hợp - Integrated Crop Management)
- Ứng dụng 3 giảm 3 tăng (3G3T) cho lúa
- Ứng dụng 1 phải 5 giảm (1P5G) cho lúa
- Ứng dụng hệ thống thâm canh lúa (SRI - System of rice intensification )
- Bón phân nén dúi sâu (DPF - Deep fertilizer placement) cho lúa
- Tưới ướt khô xen kẽ (alternative wet-drying irrigation) cho lúa
- Gieo cấy lúa hàng rộng hàng hẹp (tận dụng hiệu ứng hàng biên trong sản xuất lúa)
2 Cánh đồng mẫu lớn
- Sản xuất lúa theo cánh đồng mẫu lớn (CĐML)
- Cánh đồng mẫu lớn luân canh 2 vụ lúa và 1 vụ rau màu vụ đông
3 Sản xuất sản phẩm an toàn, chất lượng
- Sản xuất theo VietGAP
- Sản xuất hữu cơ
4 Xử lý/quay vòng phế phụ phẩm và sinh khối
- Xử lý nhanh rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh để làm phân hữu cơ bón lúa vụ tiếp theo
- Sản xuất và sử dụng biochar từ rơm, rạ để bón cho lúa
- Sử dụng rơm, rạ làm giá thể để nuôi trồng nấm
- Sử dụng phế phụ phẩm và rác thải nông nghiệp làm phân hữu cơ cho cây trồng
5 Sử dụng giống chống chịu điều kiện khó khăn, chống chịu bệnh
- Sử dụng giống lúa chịu mặn cho các vùng đất lúa nhiễm mặn
- Sử dụng các giống lúa chịu hạn cho các ruộng khó khăn về nước tưới
- Sử dụng các giống lúa chịu ngập
- Sử dụng các giống lúa, ngô chống đổ
- Sử dụng các giống ngắn ngày
- Sử dụng các giống cây trồng địa phương
6 Quản lý đất dốc bền vững
- Trồng xen các cây họ đậu với cây lương thực ngắn ngày (chủ yếu là ngô
và sắn) trên đất dốc
- Nông nghiệp bảo tồn (che phủ bề mặt đất đồng thời ứng dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu) cho ngô trên đất dốc
- Làm tiểu bậc thang để trồng cây (ngô, sắn, chè, cà phê, dứa) trên đất dốc
- Canh tác sắn và ngô bền vững trên đất dốc sử dụng kỹ thuật trồng xen băng cỏ chăn nuôi hoặc cây phân xanh theo đường đồng mức
- Làm băng chắn theo đường đồng mức sử dụng thân cành cây sắn, ngô vụ
Trang 6Lĩnh vực Mô hình CSA tiềm năng
trước
- Tạo đường ngăn bằng đá hoặc cây xanh
7 Luân canh, xen canh với lúa nước
- Xen lúa - cá trên chân ruộng lúa nước (nuôi cá trong ruộng cùng với lúa)
- Luân canh lúa- cá (nuôi cá trong ruộng sau khi lúa đã được thu hoạch)
- Luân canh tôm- lúa
- Xen canh lúa - vịt hoặc lúa - vịt - cá
- Luân canh lúa-vịt
8 Xen canh (khác lúa)
- Mô hình đậu đỗ xen mía
- Trồng cây ngắn ngày xen trong cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm
- Trồng xen cây ăn quả dài ngày và cây công nghiệp dài ngày
- Mô hình trồng cỏ chăn nuôi xen trong vườn cây ăn quả dài ngày
9 Gối vụ, tăng vụ, thay đổi lịch mùa vụ
- Trồng cây vụ đông bằng phương pháp làm đất tối thiểu có phủ rơm rạ (thường sau 2 vụ lúa ở các tỉnh ĐBSH)
- Trồng ngô đông trên đất hai lúa theo phương pháp ngô bầu
- Thâm canh 4 vụ trên đất 2 lúa
- Thay đổi lịch mùa vụ: Gieo trồng sớm lên hay muộn đi để tránh các rủi ro
về thời tiết
- Cây vụ 2 trên đất dốc ở Tây Bắc trên đất một vụ ngô
- Xen canh, tăng vụ trên đất bãi ven sông ở Vĩnh Phúc
- Gối vụ cây họ đậu sau 1 vụ ngô trên đất dốc ở Tây Bắc
10 Công nghệ tưới
- Tưới phun sương hoặc phun mưa
- Tưới phun mưa cải tiến cho cà phê
- Tưới nhỏ giọt
- Tưới rãnh có khống chế
- Tưới tràn có khống chế
- Thu hồi nước từ ruộng lúa để tưới cho rau màu vào các thời kỳ khô hạn (xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà, tình Hà Tĩnh)
- Trồng rau màu trên đất cát ven biển ở Hà Tĩnh ứng dụng tưới tiết kiệm
11 Chuyển đổi sử dụng đất
- Chuyển đổi sử dụng đất lúa khó khăn (khô hạn, nghèo dinh dưỡng) sang trồng cây thức ăn gia súc, đậu đỗ, ngô, rau
- Chuyển đổi sử dụng đất lúa nước sang các cây rau màu và các cây trồng cạn khác có giá trị kinh tế cao hơn
- Chuyển đổi đất trồng lúa nhiễm mặn kém hiệu quả sang trồng cỏ nuôi dê sinh sản
- Chuyển đổi đất lúa, ngô, sắn nương sang các cây trồng khác
Chăn nuôi - Chăn nuôi lợn qui mô nông hộ kết hợp xử lý chất thải thành khí đốt theo
mô hình bể biogas cải tiến
- Chăn nuôi lợn, gà sử dụng tấm đệm lót sinh học
- Chăn nuôi trâu bò sử dụng chế độ dinh dưỡng cân đối để giảm phát thải KNK
- Chăn nuôi bò sữa áp dụng VietGAP
- Sử dụng giống địa phương (gà, lợn, trâu, bò) kết hợp nuôi giun quế Thủy sản - Nuôi thủy sản xen canh
Trang 7Lĩnh vực Mô hình CSA tiềm năng
- Nuôi trồng nhuyễn thể vỏ cứng
Nông -
Lâm -
Thủy sản
kết hợp
- Trồng xen cỏ chăn nuôi trong rừng trồng để làm thức ăn gia súc
- Trồng xen cây thuốc, cây nông nghiệp trong rừng trồng, rừng khoanh nuôi
- Cây ăn quả và cây lâm nghiệp (mô hình SALT4)
- Thâm canh bền vững vườn tạp (vườn nhà hoặc vườn đồi)
- Vườn - ao - chuồng (VAC)
- Vườn - ao - chuồng - rừng (VACR)
- Rừng - nương - vườn
- Sử dụng các loại cây che bóng, cây chắn gió cát, cây làm trụ đa dụng
- Thủy sản và rừng ngập mặn
- Lúa, cá và rừng tràm
- Thủy sản và cây trồng theo mô hình liếp - mương
- Chăn nuôi dưới tán rừng trồng hoặc rừng khoanh nuôi
(Nguồn: http://csa.cuctrongtrot.gov.vn)
Tính đến nay, hầu hết các công nghệ CSA đều có tỷ lệ áp dụng ở mức thấp hoặc trung bình (<30% hoặc từ 30-60% số nông dân trong hệ thống sản xuất) Một số mô hình CSA trong canh tác lúa có tỷ lệ áp dụng cao (> 60%) bao gồm canh tác tôm-lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (phổ biến đối với hộ nông dân quy mô nhỏ) và sử dụng các giống chịu biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Hồng và vùng núi phía Bắc Các đối tượng áp dụng các mô hình CSA này chủ yếu là nông dân sản xuất quy mô vừa và nhỏ Trong khi đó, hộ nông dân quy mô lớn sử dụng công nghệ CSA thường phổ biến hơn trong chăn nuôi lợn (ở Miền Trung, miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng), sản xuất cà phê (Tây Nguyên), cao su (Tây Bắc, miền Trung và Đông Nam Bộ), lúa (sông Hồng hoặc đồng bằng sông Cửu Long) và tiêu (Tây Nguyên) (CIAT; World Bank, 2017)
2.2 Những rào cản và giải pháp khắc phục trong áp dụng các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA)
2.2.1 Những rào cản trong áp dụng các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA)
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Sến và cộng sự (2017), các rào cản chính trong việc áp dụng các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng
với biến đổi khí hậu (CSA) bao gồm (1) Chi phí và các rủi ro; (2) Sự phức tạp và khó ứng dụng của kỹ thuật; (3) Sở hữu đất đai; (4) Văn hóa, tập quán và (5) Hạn chế về tiếp cận thông tin, thị trường và các dịch vụ khuyến nông
Trang 8- Chi phí và các rủi ro: Thực hành CSA có thể yêu cầu tăng đầu tư, nhất là về công lao động, trong thời gian đầu ứng dụng;
- Sự phức tạp và khó ứng dụng của kỹ thuật: Nhiều kỹ thuật phức tạp, yêu cầu nông dân phải có trình độ và kinh nghiệm nhất định để có thể hiểu
và ứng dụng được hiệu quả;
- Sở hữu đất đai: Việc không có quyền sử dụng đất lâu dài có thế ảnh hưởng tới quyết định của nông dân liên quan tới ứng dụng kỹ thuật, đặc biệt là những kỹ thuật liên quan quản lý đất và nguồn nước, đòi hỏi phải đầu tư nhiều và liên tục
- Văn hóa, tập quán: Một số cộng đồng có các qui ước, tập tục có thể cản trở mở rộng ứng dụng kỹ thuật;
- Hạn chế về tiếp cận thông tin, thị trường và các dịch vụ khuyến nông: Nông dân không có khả năng tiếp cận thông tin và tìm kiếm sự giúp
đỡ để có thể hiểu và ứng dụng kỹ thuật được hiệu quả
Ngoài những rào cản trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy vấn đề về cơ chế chính sách cũng rất đáng quan tâm Các cơ chế liên quan đến áp dụng dụng các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu chưa rõ ràng, thiếu các quy hoạch vùng chuyên canh, sản xuất theo quy mô lớn và cơ chế hỗ trợ áp dụng mô hình nông nghiệp thông minh còn gây khó cho người nông dân muốn tiếp cận Đồng thời, quá trình hợp tác quốc tế cũng như sự tham gia của các khối kinh tế tư nhân vào sản xuất nông nghiệp thông qua các quan hệ đối tác công - tư (PPP) diễn ra còn chậm, chưa đạt hiệu quả cao
2.2.2 Đề xuất một số giải pháp khắc phục
Từ những rào cản được đề cập ở trên, để mở rộng ứng dụng kỹ thuật
CSA cần có những điều kiện như sau:
- Các cơ chế, chính sách cụ thể, tập trung khuyến khích mở rộng mô hình CSA
- Nông dân hiểu rõ về kỹ thuật
Trang 9- Kỹ thuật đủ dễ với trình độ của nông dân để họ có thể hiểu và ứng dụng
- Nông dân có đủ tiền để mua đủ vật tư, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu cần thiết
- Nông dân biết nơi bán và có thể tiếp cận thị trường để mua các vật
tư, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu cần thiết
- Nông dân bán được sản phẩm, có thu nhập và lợi nhuận tăng Một số giải pháp được đưa ra như sau:
- Lựa chọn, hoàn thiện và chuyển giao các gói kỹ thuật phù hợp cho nông dân
- Tạo môi trường chính sách và huy động vốn hỗ trợ nông dân ứng dụng thực hành CSA
- Hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn tài chính, tiếp cận thông tin và tiếp cận thị trường
- Thúc đẩy các hoạt động tập thể ở cấp cộng đồng
- Cải thiện việc tiếp cận thông tin và liên kết thị trường
2.3 Cơ sở dữ liệu về các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA)
Hệ thống cơ sở dữ liệu sẽ là công cụ hỗ trợ các thực hành CSA Một
số dữ liệu về CSA như khái niệm cơ bản, qua các điểm đầu vào đến CSA,
kế hoạch CSA, tài chính CSA, thư viện tài nguyên, ấn phẩm, các nghiên cứu điển hình,… đã được thống kê và cung cấp trên một số trang web trên thế giới như: Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) (http://www.fao.org/climate-smart-agriculture/en); Hướng dẫn CSA (https://csa.guide); Chương trình Nghiên cứu CGIAR về Biến đổi Khí hậu Nông nghiệp và An ninh Lương thực (CCAFS) (https://ccafs.cgiar.org); Ngân hàng Thế giới (http://www.worldbank.org/en/topic/agriculture); Liên minh toàn cầu về nông nghiệp thông minh với khí hậu (GACSA) (http://www.fao.org/gacsa/en); Đặc biệt, trang web của CGIAR cung cấp
dữ liệu về Hồ sơ quốc gia về Nông nghiệp Thông minh với Khí hậu (CSA),
Trang 10trong đó bao gồm Việt Nam Hồ sơ này cung cấp cái nhìn tổng quan về những thách thức nông nghiệp đối với từng quốc gia và cách CSA có thể giúp họ thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu Hồ sơ CSA bao gồm thông tin cần thiết để có cái nhìn tổng quan nhanh về bối cảnh, các can thiệp CSA được quan tâm cao, các cơ hội và hạn chế để thực hiện CSA Đường cơ sở bao gồm phân tích các yếu tố nông nghiệp, kinh tế, thể chế, chính sách và tài chính bối cảnh liên quan đến CSA, cũng như các cơ hội
và rào cản đối với việc áp dụng các công nghệ và thực hành CSA hiện có
và triển vọng
Ngoài ra, hiện nay, ở Việt Nam đã có một số website thông tin về các thực hành nông nghiệp thông minh ứng phó với BĐKH (CSA) gồm: http://csa.cuctrongtrot.gov.vn, http://csa.mard.gov.vn, http://occa.mard.gov.vn Trong đó, trang cơ sở dữ liệu thực hành nông nghiệp thông minh ứng phó với BĐKH (CSA) (http://csa.mard.gov.vn) là trang web chính thức tổng hợp tất cả các dữ liệu về các thực hành CSA theo
7 vùng kinh tế sinh thái nông nghiệp của cả nước (Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ) đã được các chuyên gia thẩm định Dữ liệu này là cơ sở cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận, xem xét ra quyết định đầu tư phát triển, nhân rộng các thực hành CSA phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và mục đích kinh doanh của mình
Mặc dù các trang web này đã cung cấp những thông tin căn bản về CSA tại Việt Nam, tuy nhiên, một số hạn chế mà các trang thông tin này còn gặp phải như: mới chỉ cung cấp các dữ liệu về các mô hình phổ biến; chưa cập nhật đầy đủ số lượng các mô hình CSA hiện có; nhiều tab thông tin thiếu hoặc không có dữ liệu;… Mặt khác, đối với riêng các tỉnh thành của Việt Nam, hiện chưa có tỉnh thành nào có trang web cơ sở dữ liệu về CSA
3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN VÀ NHÂN RỘNG CÁC MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (CSA)
Kể từ khi Việt Nam tham gia hàng loạt Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã mở ra nhiều cơ hội và thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp