TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ CÀ PHÊ NỘI ĐỊA TẠI HAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ HỒ CHÍ MINH Nhóm nghiên cứu Trần Thị Quỳnh Chi Trần Công Thắng Trần Thị Thanh Nhàn I GIỚI THIỆ[.]
Trang 1TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ CÀ PHÊ NỘI ĐỊA TẠI HAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ HỒ CHÍ MINH
Nhóm nghiên cứu: Trần Thị Quỳnh Chi
Trần Công Thắng Trần Thị Thanh Nhàn
I GIỚI THIỆU
Cà phê đóng vai trò rất quan trọng trong ngành nông nghiệp nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung của nhiều quốc gia trên thế giới Ngày nay, đối với các nước đang phát triển, kim ngạch xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai trên thế giới, sau dầu lửa Cây cà phê có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà còn về các mặt xã hội và chính trị ở nhiều nước trên thế giới Một biến động nhỏ về giá cà phê ngay lập tức ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như thất nghiệp, nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập, gây ảnh hưởng tiêu cực tới chính trị và xã hội
Tại Việt Nam, cà phê là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ hai sau gạo, tạo sinh kế và công ăn việc làm cho hàng triệu người tham gia vào các khâu khác nhau trong chuỗi ngành hàng cà phê Từ một nước có sản lượng xuất khẩu nhỏ, khoảng 90 nghìn tấn năm
1990, Việt Nam dần vươn lên thành một trong những nước có lượng xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, dao động từ 700 đến 800 nghìn tấn từ năm 2000 đến năm 2002 Kim ngạch xuất khẩu dao động trong khoảng từ 400 đến 600 triệu USD/năm, tạo công ăn việc trực tiếp cho khoảng 600 nghìn người và gián tiếp cho khoảng 1 triệu người, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân nông thôn Năm 2001, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với 42% thị phần Tăng trưởng cà phê Việt Nam vượt xa mọi dự đoán của tất cả các chuyên gia trong nước và quốc tế Niên vụ 2004/2005, xuất khẩu cà phê Việt nam đạt gần 900 nghìn tấn, mức cao kỷ lục trong vòng hơn 10 năm cà phê phát triển mạnh
Hầu hết sản lượng cà phê Việt Nam đều được dùng để xuất khẩu Giá xuất khẩu của Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào diễn biến giá cả thế giới Khi giá tăng vào khoảng giữa thập kỷ 90, nông dân Việt Nam đổ xô vào sản xuất cà phê, mở rộng diện tích ở cả những nơi có điều kiện không phù hợp Điều này khiến cho sản lượng cà phê của Việt Nam bắt đầu chu kỳ tăng mạnh Tuy nhiên, khi cung vượt cầu, giá thế giới giảm mạnh thậm chí xuống thấp hơn chi phí sản xuất, rất nhiều người sản xuất và buôn bán cà phê Việt Nam lâm vào tình cảnh khó khăn như không trả được nợ, không có đủ khả năng chăm sóc cây
cà phê
Trong thời kỳ cuối thập kỷ 90, đầu thế kỷ XXI, Việt Nam và nhiều quốc gia sản xuất cà phê khác (trừ Braxin) cũng gặp khó khăn trầm trọng Nguyên nhân chính khiến cho Braxin không bị ảnh hưởng nhiều bởi khủng hoảng vì nước này duy trì chế độ tỉ giá hối đoái linh hoạt và Braxin cũng giành phần lớn sản lượng cà phê cho tiêu thụ trong nước nên không quá phụ thuộc vào các thị trường xuất khẩu Chính vì vậy, ngay sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng này, cộng đồng cà phê thế giới đã xác định một trong những biện pháp quan trọng để tránh một cuộc khủng hoảng trong tương lai là kích cầu tiêu thụ cà phê tại những nước không uống cà phê truyền thống, đặc biệt là các nước sản xuất và xuất khẩu
cà phê
Triển khai chiến lược này, hàng loạt quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước Mỹ La tinh, Ấn Độ, Indonêsia đã đưa ra các chiến lược phát triển thị trường trong nước và triển khai rộng khắp Tình hình tiêu thụ cà phê trong nước của các quốc gia này đã có những
Trang 2Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa hề có một động thái triển khai chiến lược này Việt Nam thậm chí chưa hề có nguồn thống kê chính thức về tình hình tiêu thụ cà phê trong nước theo các năm Các số liệu thống kê về tiêu thụ cà phê trong nước của Việt Nam hiện nay chỉ thông qua bộ số liệu Điều tra mức sống dân cư do Tổng cục Thống kê tiến hành 2 lần một năm Bộ số liệu này chỉ thống kê được tiêu thụ bình quân đầu người cho 1 loại cà phê chung, không chỉ ra được xu hướng tiêu thụ, đặc điểm của những người tiêu thụ và tiềm năng tiêu thụ cà phê
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tình hình tiêu thụ trong nước cho riêng ngành hàng cà phê
là rất quan trọng để có thể đưa ra số liệu thống kê chính thức, hỗ trợ cho công tác giám sát thị trường; trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị cho chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ trong nước
Nhận thấy tầm quan trọng này, Viện Kinh tế Nông nghiệp với sự hỗ trợ của dự án “Tăng cường năng lực thông tin phục vụ công tác hoạch định chính sách nông nghiệp” - MISPA
do Đại sứ quán Pháp tài trợ đã tiến hành nghiên cứu “Tình hình tiêu thụ cà phê nội địa Việt Nam” Nghiên cứu trước hết được tiến hành tại hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, để kiểm định tính khả thi của phương pháp nghiên cứu được chọn lựa
để trên cơ sở đó đề xuất mở rộng phạm vi của nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là (i) ước lượng tình hình tiêu thụ cà phê tại thành phố HN và HCM, phân theo nhóm đối tượng và loại cà phê; (ii) xác định xu hướng, thói quen và tiềm năng tiêu thụ cà phê; (iii) đưa ra một số khuyến nghị chính sách mang tính định hướng để tăng cường tiêu thụ cà phê trong nước
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên việc
• Thu thập số liệu sơ cấp: Bộ số liệu điều tra mức sống dân cư 2002-04, VICOFA
và số liệu tiêu thụ cà phê một số nước trên thế giới
• Thu thập số liệu sơ cấp:
9 Điều tra hộ: hơn 700 hộ tại hai TP HN và HCM, lấy mẫu theo phương pháp phân tầng theo dân số, có khả năng đại diện cho thành phố, phân bổ mẫu được nêu ở phần sau
9 Điều tra quán cà phê: mỗi TP điều tra 20 quán cà phê, không đại diện được cho
TP, chỉ xác định xu hướng
II TIÊU THỤ CÀ PHÊ NỘI ĐỊA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Trong 30 năm qua, cầu về cà phê thế giới đã tăng khoảng 11 lần Tuy nhiên mỗi lần tăng như thế thường không kéo dài quá 2 năm Mức tăng gần nhất là khoảng 90 tấn/năm (1.5-1.7%), chủ yếu ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Nga và ĐôngÂu
Trang 3Figure: Mức tiêu thụ cà phê trên đầu người ở một số nước (kg/người)
0.00
1.00
2.00
3.00
4.00
5.00
6.00
EC
Mỹ
Nước NK khác
Nhật Bản
Source: USDA (2004)
Tại các nước sản xuất, cầu về cà phê cũng tăng, đặc biệt là Braxin, nơi mà chính phủ và người dân bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc thúc đẩy tiêu thụ cà phê nội địa Braxin đã trở thành quốc gia không những sản xuất cà phê đứng đầu thế giới mà còn
là nước tiêu thụ cà phê đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Môĩ năm, Braxin tiêu thụ khoảng hơn 13 triệu bao cà phê, chiếm khoảng 40% tổng sản lượng cà phê sản xuất ra Theo đánh giá của chính phủ Braxin, sức mua cà phê của người dân trong nước đang tăng và còn tiếp tục tăng trong những năm tới Lượng cà phê tiêu thụ ở Braxin đã tăng nhanh hơn mức dự kiến Tính tới tháng 10/2004, mỗi người dân Braxin tiêu thụ tới 4.01 kg cà phê/năm đạt mức cao nhất từ thập kỷ 60 trở lại đây Ngành cà phê Braxin đang đặt mục tiêu tăng tiêu thụ nội địa lên tới 1.5 triệu bao hàng năm thông qua các chương trình quảng cáo và xúc tiến thương mại để tăng tiêu thụ bình quân đầu người lên tới 5.3 kg/năm Tiêu thụ cà phê ở Inđônêxia cũng có bước tăng đáng kể trong những năm qua Trong giai đoạn
từ 1998-2003, tiêu thụ cà phê nội địa nước này đã tăng hơn 50.000 tấn, tương đương với khoảng 10% Hiện tại, mức tiêu thụ cà phê nội địa ước tính chiếm khoảng gần 30% tổng sản lượng cà phê họ sản xuất ra trong năm 2004
Mức cầu về cà phê ở những nước tiêu thụ cà phê truyền thống có xu hướng giảm nhưng cầu về cà phê hoà tan lại tăng Ở những nước này, cà phê chất lượng cao đang được người tiêu dùng ưa chuộng
Trang 4Theo dự báo của Reuters, về lâu dài triển vọng thị trường cà phê không khả quan vì khi giá nhích lên, người sản xuất lập tức tăng đầu tư và tăng diện tích trồng trọt, sản lượng lập tức tăng lên Sản lượng cà phê thế giới vụ 05-06 dự kiến 6.480 nghìn tấn, với lượng tồn kho từ vụ trước: 1.320 nghìn tấn Như vậy tổng cung cà phê trong vụ tới đạt khoảng 7.800 nghìn tấn, nhu cầu toàn cầu vẫn khoảng 6.900 nghìn tấn (115 triệu bao) Chênh lệch giữa cung và cầu vẫn khá lớn (khoảng gần 1 triệu tấn) Như vậy, trong thời gian tới, tăng tiêu thụ cà phê nội địa vẫn là một trong những giải pháp quan trọng giúp làm cân bằng thị trường thế giới (điều này đã được khẳng định trong Hội thảo cà phê thế giới lần thứ hai tại Brazin tháng 9/2005)
Mức tiêu thụ cà phê đầu người ở Việt Nam vẫn còn thấp
Theo kết quả điều tra mức sống dân cư (VLSS) của Tổng cục Thống kê (GSO), lượng tiêu thụ trung bình của những người tiêu thụ cà phê Việt Nam là 1,25 kg/người/năm trong năm 2002 Trong đó, lượng và giá trị tiêu thụ nội địa (2,42kg/người/năm và 20,3 nghìn đồng/người/năm) cao hơn rất nhiều so với nông thôn (0.9 kg và 5,7 nghìn đồng) Mức tiêu thụ đầu người cũng tăng dần theo chiều tăng của thu nhập, với chênh lệch về lượng tiêu thụ giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất là khoảng 2,5 kg/người/năm Theo kết quả điều tra này, cả hai khu vực thành thị và nông thôn chủ yếu đều tiêu thụ cà phê uống liền (2,14 kg cà phê uống liền/người/năm ở thành thị và 0,8 kg tại nông thôn) Như vậy, trong năm 2002, lượng tiêu thụ trong nước các loại cà phê đã chế biến chiếm khoảng 13% tổng sản lượng cà phê quả
Theo VLSS 2004, giá trị tiêu thụ trong nước các loại cà phê chiếm khoảng 9.19% tổng giá trị XK Trong khi đó theo VICOFA, tiêu thụ cà phê trong nước của Việt Nam năm
2003 chiếm khoảng 4,4% tổng sản lượng
Như vậy, ở VN chưa có nguồn thống kê thống nhất về tiêu thụ cà phê trong nước của VN, gây khó khăn trong việc phân tích thị trường Tuy nhiên, theo nguồn nào thì mức tiêu thụ trong nước của VN vẫn ở mức thấp so với TG (27.7%)
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 51 Kết quả điều tra hộ gia đình
Điều tra hộ gia đình trong nghiên cứu được tiến hành tại hơn 700 hộ trong hai thành phố
Hà Nội và thành phố HCM Đối tượng phỏng vấn tại các hộ chủ yếu là người chịu trách nhiệm mua lương thực cho gia đình Các hộ gia đình có trung bình 4 thành viên/hộ với độ tuổi trung bình khoảng 35 tuổi
Trong số các hộ điều tra, theo quan sát của người điều tra thì có tới 71% là hộ trung bình, 11% là hộ nghèo và 18% hộ giàu Tình trạng việc làm các thành viên trong hộ có khác biệt giữa hai thành phố Ở Hà Nội, người dân được điều tra chủ yếu đã về hưu (chiếm 20%), làm kinh doanh (chiếm 25% và làm trong các cơ quan nhà nước (chiếm khoảng 14%) trong khi đó ở TP HCM chủ yếu là người buôn bán, thương gia (chiếm 35%), người làm trong cơ quan nhà nước chỉ chiếm 7% Sự khác biệt trong phân bố nghề
nghiệp giữa hai thành phố cũng cho thấy sự khác biệt đối tượng tiêu thụ cà phê
1.1 Tiêu thụ cà phê trong gia đình
Tổng mức tiêu thụ của hộ
Theo kết quả điều tra, tổng mức tiêu thụ cà phê trong gia đình của người Hà Nội thấp hơn rất nhiều so với TP HCM (với mức chênh lệch về lượng khoảng 900 gr/người/năm) Trong đó, ở Hà Nội, Quận Ba Đình, Cầu Giấy, Hoàng Mai tiêu thụ chính (1150, 828 &
837 gr/người/năm) Và ở TP HCM, Quận Tân Phú, Quận 3, Quận 1 và Quận 11 là các quận tiêu thụ chính (2230, 2260, 1772, 1736 gr/người/năm)
Hình: Tình hình tiêu thụ cà phê đầu người hai thành phố
0 500
1000
1500
2000
Lượng mua đầu người (gr) Giá trị mua đầu người (000đ)
So với năm 2002, lượng tiêu thụ cà phê trong gia đình của cả hai thành phố đều lớn hơn Mức chênh lệch giữa hai năm của TP HCM là gần 350 gr/người/năm, lớn hơn nhiều so với mức chênh lệch của Hà Nội (186 gr/người/năm) Điều này cho thấy trong thời gian ngắn, TP HCM rất có tiềm năng tăng tiêu thụ cà phê trong khi ở Hà Nội, tốc độ tăng chậm hơn Mức tăng tiêu thụ cà phê ở Hà Nội chủ yếu là do nhận thức tốt hơn về dinh dưỡng cà phê và tác dụng đối với sức khoẻ, được cho nhiều hơn Tiêu thụ cà phê trong
Trang 6gia đình ở TP HCM tăng là nhờ chất lượng cà phê tốt hơn, nhận thức tốt hơn về tác dụng đối với sức khoẻ Tiêu thụ của một số hộ gia đình ở cả hai thành phố giảm đều do tiếp ít khách hơn hoặc được cho ít hơn
Hình; So sánh lượng tiêu thụ cà phê đầu người 2002-04 (gr/ng/năm)
0 500 1000 1500 2000
Hà Nội
TP HCM
So sánh lượng tiêu thụ cà phê giữa các nhóm thu nhập trong hai năm 2002 và 2004 cho thấy sự khác biệt đôi chút giữa hai thành phố Ở Hà Nội và TP HCM, lượng tiêu thụ đều tăng nhiều nhất ở:nhóm hộ giàu (715 gr/người/năm) Tại TP HCM lượng tiêu thụ ở nhóm
hộ nghèo cũng tăng mạnh (368), nhưng ở Hà Nội tiêu thụ cà phê ở nhóm hộ nghèo tăng không đáng kể mà tăng nhiều hơn ở nhóm hộ trung bình (187)
Hình: Tiêu thụ cà phê đầu người trong gia đình trong 2 năm (gr/người/năm)
0
500
1000
1500
2000
2500
Giàu Trung bình Nghèo
Hà Nội
TP HCM
2004
0 500 1000 1500 2000
Giàu Trung bình Nghèo
Hà Nội
TP HCM
2002
Cà phê tiêu thụ trong gia đình được chia làm hai loại: mua để uống và được cho/tặng, trong đó lượng mua để uống chiếm phần lớn (chiếm 73% ở Hà Nội và 88% ở TP HCM) Trong số các hộ gia đình được hỏi, có tới 20% số hộ ở Hà Nội và 15% số hộ ở TP HCM trả lời không bao giờ mua cà phê cho tiêu thụ gia đình
Trang 7Trong số các hộ mua cà phê để uống, các hộ Hà Nội chủ yếu mua vài lần/năm (chiếm 70% tổng số hộ), trong khi ở TP HCM có tới 53% số hộ mua vài lần/ tháng hoặc vài lần/tuần Điều này khiến cho tổng lượng cà phê mua để uống tại TP HCM cao hơn rất nhiều so với Hà Nội với mức chênh lệch hơn 900 gr/người/năm
Các hộ ở Hà Nội tiêu thụ cà phê chủ yếu vào mùa đông (31%) và lễ tết (62%) trong khi các hộ ở TP HCM không tiêu thụ khác biệt theo mùa (chỉ có 16% tiêu thụ khác biệt theo mùa) Các hộ ở Hà Nội mua cà phê về để uống trong nhà trong khi các hộ ở TP HCM chủ yếu mua về để tiếp khách
Ngoài cà phê mua về để tiêu thụ, các hộ gia đình còn uống cà phê được cho/tặng Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, lượng này không đáng kể, xấp xỉ bằng nhau giữa hai thành phố (201 gr/người/năm ở Hà Nội và 191 gr/người/năm ở TP HCM)
Tiêu thụ của từng cá nhân trong gia đình
Kết quả điều tra cho thấy, tần suất tiêu thụ cà phê của từng cá nhân trong gia đình có khác biệt lớn giữa hai thành phố Ở cả hai thành phố, vẫn còn số lượng lớn người dân không bao giờ uống cà phê (ở HN chiếm 48% và TP HCM 40%)
Trong số những người uống cà phê, ở Hà Nội, phần lớn thành viên trong gia đình tiêu thụ khoảng vài cốc/năm (chiếm 16%) và 2-3 cốc/tháng (14%) Trong khi đó ở TP HCM, có tới 32% số thành viên trong gia đình uống từ 1 cốc/ngày trở lên Điều này cho thấy xu hướng uống cà phê của từng thành viên trong hộ tại TP HCM sẽ lớn hơn Hà Nội
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
Không bao
giờ
Vài cốc/năm
1-3 cốc/tháng
1-4 cốc/tuần
4-6 cốc/tuần
1 cốc/ngày 2-3
cốc/ngày
Khác
TP HCM
Hà Nội
Thói quen uống các loại cà phê cũng có khác biệt giữa hai thành phố Ở Hà Nội, người dân chủ yếu uống cà phê hoà tan sữa trong khi ở TP HCM, người dân thích uống nhiều loại cà phê trong nhà, nhiều nhất là bột đen, sau đó đến hoà tan sữa, bột sữa và hoà tan đen Về thời điểm tiêu thụ, hầu hết các thành viên trong hộ đều không tiêu thụ vào thời
Trang 8điểm cố định Ngoài ra, rất nhiều người thích uống cà phê vào buổi sáng, số lượng người uống cà phê buổi trưa và buổi chiều không đáng kể
Hình; Số người uống các loại cà phê khác nhau ở hai TP
0 100 200 300 400 500
Hoà tan đen Hoà tan sữa Bột đen Bột sữa
Hà Nội
TP HCM
So với năm 2002, hầu hết các cá nhân trong hộ gia đình không thay đổi mức tiêu thụ cà phê: Hà Nội: 56% không thay đổi và TP HCM 82% Trong số những người thay đổi mức uống cà phê trong nhà, ở Hà Nội có 7% số người tăng và 2,4% giảm và ở TP HCM 15%
số người tăng và 3% giảm
Kết luận:
• TP HCM (1651 gr/người/năm) tiêu thụ trong gia đình nhiều hơn Hà Nội
(752gr)trong đó cà phê được biếu trong tổng số tiêu thụ ở HN (27%) cao hơn TP HCM (12%)
• Số hộ Hà Nội mua cà phê vài lần/năm chiếm đa số TPHCM chủ yếu là hộ mua vài lần/tháng hoặc tuần
• Mức này thấp hơn so với kết quả VLSS 2002 (2420 gr/người/năm) và mức trung bình thế giới (3500 gr/người/năm)
• Tiêu thụ năm 2004 cao hơn 2002 ở cả hai thành phố do chất lượng cà phê và nhận thức tốt hơn
• Không có liên hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và lượng cà phê tiêu thụ trong gia đình
• Dịp tiêu thụ chính: Hà Nội: hàng ngày, lễ tết; TP HCM: tiếp khách
• Mùa tiêu thụ chính: Hà Nội: mùa đông; TP HCM: không khác biệt theo mùa
1.2 Tiêu thụ cà phê ngoài gia đình
Tần suất tiêu thụ cà phê cá nhân ngoài gia đình cũng diễn biến tương tự như trường hợp tiêu thụ cá nhân trong gia đình, với TP HN có tần suất tiêu thụ ít hơn TP HCM Điều này cho thấy, giá trị tiêu thụ cà phê ngoài gia đình đầu người ở TP HCM (6000 đ/tuần/người)
Trang 9lớn hơn rất nhiều so với Hà Nội (2200 đ/tuần/người) Ngoài ra, giá cà phê ở TP HCM cao hơn Hà Nội cũng khiến cho giá trị tiêu thụ ở TP HCM cao hơn
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
Không bao
giờ
Vài cốc/năm
1-3 cốc/tháng
1-4 cốc/tuần
4-6 cốc/tuần
1 cốc/ngày 2-3
cốc/ngày
Khác
TP HCM
Hà Nội
Loại cà phê được tiêu thụ ngoài gia đình có khác biệt lớn giữa hai thành phố Trong khi ở
Hà Nội uống nhiều loại cà phê: bột đen, bột sữa và hoà tan sữa; thì ở TP HCM, người dân chủ yếu uống cà phê bột đen, bột sữa ít hơn và hầu như không uống cà phê hoà tan ở ngoài gia đình
Hình: Số người tiêu thụ các loại cà phê khác nhau ở Hà Nội và TP HCM
0
50
100
150
200
250
Bột đen Bột sữa Hoà tan
đen
Hoà tan sữa
Nam Nữ
0 50 100 150 200 250
Bột đen Bột sữa Hoà tan
sữa
Khác
Nam Nữ
Rất nhiều người không uống cà phê vào một buổi cố định (42% ở HN và 40% ở TP HCM) Trong số những người uống vào một buổi cố định thì phần lớn đều uống vào buổi sáng hoặc buổi tối, rất ít người uống vào buổi trưa hoặc chiều Họ uống chủ yếu ở các quán cà phê (77% ở HN và 85% ở TP HCM), văn phòng làm việc (4% ở HN và 6% ở TP HCM) và nhà bạn (18% ở HN và 6% ở TP HCM)
Tình hình tiêu thụ cà phê ngoài gia đình không khác nhau nhiều giữa nam và nữ Tại Hà Nội; đối tượng tiêu thụ nhiều cà phê ngoài gia đình là cán bộ NN, người kinh doanh và
Trang 10các đối tượng khác Trong khi đó, tại TP HCM, đối tượng tiêu thụ nhiều cà phê ngoài gia đình là người kinh doanh, công nhân và các đối tượng khác
So với năm 2002, hầu hết những cá nhân được phỏng vấn ở không thay đổi tiêu thụ cà phê ngoài gia đình, chiếm 89% ở Hà Nội và 93% ở TP Hồ Chí Minh
Kết luận:
• Quán cà phê HN ra đời sớm hơn, quy mô nhỏ hơn và chuyên môn hoá cao hơn HCM
• Nguồn cung chủ yếu là DN & người buôn bán trong nước, cà phê xuất sứ ở 2 vùng SX lớn của VN, chủ yếu là mua cà phê bột, lẫn và Arabica Lượng mua
2002 thấp hơn 2004, HN thấp hơn HCM
• Các quán chủ yếu bán đen đá nóng, nâu đá nóng và Arabica (rất ít hoà tan), đặc biệt HCM chỉ ưa chuộng cà phê bột đen
• Lượng người uống 02 ít hơn 04, lượng thấp hơn HN thấp hơn HCM
• Khách hàng ở HN chủ yếu là sinh viên, thanh niên, cán bộ; TPHCM: thanh niên, bạn bè, giới kinh doanh
• Tăng chất lượng, giảm giá thành, quảng cáo, phục vụ tốt là những giải pháp chủ yếu các quán cà phê khuyến nghị
2 Đề xuất chính sách
Đối với các Bộ ngành
• Thường xuyên tiến hành điều tra mức tổng cầu trong nước, xu hướng và đối tượng tiêu thụ
• Thiết lập nhóm chuyên gia xây dựng chiến lược tiêu thụ cà phê nội địa, học tập kinh nghiệm phát triển thị trường trong nước của các tổ chức quốc tế và các nước tiêu thụ lớn khác, đặc biệt là nước SX
• Chính phủ cần hỗ trợ về tài chính cho CT XTTM TT cà phê trong nước và CT phát triển toàn diện cà phê bền vững
• Cần đưa nội dung XTTM trong nước trong nội dung phát triển tổng thể ngành cà phê phát triển bền vững, đặc biệt trú trọng đến phương thức quản lý và định
hướng
• Chính phủ cần hỗ trợ các doanh nghiệp, người kinh doanh cà phê trong nước triển khai chương trình XTTM (về kỹ thuật và phương thức tổ chức)
Một số đề xuất cho chiến lược phát triển TT trong nước:
• Chọn và có chiến lược phân loại đối tượng phù hợp:
9 Giới trẻ, giới kinh doanh (trú trọng cà phê bột, chất lượng cao, có hương vị ở HCM),
9 Văn phòng, cơ quan nhà nước (HN): trú trọng cà phê hoà tan, có hương vị
• Chọn thời điểm thích hợp: HN: mùa đông, dịp lễ tết và mùa thi; HCM: dịp lễ tết
và mùa thi
• HN: nên lập các quán cà phê chuyên môn hoá; HCM: nên đa dạng hoá các loại nước uống để thu hút khách kết hợp CT khuyến mại uống cà phê
• DN nên thành lập các dây chuyền sản xuất cà phê chất lượng cao phục vụ nhu cầu:
ở tất cả các khâu trong chuỗi ngành hàng; hướng tới đăng ký chứng chỉ xuất sứ hoặc thương hiệu