1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn quản lý dân tộc thực hiện chính sách dân tộc ở việt nam qua thực tiễn tỉnh ST hiện nay

26 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 44,64 KB
File đính kèm Tiểu luận môn Quản lý dân tộc.rar (42 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc là những nội dung quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với các quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Giải quyết những vấn đề có liên quan đến dân tộc ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước và uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Chính vì vậy, việc nhận thức đúng đắn, linh hoạt vấn đề dân tộc cũng như thực hiện đúng chính sách dân tộc là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Điều này chẳng những góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc vững mạnh mà còn nâng cao sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước.Chính sách dân tộc là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta, liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, thực hiện chính sách dân tộc phải gắn với kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng của đất nước. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đây là những nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Đó cũng chính là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách dân tộc nói riêng nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số còn ở trình độ sản xuất và đời sống thấp, xây dựng, phát triển quan hệ dân tộc tốt đẹp và đấu tranh chống lại các thế lực phản động có âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại việc thực hiện chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc là những nội dung quan trọng, có ý nghĩachiến lược đối với các quốc gia trên thế giới và Việt Nam Giải quyết những vấn đề

có liên quan đến dân tộc ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình ổn định chính trị, trật tự

an toàn xã hội của đất nước và uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế Chính vìvậy, việc nhận thức đúng đắn, linh hoạt vấn đề dân tộc cũng như thực hiện đúngchính sách dân tộc là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng và Nhànước ta Điều này chẳng những góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết cácdân tộc vững mạnh mà còn nâng cao sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước

Chính sách dân tộc là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính sáchcủa Đảng và Nhà nước ta, liên quan đến nhiều mặt của đời sống xã hội Do đó,thực hiện chính sách dân tộc phải gắn với kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xãhội, văn hóa, an ninh quốc phòng của đất nước Trong Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đãkhẳng định: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng

và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Đây là những nguyên tắc cơ bản trong chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đó cũng chính là cơ sở để Đảng và Nhà nước taxây dựng và thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách dân tộc nóiriêng nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là

ở các vùng dân tộc thiểu số còn ở trình độ sản xuất và đời sống thấp, xây dựng,phát triển quan hệ dân tộc tốt đẹp và đấu tranh chống lại các thế lực phản động có

âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại việc thực hiện chính sáchcủa Đảng về vấn đề dân tộc

ST là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 3.311km2, số dân hơn 1,3 triệu người, trong đó có hơn 30% số dân là đồng bào dân tộcKhmer, với 401.747 người, đông nhất cả nước Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chínhtrực thuộc, bao gồm tám huyện, hai thị xã, một thành phố, với 109 xã, phường, thị

Trang 2

trấn và 775 ấp, khóm; có 44 xã khu vực III và 240 ấp, khóm đặc biệt khó khănđang được đầu tư triển khai thực hiện các chương trình, dự án và chính sách dântộc.

Ở ST đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung ở một số huyện như: Trần

Đề, thị xã Vĩnh Châu, Long Phú…, đời sống còn rất nhiều khó khăn Những nămqua, các chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước được thực hiện trên địa bàn tỉnh

đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số,rút ngắn dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Tuy nhiên, việc thực hiệnchính sách dân tộc trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế cần được nhận thức

và có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộctrên địa bàn tỉnh, nhất là trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với mong muốn góp một phần nhỏ bécủa mình vào việc quán triệt và triển khai thực hiện chính sách dân tộc của Đảng

và Nhà nước trên địa bàn tỉnh ST, tôi đã chọn đề tài “ Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam - qua thực tiễn tỉnh ST hiện nay ” làm bài thu hoạch hết môn của

Thứ nhất, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có

những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữchung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so vớinhững cộng đồng khác; xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; có kế thừa và phát triển

Trang 3

hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng bộ lạc và thể hiện thành ý thức tự giáccủa các thành viên trong cộng đồng đó.

Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, bền

vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ chung, nền kinh tế thốngnhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chungtrong quá trình dựng nước và giữ nước

Như vậy, nếu theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là bộ phận của quốc gia, là cộngđồng xã hội theo nghĩa là các tộc người, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là toàn

bộ nhân dân một nước, là quốc gia dân tộc Với nghĩa như vậy, khái niệm dân tộc

và khái niệm quốc gia có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, dân tộc bao giờ cũng ra đờitrong một quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh rằng những nhân tốhình thành dân tộc chín muồi thường không tách rời với sự chín muồi của nhữngnhân tố hình thành quốc gia Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhautrong quá trình phát triển

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc

Cùng với vấn đề giai cấp, vấn đề dân tộc luôn luôn là một nội dung quantrọng có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa Giải quyết vấn đề dântộc là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định, phát triển haykhủng hoảng, tan rã của một quốc gia dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân tộc là một bộ phậncủa những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản Do đó, giảiquyết vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng

xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh rằng, khi xem xét vàgiải quyết vấn để dân tộc phải đáp ứng vững trên lập trường giai cấp công nhân.Điều đó cũng có nghĩa là việc xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc phải trên cơ sở

và vì lợi ích cơ bản, lâu dài của dân tộc

Trang 4

Giải quyết vấn để dân tộc thực chất là xác lập quan hệ công bằng, bình đẳnggiữa các dân tộc trong một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc trên các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Trên cơ sở tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc và giai cấp,cùng với sự phân tích hai xu hướng của vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã nêu ra

"Cương lĩnh dân tộc" với ba nội dung cơ bản: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; cácdân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc Đây được coi

là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin

Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là một bộ phận không thêtách rời trong cương lĩnh cách mạng của giai câp công nhân; là tuyên ngôn về vấn

đề dân tộc của đảng cộng sản trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp và giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc Cương lĩnh đã trởthành cơ sở lý luận cho chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc của các đảngcộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa

- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc Tất cảcác dân tộc, dù đông người hay ít người, có trình độ phát triển cao hay thấp đều cóquyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi về kinh tế, chính trị,văn hóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phảiđược pháp luật bảo vệ và phải được thực hiện trong thực tế, trong đó việc khắcphục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc do lịch

sử để lại có ý nghĩa cơ bản

Trong quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc gắn liềnvới cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bá quyền nướclớn; chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạchậu, chậm phát triển về kinh tế Mọi quốc gia đều bình đẳng trong quan hệ quốc tế

Trang 5

- Các dân tộc được quyền tự quyết

Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc, quyền tự quyếtđịnh con đường phát triển kinh tế, chính trị - xã hội của dân tộc mình Quyền dântộc tự quyết bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc gia dân tộc độclập (vì lợi ích của các dân tộc, chứ không phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhómngười nào) và quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bìnhđẳng

Khi xem xét giải quyết quyền tự quyết của dân tộc, cần đứng vững trên lậptrường của giai cấp công nhân: ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ, kiên quyếtđấu tranh chống lại những mưu toan lợi dụng quyền dân tộc tự quyết làm chiêu bài

để can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đòi ly khai chia rẽ dân tộc

- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Đây là tư tưởng, nội dung cơ bản trong "Cương lĩnh dân tộc" của V.I.Lênin

Tư tưởng này là sự thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, phong tràocông nhân và phản ánh tính thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giảiphóng giai cấp

Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc có ý nghĩa lớn lao đối với sự nghiệpgiải phóng dân lộc Nó có vai trò quyết định đến việc xem xét, thực hiện quyềnbình đẳng dân tộc và quyền dân tộc tự quyết Đồng thời, đây cũng là yếu tố tạo nênsức mạnh bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bứctrong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

- Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề dân tộc thuộc địa.Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa bao gồm:

+ Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc

Hồ Chí Minh sớm nhận thấy, yêu cầu của xã hội thuộc địa là phải tiến hànhcuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chứ không phải là đấu tranh giai cấp như

Trang 6

trong các xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây Đối tượng của cách mạng thuộc địa

là chủ nghĩa thực dân, chứ không phải là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc nóichung Người dành sự quan tâm đến các thuộc địa, vạch ra thực chất của vấn đềdân tộc ở thuộc địa là vấn đề chống chủ nghĩa thực dân, vấn đề độc lập dân tộc.Người chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thựcdân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa, đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được

+ Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc

Để giải phóng dân tộc, cần xác định phương hướng phát triển của dân tộc,

đề ra quy định những yêu cầu và nội dung trước mắt của cuộc đấu tranh giành độclập Mỗi phương hướng phát triển gắn liền với một hệ tư tưởng và một giai cấpnhất định

Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại Hồ ChíMinh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới

là chủ nghĩa xã hội

Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn đề hết sứcmới mẻ Từ một nước thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều giaiđoạn chiến lược khác nhau Trong Cương lĩnh chinh trị đầu tiên của Đảng Cộngsản Việt Nam Hồ Chí Minh viết: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địacách mạng để đi tới xã hội cộng sản”]

Sự hoạch định con đường phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh là biện chứng

và khách quan, không nhập hai nhiệm vụ chống đê quốc và chống phong kiến vàomột cuộc cách mạng tư sản dân quyền Nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ởthuộc địa Đó cũng là nét độc đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dântộc đã phát triển lên chủ nghĩa tư bản ở phương Tây

- Độc lập tự do, nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa

+ Cách tiếp cận từ quyền con người

Trang 7

Hồ Chí Minh hết sức trân trọng quyền con người Người đã tìm hiểu và tiếpnhận những nhân tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp,như quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được".

Nhưng từ quyền con người Hồ Chí Minh đã khái quát và nâng cao thànhquyền dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nàocũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

+ Nội dung của độc lập dân tộc

Độc lập, tự do là khát vọng; lớn nhất của các dân tộc thuộc địa, quyền thiêngliêng bất khả xâm phạm: gắn với bình đẳng dân tộc: hoà bình chân chính: thốngnhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước: cơm no, áo ấm, hạnh phúc của mọi người dân

Độc lập, tự do là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiếnthắng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, một tư tưởng lớn trong thời đại giảiphóng dân tộc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là khẩu hiệu hành động củadân tộc Việt Nam đồng thời cũng là nguồn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên toànthế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Vì thế, Hồ Chí Minh không chỉ

là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam mà còn là “Người khởi xướng cuộcđấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”

* Chủ nghĩa dân tộc

Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở Phương Đông,

“chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” Vì thế, “người ta sẽ không thểlàm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duynhất của đời sống xã hội của họ"

Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước

Trang 8

Việt Nam Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoạixâm nào.

Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, từ truyềnthống dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩadân tộc mà những người cộng sản phải nắm lấy và phát huy và Người cho đó là

“một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời”

- Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế

+ Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau

Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩayêu nước, nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giảiquyết vấn đề dân tộc Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộccủa Hồ Chí Minh thể hiện: khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân vàquyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản trong quá trình cách mạng Việt Nam;chủ trương đại đoàn kết dàn tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nhản, nôngdân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng: sử dụng bạo lực cách mạngcủa quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù; thiết lập chínhquyền nhà nước của dân, do dân và vì dân: gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc vớichủ nghĩa xã hội

+ Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết độc lập dân tộc gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội

Khác với các con đường cứu nước của ông cha gắn độc lập dân tộc với chế

độ phong kiến (cuối thế kỷ XIX), hoặc chủ nghĩa tư bản (đầu thế kỷ XX) conđường cứu nước của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với phương hướng

xã hội chủ nghĩa

Trang 9

Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giảiphóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phản ánh mối quan hệ khăngkhít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giảiphóng con người Chỉ có xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức bóc lột: thiết lập mộtnhà nước thực sự của dân, do dân vì dân bảo đảm cho người lao động có quyềnlàm chủ, thực hiện được sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa độc lậpdân tộc với tự do và hạnh phúc của con người.

+ Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp Hồ Chí Minh giảiquyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấptrong vấn đề dân tộc Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân

là điều kiện để giải phóng giai cấp Vì thế lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợiích của dân tộc

- Đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập củacác dân tộc khác

Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh chođộc lập của dân tộc Việt Nam, mà đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị

áp bức, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ Thực hiện nguyên tắc về quyền dân tộc tựquyết nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộcđấu giải phóng dân tộc trên thế giới Người nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiếnchống Nhật của nhân dán Trung Quốc các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và Mỹ xâm lược của nhân dân Lào và Campuchia, đề ra khẩu hiệu “giúp bạn là tựgiúp mình”

1.4 Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới

Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới,chính sách dân tộc của Đảng ta vừa bảo đảm tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêucầu phát triển và hội nhập quốc tế nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ởnước ta hiện nay và trong tương lai Từ Đại hội IV đến Đại hội XII của Đảng,

Trang 10

chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đềdân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chínhsách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện

cụ thể Trong suốt quá trình phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềchính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,tương trợ nhau cùng phát triển” Điều này, một mặt, thể hiện trách nhiệm của Đảng

và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc giảiquyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết cần phải có những chỉ đạo kịpthời

Nội dung của chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhànước ta tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây: 1- Chính sách về phát triển kinh

tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của vùng đồngbào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồngbào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước 2- Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, ytế nhằm nâng cao năng lực, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tạo tiền

đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia quá trình pháttriển, trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồngbào 3- Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bànchiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên

hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa

Nhìn tổng thể cả ba chính sách trên, xét về mục tiêu, chính sách dân tộc củaĐảng đều nhằm khai thác mọi tiềm năng của đất nước để phục vụ đời sống nhândân các dân tộc, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch, xóa đói, giảmnghèo, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,thể hiện nguyên tắc cơ bản: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng pháttriển Các nội dung đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hợp

Trang 11

thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Bìnhđẳng dân tộc là nền tảng thực hiện đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, thương yêu, tôntrọng giúp đỡ nhau thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc Nhìn lại thời kỳ đổimới, có thể khái lược ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản,

lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Cácdân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhaucùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa

Thứ hai, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc

thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Trong những nămqua tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, giảiquyết kịp thời những vấn đề bức xúc, như tình trạng thiếu lương thực, thiếu nướcsinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xâydựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấpđất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùngđồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ Xây dựng và thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội vùng biên giới Tất cả công việc này đều được xây dựng trênnguyên tắc đoàn kết dân tộc

Thứ ba, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng

dân tộc thiểu số Do lịch sử để lại, hiện nay giữa các dân tộc ở nước ta vẫn còn tìnhtrạng phát triển không đều Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là một tấtyếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Đảng và Nhà nước ta coi trọngtương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản

Trang 12

trong chính sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc.

Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; kiên quyết khắc phụctình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch,đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ Đẩy mạnh phát triểnđảng viên trong đồng bào dân tộc thiểu số Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân

và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi

âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác bảo đảm an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh,trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh cáckhu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới

Thứ tư, đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu

cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện đểnhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thựchiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh,quốc phòng ở địa phương Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, động viênđồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, tinh thần vươn lêntrong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộcsống ngày càng ấm no, hạnh phúc

2 Thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh ST hiện nay

2.1 Đặc điểm tình hình chung

ST là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên3.233 km2, với 72 km bờ biển, thế mạnh kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và thủysản Đơn vị hành chính của tỉnh gồm 09 huyện và 01 thành phố, với 106 xã,phường, thị trấn; trong đó có 39 xã và 98 ấp đặc biệt khó khăn Tỉnh có đồng bàodân tộc thiểu số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long Dân số năm 2008 là1.295.064 người; trong đó, dân tộc Kinh chiếm 65,16%, dân tộc thiểu số khoảng

Trang 13

454.000 người (chiếm 34,83% dân số), chủ yếu là dân tộc Khmer chiếm 28,93%,Hoa chiếm 5,88% và dân tộc khác (Tầy, Nùng, Mường, Chăm, Ấn…) chiếm0,03%

Đồng bào các dân tộc thiểu số sống đan xen với đồng bào người Kinh, tậptrung đông nhất ở huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú và thành phố ST; đồngbào có truyền thống yêu nước, đoàn kết từ bao đời nay trong đấu tranh chống giặcngoại xâm và xây dựng Tổ quốc

Các hoạt động văn hóa, lễ hội của ST biểu hiện rõ qua nét sinh hoạt văn hóacủa 03 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa Trong quá trình giao lưu và phát triển đã hìnhthành nên bản sắc văn hóa độc đáo, phong phú, tạo nên nền văn hóa đan xen giữacác dân tộc

2.2 Kết quả thực hiện các chính sách dân tộc

Về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào dân tộc thiểu số

Các năm qua, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách đầu

tư phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: chủtrương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Chương trình 135,134; chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề, cho vayvốn phát triển sản xuất, chính sách trợ giá, trợ cước và các chương trình, dự ánkhác của Chính phủ Tỉnh đã triển khai xây dựng được 698 công trình giao thông,thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường, trạm; xây dựng mới 63 mô hình sản xuất; hỗtrợ xây dựng 33.154 căn nhà thuộc Chương trình 134 và 10.000 căn nhà tìnhthương, hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho gần 3 000 hộ, chuyển đổi ngành nghề trên4.500 hộ và đào tạo nghề 3.000 lao động là đồng bào dân tộc thiểu số… với tổngkinh phí trên 1.000 tỷ đồng Song song đó, tỉnh còn triển khai thực hiện tốt việccho vay vốn phát triển sản xuất và các chính sách an sinh xã hội khác với số tiềnhàng ngàn tỷ đồng

Ngày đăng: 22/05/2022, 20:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thị Vân Anh, 2014, “Thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúchiện nay”
2. Võ Minh Chiến, “ST chăm lo đời sống đồng bào dân tộc Khmer”, Báo ST Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ST chăm lo đời sống đồng bào dân tộc Khmer”
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X",Nxb "Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI", Nxb "Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII", Nxb "Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
6. ThS. Nguyễn Quỳnh Hoa, “Chính sách dân tộc tại Việt Nam: thành tựu và thách thức cần vượt qua”, Tạp chí cộng sản, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính "sách dân tộc tại Việt Nam: thành tựuvà thách thức cần vượt qua”
7. Hà Thị Dáng Hương, “Vấn đề dân tộc qua văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 385, tháng 7-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc qua văn kiện Đại hội Đảng lần thứXII”
8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.587 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", tập 9, Nxb "Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
9. UBND tỉnh ST, “Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh ST năm 2017”.10. WWW. Luanvan.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước trongđồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh ST năm 2017”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w