MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề dân tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin và của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thực tiễn nóng bỏng đòi hỏi giải quyết một cách đúng đắn. Việc nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghhĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam, đã giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc trên cả nước nói chung và có những chính sách phù hợp đến từng địa phương trong cả nước nói riêng. Đối với huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một huyện miền núi có nhiều dân tộc sinh sống như: Cơ tu, Tà ôi, Pa cô, Pa hy,Vân Kiều,…Việc thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề bức thiết. Muốn vậy, cần phải nắm vững những quan điểm của chủ nghhĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc sẽ giúp chúng ta có cơ sở khoa học để đánh giá đúng việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và đưa ra những giải pháp định hướng tốt hơn để thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện nhằm ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, Nam Đông nói riêng và cả nước nói chung đang bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề ổn định chính trị và đoàn kết dân tộc được xem là chiến lược quan trọng.Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “ Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” là việc làm cần thiết và có ý nghĩa nhất định. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài: Trong nhiều năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp phán ánh những mức độ và khía cạnh khác nhau về quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về việc thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như: “Một số suy nghĩ trong việc vận dụng Chủ nghĩa Mác Lênin vế vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của tác giả Trần Đình Huỳnh, tạp chí Dân tộc học. Tác giả: Phan Hữu Dật với “Về việc xác định các dân tộc, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng” bài viết đã đề cập đến các nguyên tắc cơ bản, chính sách dân tộc của Lê nin và các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng ta Từ bài viết trên tôi đã học hỏi thêm về các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc.“ Đổi mới tư duy trong nghiên cứu lí luận và thực tiễn vấn đề dân tộc nước ta để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới” của Hoàng Tường Minh. “Chính sách Lênin nít về dân tộc trong thực tiễn cách mạng” của Đỗ Tư. “Tư tưởng của V.I. Lênin về quyền con người và giá trị thực tiễn ở Việt Nam” của Hoàng Mai Hương, Nguyễn Hồng Hải. Ngoài ra còn nhiều tài liệu, Tạp chí triết học, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí lí luận chính trị, và các tác phẩm của các nhà kinh điển, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đầu ngành, các cán bộ công tác lí luận chính trị. Với tinh đó, trong khóa luận này tác giả muốn đề cấp đến chủ nghĩa Mác – Lên nin về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tác giả đã chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp của mình. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 3.1. Mục đích: Góp phần làm rõ quan điểm của củ nghĩa Mác Lê nin về vấn đề dân tộc và việc vận dụng quan điểm đó vào việc phân tích đánh giá tình hình, thực trạng thực hiện chính sách dân tộc và đưa ra những giải pháp định hướng cho việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ: Trình bày hệ thống quan điểm của củ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc. Nêu ra những chính sách dân tộc của Đảng Cộng Sản Việt Nam trên cở sở đó chỉ ra những việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.Qua đó đã nêu lên một số đề xuất, kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian đến. 4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu. 4.1. Cơ sở lí luận: Đề tài lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc làm cơ sở để nghiên cứu. 4.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phân tích – tổng hợp, lôgic – lịch sử, khái quát… 5. Đóng góp của đề tài. Với phạm vi là khóa luận tốt nghiệp, đề tài không kỳ vọng gì nhiều. Tuy nhiên, đề tài nêu lên một cách có hệ thống, khoa học quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc. Bên cạnh đó, đã làm rõ những phần nào chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung cũng như việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Với kết quả đó đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này và nói lên việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. 6. Kết cấu của khoá luận. Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận được kết cấu thành 2 chương, 7 tiết.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề dân tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin và của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thực tiễn nóng bỏng đòi hỏi giải quyết một cách đúng đắn
Việc nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghhĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam, đã giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc trên cả nước nói chung và có những chính sách phù hợp đến từng địa phương trong
cả nước nói riêng
Đối với huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một huyện miền núi có nhiều dân tộc sinh sống như: Cơ tu, Tà ôi, Pa cô, Pa hy,Vân Kiều,…Việc thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề bức thiết Muốn vậy, cần phải nắm vững những quan điểm của chủ nghhĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc sẽ giúp chúng ta có cơ sở khoa học để đánh giá đúng việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và đưa ra những giải pháp định hướng tốt hơn để thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện nhằm ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế xã hội
Đặc biệt, Nam Đông nói riêng và cả nước nói chung đang bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề ổn định chính trị và đoàn kết dân tộc được xem là chiến lược quan trọng.Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài: “ Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” là việc làm cần thiết và có ý nghĩa nhất định.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong nhiều năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp
và gián tiếp phán ánh những mức độ và khía cạnh khác nhau về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như:
“Một số suy nghĩ trong việc vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin
vế vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của tác giả Trần Đình Huỳnh, tạp chí Dân tộc học Tác giả: Phan Hữu Dật với “Về việc xác định các dân tộc, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng” bài viết đã đề cập đến các nguyên tắc cơ
bản, chính sách dân tộc của Lê nin và các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng ta Từ bài viết trên tôi đã học hỏi thêm về các
nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc.“ Đổi mới tư duy trong nghiên cứu lí luận và thực tiễn vấn đề dân tộc nước ta để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới” của Hoàng Tường Minh “Chính sách Lênin nít về dân tộc trong thực tiễn cách
Trang 2mạng” của Đỗ Tư “Tư tưởng của V.I Lênin về quyền con người và giá trị thực tiễn ở Việt Nam” của Hoàng Mai Hương, Nguyễn Hồng Hải.
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, Tạp chí triết học, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí lí luận chính trị, và các tác phẩm của các nhà kinh điển, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đầu ngành, các cán bộ công tác lí luận chính trị
Với tinh đó, trong khóa luận này tác giả muốn đề cấp đến chủ nghĩa Mác – Lên nin về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế Tác giả đã chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục đích:
Góp phần làm rõ quan điểm của củ nghĩa Mác - Lê nin về vấn đề dân tộc và việc vận dụng quan điểm đó vào việc phân tích đánh giá tình hình, thực trạng thực hiện chính sách dân tộc và đưa ra những giải pháp định hướng cho việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ:
Trình bày hệ thống quan điểm của củ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân tộc Nêu ra những chính sách dân tộc của Đảng Cộng Sản Việt Nam trên cở sở đó chỉ ra những việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.Qua đó đã nêu lên một
số đề xuất, kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian đến
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Cơ sở lí luận:
Đề tài lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc làm cơ sở để nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phân tích – tổng hợp, lôgic – lịch sử, khái quát…
5 Đóng góp của đề tài.
Với phạm vi là khóa luận tốt nghiệp, đề tài không kỳ vọng gì nhiều Tuy nhiên, đề tài nêu lên một cách có hệ thống, khoa học quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc Bên cạnh đó, đã làm rõ những phần nào chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung cũng như việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng Với kết quả đó
đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề
Trang 3này và nói lên việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
6 Kết cấu của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận được kết cấu thành 2 chương, 7 tiết
CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ DÂN TỘC VÀ
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1.1 Khái niệm dân tộc và chính sách dân tộc
1.1.1 Khái niệm về dân tộc
Lịch sử phát triển nhân loại đã chứng minh rằng: dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người.Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, khu vực sự hình thành dân tộc có những đặc thù khác nhau
do đó có rất nhiều khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Nghĩa thứ nhất: Dân tộc là chỉ cộng đồng người có mối quan hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó
Với nghĩa này dân tộc là một bộ phận của quốc gia
Ví dụ: dân tộc Kinh, dân tộc Ba na, dân tộc Êđê… ở nước ta
Nghĩa thứ hai: Chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau về quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước
Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó (quốc gia dân tộc)
Ví dụ: Dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Viêt Nam…Ta cũng có thể gọi: là quốc gia Ấn Độ, quốc gia Trung Hoa, quốc gia Việt Nam
Dân tộc thường được nhân biết qua các đặc trưng chủ yếu sau:
- Có chung sinh hoạt kinh tế, các mối quan hệ kinh tế là cơ sở để liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc Nó tạo nên cở sở vững chắc của cộng đồng dân tộc
- Có thể tập trung trên một vùng lãnh thổ của cả nước hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước
- Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, tình cảm
Trang 4- Có nét tâm lý riêng ( nét tâm lý dân tộc ) biểu hiện kết tinh trong đặc thù văn hoá dân tộc gắn bó với nết văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc)
Các đặc trưng chủ yếu trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định
Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây về thực chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đoàn kết, hoà quyện vào các nhân tố xã hội Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc, chủng tộc, thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn màu
da, hay cấu tạo tự nhiên, các bộ phận trong cơ thể phân loại cộng đồng người
Hiểu khái niệm và các đặc trưng của dân tộc như trên càng thấy rằng khái niện dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau Điều khẳng định có căn cứ ở chổ dân tộc ra đời trong những quốc gia nhất định và thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự chín muồi của nhân tố hình thành quốc gia chúng
bổ xung và thúc đẩy lẫn nhau
1.1.2 Khái niệm về chính sách dân tộc
Thuật ngữ “Chính sách dân tộc” cần được phân biệt với chính sách
xã hội, chính sách miền núi và chính sách dân vận của Đảng, để từ đó xác định vị trí, nội dung, tổ chức bộ máy, phương hướng hoạt động thực hiện chính sách dân tộc
Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cư
đa dân tộc của một quốc gia theo quan điểm của giai cấp nắm chính quyền Chính sách dân tộc của Đảng công sản là môt hệ thống chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện quyền bình đẳng chính trị, kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu
số có trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp Chính sách dân tộc của Đảng
và nhà nước ta đảm bảo phát huy sức mạnh dân tộc và bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các dân tộc làm cho các dân tộc đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc
1.2.1 Quan điểm của Mác-Ăngghen về dân tộc
Khi đọc tác phẩm của Mác – Ăngghen chúng ta thấy rằng hai ông chưa nêu lên định nghĩa về giai cấp hay dân tộc Nhưng rãi rác đó đây trong các công trình nghiên cứu của hai ông có thể rút ra một số luận điểm về vấn đề quan trọng này:
Một là: Mác và Ăngghen cương quyết chống lại ách áp bức và bóc lột các dân tộc khác của giai cấp tư sản:
“Hãy xóa bỏ trình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”[6;106]
Trang 5Một dân tộc này mà đi bóc lột dân tộc khác thì dân tộc đó không thể tự do
Hai là: khi đề cập đến phong trào giải phóng dân tộc ở Ba Lan, Ai – xơ - len, vùng Băng can… Mác và Ăngghen trước sau như một ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, để thành lập chế độ tự trị, thậm chí tách ra thành một nhà nước độc lập riêng biệt
Trong thư đề ngày 2 11.1867 Mác viết cho Ăngghen như sau:
“Trước kia tôi cho rằng Ai-xơ-len không thể tách khỏi mặc dù sau khi tách ra thì tình hình sẽ đi đến thành lập liên bang’’[5;533]
Để giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt để trên lập trường giai cấp vô sản, Mác và Ăngghen chủ trương tiến hành thủ tiêu nhà nước tư sản xây dựng một nhà nước kiểu mới, không còn đối kháng giai cấp nữa
“Khi sự đối kháng giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì
sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng mất theo”[6;106]
Trong điều kiện lúc đó hai ông nhận thức rằng cách mạng xã hội không thể giành thắng lợi trong một nước riêng lẻ mà chỉ có thể thắng lợi trong một loạt nước, vì vậy để đạt được mục đích lật đổ giai cấp tư sản, giai cấp vô sản tất cả các nước hãy liên hiệp lại Nhu cầu tất yếu là phải thiết lập sự đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa quốc tế vô sản là nét rất quan trọng trong thế giới quan cộng sản chủ nghĩa Chính vì vậy, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” nổi tiếng kết thúc bằng khẩu hiệu có sức mạnh động viên và cổ vũ lớn lao mang tính thời đại “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.[6;132]
1.2.2 Quan điểm của Lênin về dân tộc
Dựa trên cơ sở tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc, dựa vào sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Nga; phân tích sâu sắc hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc Lênin đã khái quát lại thành “Cương lĩnh dân tộc” của Đảng cộng sản Trong tác phẩm về quyền dân tộc tự quyết, Người đã nêu rõ: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” [14;375]
“Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc đầu tiên trong cương lĩnh mác xít về vấn đề dân tộc Đây là một phạm trù rất rộng, nó không chỉ là sự bình đẳng giữa dân tộc này với dân tộc khác trong nội bộ của một quốc gia mà còn là sự bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc khác trong quan hệ quốc tế Theo V.I.Lênin nội hàm của quyền bình đẳng dân tộc bao gồm bình đẳng trong việc thành lập quốc gia dân tộc riêng của họ” [12;73]
Ý nghĩa sâu sắc về quyền bình đẳng dân tộc, Lênin chỉ rõ như sau:
ý nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai cấp Bình đẳng văn hóa có nghĩa là các dân tộc có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong trường học, văn hóa, nhà hát… Mặt khác Lênin
Trang 6còn cho rằng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa sẽ đòi hỏi các dân tộc sống trong một quốc gia phải học tiếng của dân tộc đa số
Quyền dân tộc tự quyết : là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc Mọi người đều biết, đế quốc Nga Sa Hoàng là một nhà tù lớn của rất nhiều dân tộc Các dân tộc bị trị
bị áp bức và bị bóc lột nặng nề không được quyền quyết định vận mệnh của mình Và có thể nói rằng: “Các dân tộc có quyền tự quyết” không phải là để các dân tộc tách ra, mà chính là để các dân tộc xích lại gần nhau, sức mạnh của khẩu hiệu đó là ở chỗ, nó gạt bỏ tất cả mọi cơ sở về mưu đồ xâm lăng của dân tộc này đối với dân tộc khác và nhằm cho sự chuẩn bị cho các dân tộc tiến tới sự liên minh tự nguyên vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều dân tộc
Lênin còn nói: “ Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa
bỏ tình trạng nhân loại bị chia thành những quốc gia nhỏ ….dân tộc được
tự do phân lập thì mới có thể đạt được sự hợp nhất tất nhiên của các dân tộc”.[15;328]
“Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” là nguyên tắc thứ ba trong cương lĩnh của Lênin về vấn đề của các dân tộc” Trên thực tế, luận điểm này lần đầu tiên được phát triển bởi C.Mác và Ph.Ăngghen và được Lênin kế thừa và phát triển Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang phát triển mạnh mẽ C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thắng lợi được trong một nước riêng lẻ, mà có thể lật đổ giai cấp tư sản giai cấp vô sản tất cả các nước phải liên hiệp lại” [12;75]
Quan hệ mật thiết đến sự liên minh quốc tế và sự đoàn kết nhân dân lao động của các dân tộc trên thế giới là luận điểm của Lênin về vấn
đề hợp nhất các dân tộc Lênin cho rằng: “Nguyên tắc của chủ mghĩa dân tộc tư sản và sự phát triển dân tộc nói chung, do đó sinh ra đặc tính của chủ nghĩa dân tộc tư sản, những cuộc xung đột dân tộc không có lối thoát Còn giai cấp tư sản thì không những không bảo vệ sự phát triển của dân tộc, của mọi dân tộc, mà trái lại nó đề phòng cho quần chúng khỏi những ảo tưởng như thế Nó chủ trương để lưu thông tư bản chủ nghĩa được tư do đầy đủ nhất và hoan nghênh mọi sự đồng hóa dân tộc, trừ sự đồng hóa bằng bạo lực hoặc dựa trên sự đặc quyền”[14;169]
“Những luận điểm trong cương lĩnh Mácxít về vấn đề dân tộc do V.I.Lênin đề ra là sự kế thừa và phát triển những luận điểm của C.Mác
và Ph.Ăngghen, ngoài lĩnh vực này nó chứng tỏ tư duy lý luận sắc bén của V.I.Lênin và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của những người Bônsêvích Nga” [12;77] Đồng thời trong cương lĩnh còn là cơ sở lý luận pháp lý để giải quyết các quan hệ dân tộc cả trong quan hệ tranh chấp, xung đột giữa các dân tộc, nó có vai trò to lớn đặc biệt với phong trào giải phóng dân tộc từ thế kỷ XX đến nay
Trang 71 3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa, chất là để đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức bóc lột, thực hiện quyền dân tộc tự quyết thành lập nhà nước dân tộc độc lập
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề thuộc địa và giải phóng dân tộc Vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin chủ yếu là vấn đề dân tộc ở các nước ở Châu Âu, còn
ở Hồ Chí Minh vấn đề dân tộc ở tất các nước trên thế giới, đặc biệt là vấn
đề dân tộc thuộc địa Do vậy mà không ai hiểu vấn đề dân tộc thuộc địa như Hồ Chí Minh Người đã nhận định “ chủ nghĩa tư bản là một con đỉa hai vòi, có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta đồng thời phải cắt cả hai vòi”[ 10;298]
Chính vì vậy mà người khẳng định rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Tuy nhiên công cuộc giải phóng dân tộc thuộc địa phải dựa vào bản thân dân tộc mình là chính, Cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa có thể giành thắng lợi trước Cách mạng chính quốc đó là những điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đối với một người dân mất nước, cái quý nhất ở trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân Chính vì vậy, mục đích lớn nhất chi phối cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là: “Làm cho đất nước ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành ”[10; 161]
Trên con đường học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và vân dụng sáng tạo nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng, Nguyễn Ái Quốc
đã thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước Người gửi đến Hội nghị Véc-xây bản yêu sách gồm 8 điểm đòi hỏi các quyền tự do, dân chủ cho nhân Việt Nam Tuy nhiên bản yêu sách đó không được chấp nhận,
từ đó Người rút ra bài học: Các dân tộc muốn giải phóng chỉ có thể trông cậy vào mình, và lực lượng bản thân mình Từ đó, Người ra sức học tập
và tiến hành tổ chức để thành lập tổ chức Đảng và xác lập mục tiêu: Phải đánh đuổi đế quốc Pháp cùng bọn phong kiến và làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm tất cả dân tộc nên Hồ Chí Minh đã từng viết:
“Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,
Không gì cay đắng chi bằng mất quyền tự do”[11;332]
Cũng chính vì thế mà Người luôn kêu gọi đồng bào đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc
Trang 8“ Thà chết cho tự do còn hơn sống nô lệ” [10;18].
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc Người ra lời kêu gọi vang dội núi sông: “ Không! chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [10;480] và khi đế quốc Mỹ điên cuồng tiến hành chiến tranh cục bộ ở Miềm Nam, mở rộng chiến tranh phá hoại
ở Miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý bất hủ, có giá trị thời đại là: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Được sự cổ vũ của tinh trần đó, nhân dân hai miền Bắc – Nam, đã kiên cường đấu tranh
và buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình
ở Việt Nam
Chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”, không chỉ là lý tưởng mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh Đó
là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của Việt Nam, đồng thời là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Vì thế Người không chỉ được tôn vinh là: Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX
1.3.2 Quan điểm chính sách dân tộc của Đảng – Nhà nước Việt Nam
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và nhà nước ta luôn luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt
a Những đặc điểm và tình hình dân tộc ở Việt Nam
Một là: Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, đại gia đình các dân tộc Việt Nam thống nhất hiện có 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc không đồng đều nhau Dân tộc kinh là dân tộc đa số
Hai là: các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết đấu tranh dựng nước và giữ nước xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất
Ba là: Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán xen kẽ lẫn nhau Địa bàn cư trú của người dân chủ yếu là ở Đồng Bằng, ven biển và trung du, còn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi phía Bắc, vùng Thanh- Nghệ -Tĩnh, Trường Sơn, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; Người Hoa sống ở một số nơi thuận tiện cho làm ăn buôn bán, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh
Bốn là; các dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên vùng rừng núi có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái
Năm là: Các dân tộc Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau
Trang 9Ở nước ta sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc là một thực tế khách quan do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và điều kiên tự nhiên quyết định
b Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là:
Một là: phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện của từng vùng, đảm bảo cho các dân tộc khai thác thế mạnh của địa phương làm giàu cho mình và cho đất nước, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Hai là: Có chính sách ưu tiên đặc biệt phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức cho các dân tộc thiểu số
Ba là: Kế thừa và phát triển văn hóa các cộng đồng dân tộc các dân tộc Việt Nam và đặc trưng của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nềm văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Bốn là: Quan tâm đặc biệt đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến trước đây; tăng cường cỏ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã ,thôn, ấp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian; từng bước ngăn chặn suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một dân tộc thiểu số
Năm là: Xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi phải gắn chặt với chính sách an ninh quốc phòng, nhất là vùng địa bàn xung yếu, vùng sâu, vùng biên giới; ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định xã hội
Những nội dung và mục tiêu chủ yếu trong chính sách của Đảng trên đây là để thực hiện chung cho cả 54 dân tộc trên đất nước Để thực hện thắng lợi nội dung và mục tiêu chiến lược đó trong từng thời kỳ, căn
cứ vào tình hình kinh tế xã hội của đất nước, của từng vùng dân tộc, từng địa bàn dân cư, thậm chí từng dân tộc mà Đảng và nhà nước ta lại đề ra những chính sách và biện pháp cụ thể
1.4 Định hướng chính sách dân tộc của Tỉnh Thừa Thiên Huế
Để đưa các Nghị quyết, Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ đi vào trực tiễn cụ thể, UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đã xem vấn đề dân tộc là vấn đề trọng yếu và thực hiện một cách đầy đủ các chủ trương, đường lối
mà Chính phủ đề ra như thực hiện tốt các chính sách đối với các đồng bào các dân tộc thiểu số
Như việc UBND, Ban dân tộc Tỉnh Thừa Thiên Huế đã đề ra chiến lược chương trình 135 qua hai giai đoạn I và giai đoạn II, thực hiện kinh phí trợ giá trợ cước hàng chính sách miền núi Tỉnh Thừa Thiên Huế như: Huyện Nam Đông, huyện A Lưới với hơn hai tỷ đồng năm 2008
Trang 10UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã thi hành Nghị quyết số 289/QĐ -TTG ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững an ninh chính trị, trật tự - an toàn xã hội tại các địa phương
Các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương chính sách dân tộc của tỉnh Thừa Thiên Huế được ban hành đồng bộ và thực hiện có tính khả thi đến tận huyện trong tỉnh
Nam Đông là một huyện dân tộc miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, trong thời gian qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và đặc biệt là sự quan tâm sâu sắc trực tiếp của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, chính sách dân tộc đến với huyện Nam Đông ngày càng thiết thực và có hiệu quả góp phần xây dựng đời sống vật chất và tinh thần của người dân đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số của huyện ngày càng cao hơn, kinh
tế ngày càng ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững
CHƯƠNG 2 VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở HUYỆN NAM
ĐÔNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2.1 Sơ lược về huyện Nam Đông
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 50km về phía Tây Nam, được tách ra từ huyện Phú Lộc
từ năm 1990; huyện Nam Đông có ranh giới địa lý hành chính như sau :
- Phía Đông và phía Bắc giáp với huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Tây giáp với huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Nam giáp với huyện Hiên, Tỉnh Quảng Nam
Tổng diện tích đất tự nhiên là: 65052 ha
Toàn huyện có 10 xã và 01 thị trấn Dân số có 5162 hộ, 23875 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 2161 hộ, 10292 khẩu, chiếm 43% dân số toàn huyện Đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện chủ yếu là dân tộc Cơ tu, và một ít các dân tộc khác như: Tà ôi, Pa cô, Pa
hy, Vân kiều … Sống tập trung tại các xã: Thượng Quảng, Thượng Long, Hương Hữu, Thượng Nhật, Hương Sơn, Thượng Lộ
2.1.2 Kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
a Kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế được xác định là nông lâm nghiệp công nghiệp -dịch vụ và từng bước chuyển -dịch theo hướng công nghiệp.Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, thời kỳ 1996 - 2000 tốc độ tăng trưởng là