MỞ ĐẦU Là một quốc gia đa dân tộc với nhiều dân tộc thiểu số. Vì vậy, trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam bằng mọi thủ đoạn như: lôi kéo, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc; khai thác những sai sót trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở một số cơ sở để xuyên tạc, vu khống Nhà nước ta vi phạm nhân quyền. Lợi dụng các phương tiện truyền thông, các diễn đàn quốc tế và một số tổ chức quốc tế để thông tin sai lệch về tình hình dân tộc, bôi nhọ, làm sai lệch chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Lôi kéo, mua chuộc, nuôi dưỡng và sử dụng các phần tử cực đoan, ly khai trong và ngoài nước để chống phá, gây mất ổn định đất nước. Tìm cách gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, nhân quyền… Vì vậy, để tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trước hết đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải có cái nhìn đúng đắn những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc cũng như có những chính sách về dân tộc một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện nay để có những biện pháp phòng chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm lật đổ và tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ nghĩa xã hội ở nươc ta trong giai đoạn hiện nay. Thực trạng, giải pháp thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Trang 1MỞ ĐẦU
Là một quốc gia đa dân tộc với nhiều dân tộc thiểu số Vì vậy, trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam bằng mọi thủ đoạn như: lôi kéo, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc; khai thác những sai sót trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở một số
cơ sở để xuyên tạc, vu khống Nhà nước ta vi phạm nhân quyền Lợi dụng các phương tiện truyền thông, các diễn đàn quốc tế và một số tổ chức quốc tế để thông tin sai lệch về tình hình dân tộc, bôi nhọ, làm sai lệch chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế Lôi kéo, mua chuộc, nuôi dưỡng và sử dụng các phần tử cực đoan, ly khai trong và ngoài nước để chống phá, gây mất ổn định đất nước Tìm cách gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, nhân quyền…
Vì vậy, để tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trước hết đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải
có cái nhìn đúng đắn những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc cũng như có những chính sách về dân tộc một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện nay để có những biện pháp phòng chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm lật đổ và tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ nghĩa xã hội ở nươc ta trong giai đoạn hiện nay
Thực trạng, giải pháp thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Trang 2NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1 Khái niệm Dân tộc và Chính sách dân tộc
1.1 Khái niệm Dân tộc
Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa như sau:
- Nghĩa hẹp: Dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ
và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có những nét đặc thù về văn hóa; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc, thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của
dân cư cộng đồng đó Theo nghĩa này, dân tộc là một bộ phận của quốc gia, là dân tộc - tộc người.
- Nghĩa rộng: Dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung
và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này, dân tộc là dân cư của một quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc
1.2 Khái niệm Chính sách dân tộc
“Chính sách dân tộc là một hệ thống những quan điểm chính sách của một giai cấp, đại diện là chính đảng và nhà nước để giải quyết vấn đề dân tộc
và mối quan hệ giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.”
2 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam
Là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 86% dân số, 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm gần 14% dân số nên ở Việt Nam dân tộc có một số đặc điểm sau: Chênh lệch về dân cư, dân số, tộc người; Các dân tộc có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất; Các dân tộc sống đan xen với nhau; Giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch về trình độ phát triển; Các dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam
3 Đặc điểm của Chính sách dân tộc ở Việt Nam
Chính sách dân tộc ở Việt Nam là cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc, tác động trực tiếp đến việc giải
Trang 3quyết mối quan hệ dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Xét về mục tiêu, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhằm khai thác mọi tiều năng đất nước để phục vụ đời sống nhân dân các dân tộc, thực hiện từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch, xóa đói giảm nghèo, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện nguyên tắc cơ bản: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển Các nội dung đó
có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hợp thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
4 Nội dung của Chính sách dân tộc ở Việt Nam
Chính sách dân tộc có các nội dung cụ thể phản ánh các yêu cầu, nhiệm
vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh-quốc phòng
4.1 Về chính trị: Nội dung cơ bản là thực hiện chủ trương của Đảng về bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc Chính sách dân tộc góp phần nâng cao tính tích cực chính trị của công dân; nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số về tầm quan trọng của vấn đề dân tọc, đoàn kết dân tộc, thống nhất mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
4.2 Về kinh tế: Là các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền
núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng phát triển, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân tộc Thực hiện các nội dung kinh tế thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Đổi mới cơ cấu kinh tế, thực hiện định canh, định
cư, giao rừng, phát triển kinh tế trang trại, chuyển giao công nghệ…Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng văn cứ địa cách mạng
4.3 Về văn hóa: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Giữ
gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người, phát triển ngôn ngữ, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân các dân tộc Đào tạo cán bộ văn hóa, xây dựng môi trường, thiết chế văn hóa phù hợp với điều kiện của các tộc người trong quốc gia đa dân tộc Mở rộng giao lưu văn hóa với nhiều quốc gia trong các lĩnh vực và trên thế giới
Trang 4Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống diễn biến hòa bình trên mặt trận tư tưởng
- văn hóa ở nước ta
4.4 Về xã hội: Thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong
vùng đồng bào dân tộc thiểu số Từng bước thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội, thông qua việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân số, y tế, giáo dục trên cơ sở chú ý đến tính đặc thù mỗi vùng, mỗi dân tộc Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cở sở và các tổ chức chính trị - xã hội ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số
4.5 Về an ninh - quốc phòng: Vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú phần
lớn là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh Vì vậy, chính sách dân tộc phải đảm bảo nội dung an ninh, quốc phòng trong điều kiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên cơ sở đảm bảo ổn định chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Phối hợp chặt chẽ các lực lượng trên từng địa bàn Tăng cường quan hệ nhân dân, tạo thế trận quốc phòng toàn dân trong vùng đồng bào dân tộc sinh sống
II Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay
1 Thành tựu:
Công tác dân tộc thời gian qua đã góp phần tích cực làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn vùng dân tộc và miền núi, quyền bình đẳng giữa các dân tộc ngày càng được thể chế hóa và thực hiện trên thực tế các lĩnh vực của đời sống Qua đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên từng bước, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả khả quan Đời sống của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể Đặc biệt, mặt bằng dân trí được nâng cao Vùng dân tộc và miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành và phát triển từ Trung ương đến các huyện vùng dân tộc và miền núi, tạo nguồn đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng cao một bước, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số được tôn trọng, bảo tồn và phát huy Hệ thống phát thanh, truyền hình ở vùng dân tộc và miền núi không ngừng phát triển Mạng lưới y tế phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã được quan tâm đầu tư, có 99,39% số xã có trạm y tế, 77,8% số xã đạt chuẩn
Trang 5quốc gia về y tế Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng dân tộc và miền núi có chuyển biến tốt, dịch vụ trợ giúp pháp lý đang tiếp cận với người dân Bình đẳng giới từng bước được tạo lập giúp người phụ
nữ nâng cao nhận thức, vươn lên phát huy vai trò của bản thân trong gia đình
và xã hội Đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số ở các xã miền núi, vùng cao từng bước được nâng cao về trình độ, năng lực, được quan tâm hơn về chế độ, chính sách; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực, nhất là cuộc vận động chung sức xây dựng nông thôn mới; Công tác vận động nhân dân, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng được chú trọng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
2 Những khó khăn, thách thức cần vượt qua
Hầu hết các chính sách vùng dân tộc và miền núi đều mang tính chất hỗ trợ; chính sách đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản, do vậy hiệu quả chưa thực sự bền vững…Việc xây dựng một số chính sách thiếu thực tế, chưa phù hợp với địa bàn vùng dân tộc và miền núi Tổ chức thực hiện chính sách còn nhiều yếu kém, phân công chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa hợp lý; việc phối hợp giữa các bộ, ngành có lĩnh vực chưa chặt chẽ, chỉ đạo có mặt còn chồng chéo Việc lồng ghép các chính sách trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi còn nhiều khó khăn, bất cập Công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách còn hạn chế Chỉ đạo, thực hiện chính sách ở một số địa phương còn lúng túng Công tác lập kế hoạch, rà soát đối tượng thụ hưởng trong việc thực hiện một số chính sách chưa sát với thực tế; Kinh tế chậm phát triển so với tiềm năng của vùng và phát triển chưa vững chắc Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vùng dân tộc và miền núi cao nhất cả nước; tình trạng tái nghèo phổ biến ở nhiều nơi; Chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi thấp; Hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu, đặc biệt đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ còn hạn chế, nhất là thiếu đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số hoặc có cán bộ dân tộc nhưng chưa được đào tạo
Công tác dân tộc đang có những thách thức chủ yếu là: Khoảng cách giàu - nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân tộc ngày càng lớn; tỷ lệ nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi cao hơn 2,5 lần so
Trang 6với tỷ lệ bình quân chung của cả nước Đặc biệt, là những khó khăn, thiếu thốn
ở các “vùng lõi” của đói nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc và miền núi từ các tỉnh phía Bắc đến các tỉnh phía Nam Nhu cầu nguồn lực đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu theo Nghị quyết của Chính phủ về định mức giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020 là rất lớn, sẽ vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước Chất lượng các công trình kết cấu hạ tầng, như giao thông, trường học, trạm y
tế, nhà văn hóa còn thấp Nguồn vốn đầu tư cho các chính sách chưa đáp ứng nhu cầu mục tiêu
Nguyên nhân
- Nhận thức của cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương về công tác dân
tộc chưa đẩy đủ, chưa toàn diện; sự phối kết hợp trong việc tổ chức thực hiện giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ, chưa cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của địa phương
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số tuy được quan tâm nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống tổ chức, cán bộ làm công tác dân tộc từ cấp tỉnh đến cơ sở chưa ổn định, thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là ở cấp xã chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi công tác dân tộc, hầu hết là giao kiêm nhiệm và cũng chưa có sự thống nhất giữa các địa phương
- Số ít cán bộ và nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tích cực vươn lên thoát nghèo
III Những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu để thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay
1 Những quan điểm cơ bản
Xuất pháp từ cơ sở lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa IX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ những quan điểm cơ bản sau:
- Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
- Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 7hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất
- Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời, tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
2 Một số giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách dân tộc hiện nay
2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các cấp, các
ngành và toàn thể xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới Xem việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương Tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân Phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi cho đồng bào các dân tộc thiểu số
2.2 Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát tiển kinh tế - xã hội vùng dân
tộc và miền núi; rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính sách
đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới
2.3 Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, giúp đỡ vùng dân tộc và
miền núi Ưu tiên đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo, phát triển nhanh kinh tế - xã
Trang 8hội, giải quyết những khó khăn bức xúc của đồng bào vùng dân tộc và miền núi; trước hết tập trung cho vùng đặc biệt khó khăn Thực hiện nghiêm chỉnh việc công khai hóa các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư…để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện
2.4 Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ ở vùng dân tộc và
miền núi
2.5 Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là
người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc Trong những năm tới, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ở miền núi, vùng cao
2.6 Kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân
tộc từ Trung ương đến địa phương Tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc để làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách dân tộc Một số bộ, ngành cần tổ chức bộ phận và có cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc 2.7 Tăng cường công tác vận động quần chúng trong việc bảo đảm thực hiện tốt chính sách dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay Nâng cao hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia triển khai, thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc Có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa bàn dân cư vùng dân tộc và miền núi Đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc; quán triệt phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa phương Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi phải quán triệt và thực hiện tốt phong cách công tác dân vận “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”
Trang 9Với 33 dân tộc thiểu số gồm 6 vạn người sinh sống Những năm qua, công tác dân tộc ở địa phương tôi đã được triển khai bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đem lại hiệu quả thiết thực như: Đã đề ra và đang thực hiện nhiều mục tiêu, chương trình hành động nhằm hướng tới một tương lai phát triển hơn nữa đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tập trung đầu tư, thúc đẩy vùng xa cùng tiến Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tại các quận nội thành không có bất kỳ sự cách biệt nào về hưởng thụ các lợi thế về kinh tế, chăm sóc y tế hay giáo dục đào tạo so với đồng bào người Kinh cũng như điều kiện chung của thành phố Cùng với các dự án, chương trình của Chính phủ như 134, 135 và các chương trình, kế hoạch mang tính cố định khác, địa phương đã quan tâm đầu tư hàng trăm tỷ đồng nhằm cải thiện các lĩnh vực kinh tế, giáo dục - đào tạo, y tế… cho đồng bào dân tộc thiểu số Tuy chưa thể đáp ứng được 100% yêu cầu của thực tế, nhưng bước đầu, sự đầu tư và chăm
lo ấy đã thúc đẩy, cải thiện đáng kể đời sống của bà con Hàng loạt dự án khai thác du lịch được đầu tư xây dựng đã thu hút hàng ngàn con em người dân tộc thiểu số vào làm việc và kéo theo cơ hội, điều kiện để đồng bào phát triển dịch
vụ, thương mại, tăng cường giao lưu văn hóa, xã hội Mặt bằng dân trí cũng được nâng lên một bậc chính nhờ sự phát triển đầu tư đó Ưu tiên phát triển hạ tầng Trong định hướng công tác dân tộc, phát triển các dân tộc thiểu số trên địa bàn đến năm 2020, Hà Nội xác định 8 nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu: Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số một cách bền vững, rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc và các vùng Đầu tư nâng cấp hạ tầng nông thôn, ngoại thành, đặc biệt
là vùng sâu, vùng xa là một trong những ưu tiên hàng Các kế hoạch, quy hoạch chung, dài hạn hay chuyên ngành, ngắn hạn có liên quan tới vùng ngoại thành, nông thôn, trong đó vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đều xác định
ưu tiên cho phát triển các vùng này Đối với các vùng đặc biệt khó khăn, xây dựng riêng những kế hoạch tập trung hỗ trợ phát triển Phát huy có hiệu quả vai trò của người có uy tín trong các dân tộc, quan tâm bồi dưỡng và có chế độ đãi ngộ phù hợp với cán bộ dân tộc và đang công tác ở vùng dân tộc
Trang 10KẾT LUẬN
Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Thực hiện các giải pháp về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước ta nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc miện núi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Vì vậy, khi thực hiện các chính sách dân tộc, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới phải luôn chú ý: khi giải quyết vấn đề dân tộc bao giờ cũng bảo đảm phải có lý, đúng pháp luật; vận động quần chúng đồng tình ủng hộ, thông qua việc phát huy vai trò của người có uy tín trong các dân tộc; thực hiện nghiêm túc các chương trình, dự án dành cho vùng dân tộc; quan tâm tháo gỡ những bức xúc, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc thiểu số được tham gia mọi hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta… Trong quá trình thực hiện các chính sách dân tộc, đặc biệt là khi tiến hành vận động giải quyết “điểm nóng” ở các vùng dân tộc thiểu
số phải có sự phối hợp, tham gia của các ban, ngành, đoàn thể; đảm bảo thống nhất đồng bộ giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng theo phương châm: không đẩy vụ việc nhỏ thành to, bình thường thành phức tạp; tránh sử dụng hành động thô bạo với quần chúng; vận động nhanh chóng ổn định tình hình, tránh sơ hở tạo cớ cho kẻ xấu lợi dụng, kích động, gây rối…
Vì vậy, việc quán triệt sâu sắc và toàn diện các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh