1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

50 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2016 trong báo cáo về Tương lai của Việc làm đã chỉ ra 10 kỹ năng hàng đầu1 mà người lao động cần có để đáp ứng nhu cầu của công việc, trong đó phần lớn là các

Trang 1

Chuyên gia góp ý báo cáo:

TS Ngô Thị Ngọc Anh

PGS.TS Phạm Hương Trà

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI

GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

Thực hiện bởi:

Nguyễn Thị Hiển Trần Thị Hồng Nguyễn Thị Huệ

Hoàng Thu Hằng

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm

Báo cáo này do Chính phủ Australia hỗ trợ thông qua Quỹ Hỗ trợ Cựu sinh viên Australia Mọi quan điểm và nhận định trình bày trong báo cáo là của cá nhân tác giả và không nhất thiết thể hiện quan điểm của Chính phủ Australia

Trang 2

Mục lục

I Giới thiệu 5

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 5

1.2 Mục tiêu 8

1.3 Phạm vi nghiên cứu 8

1.4 Phương pháp nghiên cứu 9

1.5 Giới hạn của nghiên cứu 10

1.6 Định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 11

II Kết quả nghiên cứu 12

2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của LĐGVGĐ 12

2.2 Thực trạng công việc và một số vấn đề liên quan đến an toàn của LĐGVGĐ tại nơi làm việc 13

2.3 Đánh giá của xã hội đối với một số KNM cần thiết của LĐGVGĐ 20

2.3.1 Các kiến thức và KNM hiện có LĐGVGĐ 20

2.3.2 Mức độ hài lòng của xã hội đối với KNM của LĐGVGĐ 22

2.4 Mong muốn của xã hội và bản thân người lao động về KNM của LĐGVGĐ 24

2.4.1 Về phía người sử dụng LĐ 24

2.4.2 Về phía các bên liên quan 27

2.4.3 Về phía LĐGVGĐ 28

2.5 Nhu cầu của xã hội đối với LĐGVGĐ đã qua đào tạo KNM 29

2.6 Hình thức đào tạo KNM 30

III Kết luận và khuyến nghị 30

3.1 Kết luận 31

3.2 Khuyến nghị 32

Tài liệu tham khảo 32

Phụ lục 33

Trang 3

Danh mục bảng

Bảng 1 Đặc điểm mẫu khảo sát người sử dụngLĐGVGĐ 9

Bảng 2 Mẫu nghiên cứu định tính và định lượng 10

Bảng 3 Công cụ nghiên cứu 10

Bảng 4 Đặc điểm của LĐGVGĐ trong mẫu khảo sát 12

Bảng 5 Đề xuất từ phía LĐGVGĐ về một số KNN và KNM cần được đào tạo 28

Danh mục hình Biểu đồ 1 Phân bố LĐGVGĐ theo nơi xuất cư và loại hình công việc 14

Biểu đồ 2 Công việc mà LĐGVGĐ đảm nhiệm 15

Biểu đồ 3 Các hành vi đã xảy ra với LĐGVGĐ trong quá trình làm việc 16

Biểu đồ 4 Những phẩm chất hiện có của LĐGVGĐ 21

Biểu đồ 5 Những kỹ năng giao tiếp, ứng xử mà LĐGVGĐ 21

Biểu đồ 7 Mức độ hài lòng của người sử dụng LĐ đối với những phẩm chất của LĐGVGĐ 23

Biểu 8 Mức độ hài lòng của người sử dụng LĐ đối với kỹ năng giao tiếp, ứng xử của LĐGVGĐ 23

Biểu đồ 9 Mức độ hài lòng đối với các kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc của LĐGVGĐ 24

Biểu đồ 10 Những phẩm chất mà người sử dụng LĐ mong muốn 24

Biểu đồ 11 Kỹ năng giao tiếp, ứng xử mà người sử dụng mong muốn LĐGVGĐ được đào tạo 25

Biểu 12 Các kỹ năng tự bảo vệ mà LĐGVGĐ cần được đào tạo 25

Biểu 13 Các kiến thức mềm mà LĐGVGĐ cần được trang bị 26

Biểu 14 Ý thức và tác phong làm việc mà LĐGVGĐ cần có 26

Biểu 15 Kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc mà LĐGVGĐ cần được đào tạo 27 Biểu 16 Lý do mà người sử dụng LĐ muốn sử dụng LĐGVGĐ đã qua đào tạo kiến thức/ KNM 29

Biểu 17 Lý do mà người sử dụng LĐ không muốn sử dụng LĐGVGĐ đã qua đào tạo kiến thức/ KNM 30

Trang 4

Từ viết tắt

GFCD Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng

LĐGVGĐ Lao động giúp việc gia đình

GVGĐ Giúp việc gia đình

WEF Diễn đàn kinh tế tế giới

ILO Tổ chức lao động quốc tế

Trang 5

I Giới thiệu

1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Giúp việc gia đình (GVGĐ) là công việc ngày càng trở lên đa dạng về loại hình, hoạt động không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế Loại hình công việc này đòi hỏi rất nhiều kỹ năng nghề nghiệp (kỹ năng nghề (KNN) và kỹ năng mềm (KNM)) nhưng phần lớn lao động làm nghề GVGĐ lại thiếu kỹ năng và không được đào tạo chuyên nghiệp (Tayah, 2016) Vì công việc gia đình từ trước đến nay chủ yếu do phụ nữ và trẻ em gái làm

và thường không được trả công nên vô hình chung xã hội đã và đang đánh giá thấp loại hình lao động này, điển hình là việc LĐGVGĐ thường bị trả lương thấp, không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động nên không được pháp luật bảo vệ (Mnet, 2017, GFCD,

2013, GFCD, 2012, ILO, 2011) Trước khi tham gia vào thị trường lao động, phần lớn LĐGVGĐ, trong đó chủ yếu là nữ (trên thế giới, nữ LĐGVGĐ chiếm 87% (ILO, 2015); ở Việt Nam tỷ lệ này chiếm 98,6% (GFCD,2012, 2017)) đều chưa bao giờ được qua đào tạo

Họ chủ yếu bắt đầu làm việc bằng chính kinh nghiệm và thói quen của bản thân và thông qua quá trình tự đào tạo; tuy nhiên kinh nghiệm đó thường không đầy đủ, không toàn diện

và không chuyên nghiệp (GFCD, 2012)

Như chúng ta đã biết, KNM đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công việc và cuộc sống, đóng góp 85% vào thành công trong công việc; trong khi đó KNN/chuyên môn chỉ góp phần 15% (ESCAP et al., 2017) Trong kỷ nguyên số hiện nay, KNM càng ngày càng trở lên quan trọng hơn khi rô-bốt và các thiết bị máy móc hiện đại đang dần thay thế sức lao động của con người, thao tác nhiều kỹ năng nghề chính xác hơn con người, và vì vậy các kỹ năng mềm ngày càng dần lên ngôi, yêu cầu con người sử dụng nó để giải quyết các vấn đề phức tạp Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2016) trong báo cáo về Tương lai của Việc làm đã chỉ ra 10

kỹ năng hàng đầu1 mà người lao động cần có để đáp ứng nhu cầu của công việc, trong đó phần lớn là các KNM như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý con người, làm việc nhóm, thông minh cảm xúc, đánh giá và ra quyết định, nhận thức linh hoạt, định hướng dịch

vụ, v.v…

Trên thực tế, GVGĐ không phải là nhóm lao động được yêu cầu có những KNM thành thục

và được đào tạo bài bản như những loại hình lao động khác, nhưng cũng phải khẳng định

họ vẫn cần một số KNM quan trọng như kỹ năng giao tiếp và ứng xử, kỹ năng sắp xếp và

tổ chức công việc, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng tìm kiếm thông tin

và sự hỗ trợ.v.v… để thực hiện công việc hiệu quả và tự bảo vệ cho bản thân HelperPlace – một diễn đàn xã hội hoạt động dùng để kết nối LĐGVGĐ và người sử dụng LĐ tại Hồng Kông đã đưa ra 10 kỹ năng cần thiết mà LĐGVGĐ cần có khi làm việc Những kỹ năng này bao gồm: (i) sự đáng tin cậy; (ii) KNN; (iii) kỹ năng sơ cứu ban đầu; (iv) kỹ năng giao tiếp; (v) kỹ năng giải quyết vấn đề; (vi) kỹ năng lắng nghe tích cực; (vii) kỹ năng nấu nướng; (viii) kỹ năng hợp tác; (ix) kỹ năng tôn trọng và có hành vi đúng mực; (x) kỹ năng thể hiện

và giới thiệu bản thân khi xin việc Nhìn vào danh sách 10 kỹ năng trên, có thể thấy 7/10 kỹ năng (trừ kĩ năng nghề, kỹ năng sơ cứu ban đầu, nấu ăn có liên quan đến KNN) là KNM Điều đó cho thấy KNM đóng vai trò vô cùng quan trọng để LĐGVGĐ thực hiện công việc hiệu quả

1 10 kỹ năng bao gồm: (i) Giải quyết vấn đề phức tạp; (ii) Tư duy phản biện; (iii) Sáng tạo; (iv) Quản lý con người; (v) Làm việc nhóm; (vi) Thông minh cảm xúc; (vii) đánh giá và ra quyết định; (viii) Định hướng dịch vụ; (ix) Đàm phán; (x) Nhận thức linh hoạt

Trang 6

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là LĐGVGĐ hiện nay không chỉ chưa được đào tạo qua trường lớp để thực hành các KNN như lau dọn, nấu ăn, chăm sóc sức khỏe, làm việc nhà.v.v… mà còn chưa được đào tạo KNM để thực hành công việc có hiệu quả và duy trì quan hệ lao động một cách an toàn, bền vững Nếu các loại hình lao động khác có thể được đào tạo và thực hành KNM thông qua đào tạo tại trường (ở các cấp trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học), tại các trung tâm (thông qua các khóa đào tạo) hoặc tại nơi làm việc (thông qua công việc và tiếp xúc với đồng nghiệp, đối tác) thì LĐGVGĐ lại ít hoặc không có cơ hội được nâng cao KNM thông qua các loại hình đào tạo và môi trường trên Thứ nhất, LĐGVGĐ là nhóm không chỉ không có kỹ năng mà còn là nhóm có trình độ học vấn thấp (GFCD, 2012, GFCD, 2013, Mnet, 2017), hầu hết (77%) họ mới đạt trình độ trung học cơ sở (9/12 (hệ đào tạo hiện tại) hoặc 7/10 (hệ đào tạo cũ)), cũng có nhiều người mới chỉ tốt nghiệp cấp 1 và cấp 2 (GFCD, 2017), thậm chí một số ít còn không biết chữ Hơn nữa ở cấp giáo dục phổ thông, việc đào tạo và rèn luyện KNM chưa được chú trọng, đặc biệt là ở Việt Nam Thứ hai, nơi làm việc của LĐGVGĐ khá đặc thù, nếu là LĐGVGĐ theo giờ, làm theo hình thức tự làm hoặc thông qua sự quản lý của công ty, thì cơ hội được tiếp xúc với nhiều môi trường làm việc (các gia đình sử dụng lao động khác nhau) hoặc với đồng nghiệp (từ công ty hoặc cơ sở môi giới) sẽ nhiều hơn, như vậy khả năng tự mở mang kiến thức nghề nghiệp và trau dồi KNM cũng tốt hơn; nhưng điều đáng quan tâm ở đây là nhóm LĐGVGĐ sống cùng người sử dụng LĐ không có nhiều cơ hội để trau dồi KNM trong công việc Họ thường sống và làm việc khép kín trong phạm vi nhà ở của người sử dụng LĐ, ít có cơ hội tiếp xúc và giao lưu với bên ngoài, vì vậy việc tự đào tạo hoặc nâng cao KNM cho bản thân là rất khó Ngoài ra nhóm lao động này cũng có ít cơ hội được tham gia các khóa đào tạo dành cho LĐGVGĐ vì người sử dụng LĐ ít hoặc không tạo điều kiện

để họ tham gia, họ cũng không có thời gian tham gia vì phải làm việc nhiều giờ (thường trên

10 giờ/ngày) (GFCD, 2012) nên họ lại càng bị hạn chế trong việc biết và thực hành kiến thức và KNM

Nghiên cứu tài liệu thứ cấp chỉ ra rằng hiện nay ở Việt Nam hoặc trên thế giới có rất ít tài liệu đào tạo chuyên biệt về KNN và KNM cho LĐGVGĐ Hơn nữa các tài liệu này mới chú trọng chủ yếu đến KNN của LĐGVGĐ mà chưa chú trọng đến KNM Ví dụ, công ty Helperchoice của Hồng Kông đưa ra một số kỹ năng mà LĐGVGĐ cần được đào tạo khi bắt đầu công việc, bao gồm các KNN để làm việc nhà nói chung như lau dọn, nấu ăn, đi chợ

và kỹ năng chăm sóc trẻ em và người già Hầu hết các kỹ năng mà công ty đưa ra đều liên quan đến các KNN mà người lao động cần biết Ví dụ liên quan đến chăm sóc trẻ em, công

ty Helperchoice yêu cầu người lao động cần nắm được thức ăn mà cần cho trẻ ăn các bữa, khi nào thì nên cho trẻ đi ngủ, mỗi ngày trẻ được ăn bao nhiêu kẹo, thời gian xem TV là bao lâu, làm thế nào để tạo kỷ luật cho trẻ và khiến chúng cư xử thân thiện với mọi người, v.v (Helperchoice, 2018) Các kỹ năng nói trên nhìn chung đều liên quan đến KNN mà LĐGVGĐ nên có, nhưng điều đáng nói là để thực hiện các công việc đó một cách hiệu quả, thì không thể thiếu các KNM, đặc biệt là các kỹ năng để trẻ biết nghe lời, biết tuân theo kỷ luật đề ra và biết cư xử đúng mực với mọi người Trong trường hợp đó, KNM như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng thương thuyết là những kỹ năng rất cần thiết

để LĐGVGĐ dạy trẻ và giao tiếp với trẻ tốt

Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có nghiên cứu hay tài liệu nào riêng về KNM dành cho LĐGVGĐ ILO, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình

và Phát triển cộng đồng (GFCD), Mạng hành động vì người di cư (Mnet) là một trong số ít

Trang 7

các tổ chức đã và đang thực hiện một vài nghiên cứu về LĐGVGĐ ở Việt Nam từ năm 2002 trở lại đây Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ tập chung chủ yếu về thực trạng LĐGVGĐ ở Việt Nam, pháp luật, chính sách liên quan đến LĐGVGĐ, việc thực thi quyền

và nghĩa vụ của người LĐGVGĐ và người sử dụng LĐ trong quan hệ lao động, thời giờ làm thêm, thời giờ nghỉ ngơi, lương, thưởng, và KNN cần thiết cho LĐGVGĐ

Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển Cộng đồng (GFCD) là một tổ chức tiên phong trong việc nghiên cứu và thực hiện vận động chính sách bảo vệ quyền của LĐGVGĐ

ở Việt Nam từ năm 2007 Giai đoạn 2012 - 2015, với sự hỗ trợ của Oxfam và Quỹ Rosa LuxemBurg Stiftung (Đức), GFCD đã thực hiện dự án tại 5 tỉnh/thành phố bao gồm Hà Nội, Nam Định, Khánh Hòa, Tp Hồ Chí Minh và Vĩnh Long Một trong những hoạt động trọng tâm của dự án là xây dựng tài liệu và thử nghiệm đào tạo KNN cho LĐGVGĐ Tài liệu này bao gồm các mô-đun sau:

Mô-đun 1: Kiến thức cơ bản (i) Một số vấn đề của Pháp luật Việt Nam

liên quan đến LĐGVGĐ; (ii) Tâm sinh lý con người theo chu kỳ vòng đời;

(iii) Kỹ năng giao tiếp - ứng xử của người GVGĐ với gia đình chủ; (iv)

Kỹ năng tự bảo vệ; (v) Đạo đức nghề giúp việc gia đình

Mô-đun 2: Một số kỹ năng cơ bản trong công việc gia đình: (i) Kỹ năng

lau dọn nhà cửa; (ii) Kỹ năng chế biến các món ăn thông thường; (iii) Kỹ

năng sử dụng và bảo quản một số đồ dùng thông dụng trong gia đình; (iv)

Phân loại và đổ rác thải

Mô-đun 3: Kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe các thành viên trong

gia đình (i) Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; (ii) Phòng tránh một số

bệnh thường gặp ở người cao tuổi; (iii) Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ từ

0-6 tuổi; (iv) Phòng tránh một số bệnh trẻ em thường gặp; (v) Phòng tránh

tai nạn thương tích cho trẻ em tại gia đình; (vi) Chăm sóc trẻ khuyết tật

tại gia đình

Nhìn vào các hợp phần đào tạo trên, có thể thấy hợp phần 1 có 3 chuyên đề đào tạo KNM cho LĐGVGĐ Tài liệu đã được sử dụng đểđào tạo giảng viên nguồn của Công ty cổ phần phát triển dịch vụ Nhà sạch HMC (Jupviec.vn) để thực hiện đào tạo nghề cho LĐGVGĐ Tuy nhiên, tài liệu này được xây dựng chủ yếu nhằm đào tạo KNNGVGĐ cho người lao động chứ không phải KNM Cấu phần về kỹ năng ứng xử, giao tiếp, và tự bảo vệ trong tài liệu chỉ là những chuyên đề chiếm ít thời lượng đào tạo và các nội dung chưa được chi tiết, cần cập nhật và chuyên sâu hơn Trong khi đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích cũng như nâng cao tay nghề cho người lao động, đảm bảo việc làm bền vững cho GVGĐ là mục tiêu không chỉ ILO mà cả Chính phủ Việt Nam đều hướng tới (thể hiện trong 5 Điều về LĐGVGĐ, từ 179-183 trong Bộ luật Lao động sửa đổi 2012) Vì vậy, việc nghiên cứu mong muốn và nhu cầu xã hội đối với KNM của LĐGVGĐ cũng như xây dựng tài liệu đào tạo KNM cho LĐGVGĐ có ý nghĩa quan trọng và thiết thực trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của LĐGVGĐ cũng như của người sử dụng LĐ Bên cạnh đó nhu cầu không chỉ ở Công ty HMC mà rất nhiều người sử dụng lao động và chính bản thân LĐGVGĐ cũng đang có mong muốn được đào tạo về kỹ năng mềm Việc biên soạn tài liệu kiến thức cơ bản về KNM dành cho LĐGVGĐ để đào tạo và giúp họ có thể giữ được mối quan hệ trong công việc tốt hơn, được an toàn hơn trong công việc là rất thiết thực, phù hợp với các đối tượng trong xã hội hiện nay

Trang 8

Với mong muốn bảo vệ quyền và lợi ích của LĐGVGĐ, tại nơi làm việc cho LĐGVGĐ,

trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy quyền của LĐGVGĐ tiếp cận nơi làm việc an toàn” do

Chính phủ Australia tài trợ thông qua Quỹ Hỗ trợ Cựu sinh viên Australia năm 2018 - 2019, Nhóm cựu học sinh Úc (gồm 4 thành viên, Nguyễn Thị Hiển (trưởng nhóm), Nguyễn Thị Huệ, Trần Thị Hồng và Hoàng Thu Hằng) với sự hỗ trợ kỹ thuật từ GFCD đã thực hiện

Nghiên cứu “Nhận thức và mong muốn của xã hội về KNM của LĐGVGĐ” từ tháng 1 -

tháng 6 năm 2019 nhằm đánh giá mong muốn của người sử dụng LĐ, LĐGVGĐ và các bên liên quan (công ty đào tạo và môi giới LĐGVGĐ, chính quyền địa phương) đối với các KNM mà LĐGVGĐ cần có

Phần tiếp theo của Báo cáo sẽ trình bày kết quả của Nghiên cứu nhằm đưa ra một số thông tin về LĐGVGĐ hiện nay, những trải nghiệm của người lao động trong công việc và cuộc sống liên quan đến việc thiếu/có đầy đủ KNN và KNM, các nguy cơ nghề nghiệp có thể ảnh hưởng tới sự an toàn, hiệu quả công việc của người lao động khi thiếu các KNM; đánh giá của người sử dụng LĐ và doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ gia đình về những kỹ năng cần thiết mà người lao động cần biết và thực hành tốt để làm việc hiệu quả, những kỹ năng hiện nay mà người lao động thiếu hụt, và gợi ý một số kỹ năng chính cần được xây dựng thành tài liệu đào tạo cho LĐGVGĐ

1.2 Mục tiêu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu chính là tìm hiểu nhận thức và mong muốn của

xã hội đối với KNM của LĐGVGĐ

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá mong muốn và nhu cầu của xã hội đối

với KNM của LĐGVGĐ Nội dung đánh giá bao gồm:

- Những trải nghiệm cá nhân về công việc của LĐGVGĐ;

- Những khó khăn, thách thức LĐGVGĐ gặp phải trong quá trình làm việc;

- Đánh giá nhận thức chung của xã hội về những kỹ năng mềm mà LĐGVGĐ cần có;

- Đánh giá sự hài lòng của người sử dụng LĐ đối với một số KNM của LĐGVGĐ;

- Đánh giá mong muốn của xã hội (bao gồm người sử dụng LĐ, LĐGVGĐ, doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ gia đình, chính quyền địa phương) đối với một số KNM của LĐGVGĐ;

- Tìm hiểu các hình thức đào tạo KNM phù hợp với LĐGVGĐ;

- Đưa ra những khuyến nghị cụ thể về một số KNM chính mà LĐGVGĐ cần được đào tạo

Đối tượng thu thập thông tin:

(i) Người sử dụng LĐ;

(ii) LĐGVGĐ;

(iii) Chính quyền địa phương (cấp phường) tại 3 quận: Thanh Xuân, Hai Bà Trưng, Cầu Giấy;

(iv) Đại diện Công ty cổ phần dịch vụ nhà sạch HMC (Jupviec.vn)

Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 - 6 năm 2019 tại Hà Nội

Trang 9

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin

Nghiên cứu này được thực hiện bằng cả phương pháp định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng online trên Google Driveđược thực hiện với người sử dụng LĐ thông

qua bảng hỏi bán cấu trúc được đăng tải trên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, và được chia sẻ qua email cá nhân của các cựu học sinh Australia, trong nhóm các bạn bè, đồng nghiệp của các cựu học sinh Lưu ý người trả lời phiếu hỏi phải là người đã hoặc đang sử dụng LĐGVGĐ theo giờ hoặc sống cùng

Tổng số người sử dụng LĐ tham gia khảo sát online là 150 người tại 11 tỉnh/thành phố trên

cả nước, trong đó tập trung đông nhất tại Hà Nội (chiếm 56,7% tổng mẫu) và TP Hồ Chí Minh (33,3%), còn lại đến từ các tỉnh/thành phố như Bắc Giang, Hải Dương, Thừa Thiên - Huế, Hà Giang, Quảng Nam, Thanh Hóa, Vĩnh Long, Đắk Lắk, Đà Nẵng Theo giới tính, mẫu khảo sát phân bổ chưa thực sự đồng đều, có tới 86,7% là nữ tham gia khảo sát và chỉ

có 13,3% là nam Lý do cho sự không đồng đều là vì điều tra được thực hiện ngẫu nhiên trên mạng - bảng hỏi được đăng tải trên các trang mạng xã hội và được các cựu học sinh chia sẻ rộng rãi trong vòng bạn bè (bao gồm cả nam và nữ), vì vậy nên nhóm không thể chủ đích chọn người trả lời đảm bảo có sự cân bằng giới tính Ngoài ra, một lý chính dẫn đến người trả lời bảng hỏi online chủ yếu là nữ là vì hiện nay quán xuyến công việc nhà (bao gồm thuêGVGĐ và trao đổi trực tiếp thường xuyên với LĐGVGĐ) vẫn chủ yếu là do phụ

nữ phụ trách nên phụ nữ có sự quan tâm và có hiểu biết hơn đối với LĐGVGĐ Vì vậy họ

có xu hướng quan tâm đến vấn đề này và tham gia trả lời phiếu hỏi nhiều hơn.Theo dân tộc, người sử dụng LĐ tham gia trả lời phiếu hỏi chủ yếu là người Kinh (chiếm 98%), chỉ có 2%

là thuộc các dân tộc khác (Tày, Hoa) Độ tuổi trung bình của người sử dụng LĐ là 39,7 tuổi.Về trình độ học vấn, có hơn 93% người sử dụng LĐcó trình độ đại học trở lên, một số

ít có trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp

Bảng 1 Đặc điểm mẫu khảo sát người sử dụngLĐGVGĐ

Trang 10

Nghiên cứu định tính (TLN và PVS) được thực hiện vớingười sử dụng LĐ, đại diệncông ty

Jupviec.vn, đại diện chính quyền địa phương và LĐGVGĐ đang làm việc tại các phường ở các quận Thanh Xuân, Cầu Giấy, và Hai Bà Trưng, Hà Nội

Mẫu nghiên cứu

Bảng 2 Mẫu nghiên cứu định tính và định lượng

Đối tượng Phỏng vấn sâu Thảo luận nhóm Tổng

Số cuộc Số người Số cuộc Số người Số cuộc Số người

Công cụ nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc và hướng dẫn PVS, TLN để thu thập thông tin với các nhóm đối tượng khác nhau Các công cụ nghiên cứu trình bày ở Bảng 3

Bảng 3 Công cụ nghiên cứu

6 Hướng dẫn PVS Chính quyền địa phương nơi LĐGVGĐ đang làm việc

1.5 Giới hạn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có quy mô mẫu nhỏ, chủ yếu phục vụ đánh giá nhu cầu của xã hội đối với KNM của LĐGVGĐ nên tính đại diện của nghiên cứu bị hạn chế, tức là kết quả nghiên cứu chưa thể phản ánh hết thực nhu cầu của xã hội đối với các KNM của LĐGVGĐ Quá trình

Trang 11

thực hiện nghiên cứu cũng gặp một số khó khăn trong việc thu thập thông tin điều tra online, nên việc thu thập thông tin có sự điều chỉnh nhỏ về đối tượng người sử dụng LĐ trả lời

phỏng vấn Mục đích ban đầu của phiếu là hướng tới người sử dụng LĐ đang sử dụng

LĐGVGĐ trả lời phiếu, tuy nhiên nhóm nghiên cứu gặp khó khăn khi không thể tiếp cận đủ

số người sử dụng LĐ để trả lời phiếu, sau đó nhóm mở rộng đối tượng sang người sử dụng

LĐ đã từng thuê LĐGVGĐ để có thể thu thập đủ số lượng phiếu mong muốn cho điều tra

Việc thay đổi trên theo đánh giá kỹ thuật của nhóm là không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả điều tra

Nghiên cứu thực hiện đánh giá chung mong muốn và nhu cầu của xã hội đối với các KNM của LĐGVGĐ mà chưa có điều kiện tách riêng nghiên cứu chuyên sâu hai nhóm LĐGVGĐ sống cùng và làm theo giờ Trong quá trình trả lời phỏng vấn, một số người trả lời có phản ánh lại có sự khác nhau về nhu cầu kỹ năng mềm giữa LĐGVGĐ sống cùng và làm theo giờ Tuy nhiên vì mục tiêu của dự án là xây dựng kỹ năng mềm chung cho LĐGVGĐ ở Việt Nam nên kết quả phân tích kỹ năng mềm dành chung cho cả 2 loại hình LĐGVGĐ

1.6 Định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu

LĐGVGĐ Định nghĩa LĐGVGĐ sử dụng trong nghiên cứu này theo Điều 179 của Bộ luật

Lao động 2012

1 LĐGVGĐ là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia

đình của một hoặc nhiều gia đình Các công việc trong gia đình bao gồm

công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc

người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng

không liên quan đến hoạt động thương mại

2 Người làm các công việc giúp việc gia đình theo hình thức khoán việc

thì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật này

Kỹ năng mềm Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về KNM, mỗi định nghĩa khai thác ở các

khía cạnh khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau Ví dụ KNM trong kinh doanh sẽ khác

KNM trong giáo dục, y tế, v.v… Theo Cimatti (2016), KNM dùng để chỉ “năng lực chuyển

đổi của cá nhân, ví dụ như năng lực xã hội tự nhiên, khả năng ngôn ngữ và giao tiếp, sự thân thiện và khả năng làm việc nhóm và các đặc điểm, tính cách khác đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người” (p 1) Theo Robles (2012), KNM trong học thuật là “đặc điểm giao tiếp giữa người với người (interpersonal qualities), hay còn gọi là kỹ năng của con người và thuộc tính cá nhân mà một người sở hữu” (Robles, 2012, p 1) Trong nghiên cứu

này, KNM được hiểu là các đặc điểm cá nhân mà một người dùng để giao tiếp hiệu quả và hài hòa với người khác và được đánh giá ở một số khía cạnh sau: (i) phẩm chất, đạo đức nghề GVGĐ; (ii) kỹ năng giao tiếp, ứng xử; (iii) kỹ năng tự bảo vệ; (iv) kỹ năng tìm kiếm thông tin và sự hỗ trợ; (v) kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc

Trang 12

II Kết quả nghiên cứu

2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của LĐGVGĐ trong mẫu nghiên cứu

Về giới tính, kết quả điều tra online cho thấy 100% LĐGVGĐ đang làm việc tại địa bàn

khảo sát là nữ Kết quả trên hoàn toàn phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đó ở Việt Nam về LĐGVGĐ Cụ thể, các nghiên cứu của GFCD và Mnet trước đây đều chỉ ra rằng,

có tới 98,6% LĐGVGĐ ở Việt Nam là nữ (GFCD, 2012, GFCD, 2013, Mnet, 2017) Kết quả này cũng tương đồng với ước tính của ILO (2015) về số lượng của LĐGVGĐ trên thế giới khi báo cáo cho biết có tới 87% lao động di cư đang làm GVGĐ ở thị trường lao động quốc tế là nữ

Về độ tuổi, kết quả khảo sát chỉ ra tính đa dạng về độ tuổi của LĐGVGĐ (từ 20 - 63 tuổi)

Tuy nhiên, độ tuổi trung bình của LĐGVGĐ là 48,6 - cho thấy nhiều phụ nữ trung niên và cao tuổi đang là nhóm hiện làm GVGĐ Kết quả trên phù hợp với nhận định của các nghiên cứu trước đây là LĐGVGĐ chủ yếu là phụ nữ trung niên thiếu việc làm, xuất thân từ nông thôn, vùng sâu, vùng xa, có học vấn thấp và không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, ra thành phố làm GVGĐ với mong muốn kiếm thêm thu nhập (GFCD, 2013, GFCD, 2012)

Về trình độ học vấn, kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 6,7% LĐGVGĐ có trình độ từ trung

cấp chuyên nghiệp trở lên (trung cấp, cao đẳng và từ đại học trở lên); chủ yếu LĐGVGĐ có trình độ THCS (29,3%) và THPT (28.0%) và tiểu học (13,3%) Có 1,3% LĐGVGĐ chưa từng đi học/mù chữ và 4% chưa tốt nghiệp tiểu học Kết quả trên phản ánh đúng với thực trạng chung của LĐGVGĐ hiện nay là có trình độ học vấn thấp, chưa được qua đào tạo nghề (nếu có đào tạo cũng là đào tạo trái ngành nghề) Hiện nay Việt Nam chưa có mã nghề cũng như chương trình đào tạo nghề dành riêng cho LĐGVGĐ (GFCD, 2017) Trình độ học vấn trên có ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội, khả năng của LĐGVGĐ tham gia các khóa đào tạo cũng như nâng cao trình độ KNM của bản thân

Về tình trạng hôn nhân, 64,7% LĐGVGĐ đang có vợ/chồng; tỷ lệ chưa có vợ/chồng chiếm

10,7%, còn lại là góa, ly dị, ly thân 22,7% Tình trạng hôn nhân trên cho thấy số lượng phụ

nữ góa, ly di, li thân đi làm GVGĐ chiếm một tỷ lệ không cao nhưng đáng kể (gần ¼ số người đang làm GVGĐ tham gia mẫu khảo sát)

Bảng 4 Đặc điểm của LĐGVGĐ trong mẫu khảo sát

Trang 13

THPT 42 28

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Số lượng bình quân LĐGVGĐ mà người sử dụng LĐ đã từng sử dụng là 3,5 người Đáng

lưu ý là hiện nay số người sử dụng LĐ theo giờ đang tăng lên và đã chiếm tỷ trọng lớn hơn

so với số người sử dụng LĐ sống cùng (54% so với 46%) Điều này phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội khi mà nhiều gia đình ở thành phố với mức sống khá giả có nhu cầu thuê người giúp việc, tuy nhiên họ chỉ mong muốn thuê trong một thời gian nhất định

và không muốn LĐGVGĐ sống cùng nên xu hướng thuê GVGĐ ngày càng trở lên phổ biến hơn

Kênh thông tin mà chủ sử dụng LĐ hiện nay dùng nhiều nhất để tuyển LĐGVGĐ là kênh

phi chính thức (qua bạn bè/ người thân giới thiệu) (chiếm 82,7%); trong khi đó, việc sử dụng kênh thông tin chính thức như qua công ty/trung tâm tuyển dụng và đào tạo LĐGVGĐ, mạng Internet/Báo chí, và Chợ việc làm chỉ chiếm lần lượt là 11,3%; 5,3%; và 0,7% Các con số trên chỉ ra rằng thị trường LĐGVGĐ vẫn chủ yếu hoạt động qua kênh phi chính thức Điều đó cũng cho thấy loại hình lao động này vẫn chưa có tính chuyên nghiệp và chưa được Nhà nước, các trung tâm môi giới thiệu việc làm môi giới quan tâm thúc đẩy phát triển

2.2 Thực trạng công việc và một số vấn đề liên quan đến an toàn của LĐGVGĐ tại nơi làm việc

Nơi xuất cư

Có tới 60,3% LĐGVGĐ trong mẫu khảo sát đến từ tỉnh/thành phố khác Kết quả trên có sự khác biệt nhỏ so với các nghiên cứu trước đó Ví dụ, nghiên cứu của GFCD (2017) chỉ ra rằng có tới 76% LĐGVGĐ là đến từ địa phương khác Trong nghiên cứu này, mặc dù phần lớn LĐGVGĐ sống cùng vẫn đến từ các địa phương khác (chiếm hơn 81%), tuy nhiên tỷ lệ LĐGVGĐ làm theo giờ đến từ các địa phương khác lại thấp hơn so với tỷ lệ LĐGVGĐ làm theo giờ sống tại địa phương họ đang làm việc (39,5% so với 60,5%) Kết quả này cho thấy, lao động địa phương đang có xu hướng tham gia nhiều hơn vào thị trường LĐGVGĐ, và chủ yếu theo hình thức làm theo giờ (linh hoạt, chủ động) Tuy nhiên, đáng lưu ý ở đây là một bộ phận lớn LĐGVGĐ (68,4%) vẫn đến từ khu vực nông thôn (hoặc của tỉnh/thành phố

Trang 14

này hoặc tỉnh/thành phố khác), trong khi nhóm LĐ này thường có trình độ học vấn thấp, chưa hoặc ít được đào tạo cả KNN và KNM, hiểu biết về KNM cũng bị hạn chế, đặc biệt là văn hóa vùng miền, lối sống thành thị, nên họ thường gặp khó khăn hơn nhóm LĐGVGĐ tại chỗ trong việc làm quen với lối sống, văn hóa và công việc tại nơi đến

Biểu đồ 1 Phân bố LĐGVGĐ theo nơi xuất cư và loại hình công việc (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Năng lực nghề

Theo người sử dụng LĐ trong mẫu khảo sát thì phần lớn LĐGVGĐ đều chưa qua đào tạo nghề hay kỹ năng mềm tại các Trung tâm đào tạo/ môi giới về LĐGVGĐ, chiếm 72,7% Ngoài ra, 20,7% người sử dụng LĐ trả lời “không biết” LĐGVGĐ mà họ đã/đang sử dụng

đã qua đào tạo nghề nghiệp hay chưa Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 6% LĐGVGĐ đã qua đào tạo nghề (trong đó có cả một số kiến thức về KNM) Kết quả TLN và PVS với LĐGVGĐ cũng chứng minh rằng phần lớn LĐGVGĐ chưa qua đào tạo nghề và KNM

… Trước khi đi làm giúp việc tôi chưa tham gia khóa đào tạo gì Tôi không có nhu cầu tham gia học nghề vì hiện tại công việc của tôi chỉ làm những công việc nội trợ, lau dọn nhà cửa… mà những công việc này tôi làm đã lâu, đã quen việc rồi; hơn nữa, nay tôi cũng đã lớn tuổi rồi nên không muốn học hành gì nữa, làm thêm mấy năm nữa rồi nghỉ…

(PVS LĐGVGĐ, 51 tuổi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân)

Công việc mà LĐGVGĐ thực hiện

Phần lớn người sử dụng LĐ thuê giúp việc để làm các công việc như lau dọn nhà cửa (chiếm 90%), rửa bát đũa (72%), giặt/ là/ sắp xếp quần áo (63,3%), nấu ăn (57,3%), chăm sóc trẻ

em (48%)… Chỉ có 2% LĐGVGĐ đảm nhiệm thêm công việc lái xe; chăm sóc người ốm/người khuyết tật (5,3%)

Đến từ khu vực thành thị của tỉnh/

thành này

Đến từ khu vực nông thôn của tỉnh/

thành này

Đến từ khu vực thành thị của tỉnh/

thành khác

Đến từ khu vực nông thôn của tỉnh/

thành khác Lao động giúp việc sống cùng Lao động giúp việc làm theo giờ

Trang 15

Biểu đồ 2 Công việc mà LĐGVGĐ đảm nhiệm (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Một số trải nghiệm cá nhân trong công việc và cuộc sống của LĐGVGĐ

Các LĐGVGĐ tham gia TLN và PVS đều cho biết họ khá thuận lợi khi đi làm công việc GVGĐ vì họ cho rằng bản thân họ có kinh nghiệm Theo họ “kinh nghiệm” họ có chính là các công việc liên quan đến GVGĐ cũng là các công việc mà họ đã làm từ nhiều năm nay

ở gia đình nên không bị “lạ lẫm” Một số cho biết họ đã đi làm GVGĐ nhiều năm nên lại càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm nên họ không gặp khó khăn gì nhiều

… Do cũng đi làm việc theo giờ trước khi làm GVGĐ ở cùng nên cũng

quen việc, không được đào tạo ở đâu, làm theo kỹ năng và kinh

nghiệm…

(PVS LĐGVGĐ phường Quan Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội)

Dù LĐGVGĐ tham gia trả lời phỏng vấn phần lớn đều nhận định là họ không gặp khó khăn

gì lớn trong công việc và cuộc sống khi đi làm giúp việc Tuy nhiên trên thực tế, khi nhóm nghiên cứu hỏi sâu và khai thác từng khía cạnh công việc của họ thông qua các trải nghiệm thì nhóm nghiên cứu phát hiện ra một số trải nghiệm cá nhân của họ có thể coi là những khó khăn, cản trở mà người lao động gặp phải trong quá trình làm việc Dưới góc độ của LĐGVGĐ thì những “trải nghiệm” này bình thường, không đáng kể và không đáng bận tâm, nhưng khi xét dưới góc độ về quyền của người lao động theo pháp luật quốc gia và quốc tế, quyền được bảo vệ nhân phẩm và tôn trọng, quyền được tự do ngôn luận và đi lại, quyền được bảo vệ an toàn và không bị phân biệt đối xử, quấy rối, bóc lột tại nơi làm việc thì có thể thấy LĐGVGĐ hiện nay vẫn chưa được hưởng và bảo vệ các quyền như các nhóm lao

động khác trong xã hội

Kết quả TLN và PVS với LĐGVGĐ và các bên liên quan cho thấy LĐGVGĐ gặp phải một

số vấn đề sau

Môi trường làm việc Theo kết quả khảo sát, môi trường làm việc của LĐGVGĐ khá “an

toàn” khi 83,3% người sử dụng LĐ trả lời rằng trong quá trình thuê LĐGVGĐ, bản thân cũng như các thành viên trong gia đình chưa bao giờ có các hành vi bóc lột hay lạm dụng lao động Tuy nhiên, các nguy cơ tiềm ẩn đối với LĐGVGĐ vẫn còn tồn tại Ở một số gia

2.0 5.3 6.0 9.3 18.7 20.7 26.7

48.0 57.3 63.3 72.0

90.0

Lái xe Chăm sóc người ốm/ người khuyết tật Chăm sóc phụ nữ trong thời gian mang thai/sau sinh

Chăm sóc người già Chăm sóc cây cảnh, vật nuôi Trông coi nhà cửa và tài sản

Đi chợ Chăm sóc trẻ em Nấu ăn Giặt/ là/ sắp xếp quần áo

Rửa bát đũa Lau dọn nhà cửa

Trang 16

đình sử dụng LĐGVGĐ vẫn có các hành vi như: giữ giấy tờ tùy thân của người lao động để làm tin (7,3%); mắng chửi khi người lao động làm việc không ưng ý (4%); không cho/ hạn chế người lao động giao lưu với những người xung quanh (3,3%); để người lao động bị hoặc ăn sau khi gia đình chủ ăn xong (3,3%); hay giữ lương để giữ chân người lao động (2,7%)

Biểu đồ 3 Các hành vi đã xảy ra với LĐGVGĐ trong quá trình làm việc (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của, Hà Nội, 2019

* Khó khăn về hòa nhập cộng đồng nơi đến, văn hóa gia đình người sử dụng LĐ Đa số

LĐGVGĐ từ nông thôn đến đều gặp những khó khăn ban đầu về lối sống, giao tiếp với các thành viên gia đình gia chủ và cộng đồng tại nơi đến (chủ yếu là do sự khác biệt về hoàn cảnh, lối sống giữa thành thị (nơi đến) và nông thôn (nơi đi)) Hơn nữa trước khi đi làm GVGĐ, hầu như tất cả LĐGVGĐ chưa được qua đào tạo, chưa được chuẩn bị các kỹ năng nghề và kỹ năng mềm nên hầu như họ đều gặp các trở ngại về hòa nhập cộng đồng và nhà của người sử dụng LĐ

… Công việc ở thành phố cũng khác khi mình còn ở nhà, lối sống công

việc cũng khác khi ở nông thôn Cũng có bỡ ngỡ trong quá trình mới đi

làm…

(PVS LĐGVGĐ phường Quan Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội) Một số LĐGVGĐ gặp khó khăn hòa nhập với lối sống, văn hóa gia đình của người sử dụng

… Ban đầu đi làm có nhiều khó khăn như chưa biết đi chợ, sử dụng máy

móc hiện đại, nhiều việc phải làm mà có mỗi 1 mình mình nên cũng

thấy đôi lúc căng thẳng…

(TLN LĐGVGĐ tại phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội)

* Nhiều LĐGVGĐ gặp khó khăn trong giao tiếp, ứng xử với chủ nhà Nguyên nhân chủ yếu

là do văn hóa và lối sống của gia đình người sử dụng LĐ khác với lối sống, và văn hóa của LĐGVGĐ

0.67 0.67

2.67 3.33 3.33 4.00

7.33

0 1 2 3 4 5 6 7 8

Để người giúp việc làm việc không có ngày nghỉ, làm

nhiều giờ hoặc làm cho nhiều gia đình

Đánh người giúp việc khi họ làm việc không ưng ý

Giữ lương để giữ chân người giúp việc

Không cho/ hạn chế người giúp việc giao lưu với

những người xung quanh

Để người giúp việc ngồi ăn riêng hoặc ăn sau khi gia

đình chủ ăn xong Mắng chửi khi người giúp việc làm việc không ưng ý

Giữ giấy tờ tùy thân của người giúp việc để làm tin

Trang 17

… Cách cư xử cũng giữa chủ nhà và người giúp việc cũng khác với việc

mình đối xử với con cái trong gia đình Nói gì cũng phải lựa lời mà nói

không được tự do thỏa mái…

(TLN LĐGVGĐ tại phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội)

* Một số LĐGVGĐ khác gặp khó khăn trong thực hiện công việc như không biết sử dụng

các đồ dùng gia dụng trong nhà (đồ điện tử), hoặc giao tiếp, giải quyết vấn đề với các thành viên trong nhà (người già, trẻ nhỏ), trong việc đàm phán công việc và đòi tăng lương

… Công việc ở nhà chủ khác nhà mình, chưa quen nên ban đầu cũng

bỡ ngỡ… chế biến món ăn chưa hợp khẩu vị nhà chủ…

(PVS LĐGVGĐ phường Quan Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội)

* Một số LĐGVGĐ lại gặp khó khăn trong kiểm soát thời gian, sắp xếp công việc hợp lý

Vì công việc gia đình thường đòi hỏi thực hiện nhiều việc cùng một lúc trong ngày (nấu ăn, giặt giũ, dọn dẹp, đi chợ, chăm trẻ con, chăm người ốm, người già.v.v.) Không phải người lao động hay bất cứ ai cũng thực hiện tất cả các công việc nêu trên nhưng ít nhất 1 LĐGVGĐ cũng cần thực hiện ít nhất 2-3 công việc nêu trên trong ngày Vấn đề ở chỗ nhiều lao đông chưa biết sắp xếp thời gian hợp lý để hoàn thành công việc theo kế hoạch trong ngày, dẫn đến lúng túng và hiệu quả công việc thấp Kết quả PVS với LĐGVGĐ chứng minh nhận định trên

Thỉnh thoảng nhà có việc, tôi cũng cảm thấy công việc quá tải, tôi

làm triền miên cả tuần cả tháng mà không lo cho sức khỏe của mình

Sau tôi cũng nhận ra sức khỏe là thứ quý nhất nên cũng sắp xếp công

việc cho hợp lý…

(PVS LĐGVGĐ tại phường Đại Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội)

* Trải nghiệm về thời gian làm việc kéo dài Kết quả TLN và PVS với LĐGVGĐ cho thấy,

hầu hết LĐGVGĐ (chủ yếu là lao động sống cùng chủ sử dụng LĐ) đều có thời gian làm việc kéo dài (trên 8 tiếng/ngày), và thường không có ngày nghỉ cuối tuần LĐGVGĐ chỉ được nghỉ vào dịp lễ, tết hoặc khi nhà có việc đột xuất Có lao động vẫn được trả nguyên lương, nhưng có lao động nghỉ ngày nào trừ tiền ngày ấy

… Tôi chăm bà tai biến nên nhiều đêm tôi không ngủ được, không ngủ

vì không dám ngủ vì sợ bà bị làm sao nên cứ hay thấp thỏm thức để

nhìn sang xem bà có bị làm sao không để còn xử lý kịp thời…

(PVS LĐGVGĐ phường Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội)

… Khi chủ nhà mới sinh thằng nhỏ ở viện về, tôi phải ngồi bế đứa nhỏ

cả đêm, mệt mỏi nên tôi cũng bức xúc…

… Mỗi ngày tôi phải làm việc 16h/ngày, mỗi tháng làm việc 30

ngày/tháng, tôi về quê ngày nào trừ tiền ngày đấy…

(PVS LĐGVGĐ phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội) Những bằng chứng trên cho thấy một số LĐGVGĐ đang bị lạm dụng thời gian lao động, vi phạm quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thời gian làm việc kéo dài chính là việc LĐGVGĐ

và chủ sử dụng LĐ không ký hợp đồng bằng văn bản Kết quả khảo sát định tính cho thấy, hầu hết LĐGVGĐ được tuyển dụng qua giới thiệu từ bạn bè/ người thân của người sử dụng

LĐ nên hầu như giữa người sử dụng và LĐGVGĐ đều không ký hợp đồng LĐ bằng văn

Trang 18

bản mà chủ yếu cam kết bằng miệng về mức lương, công việc phải làm và thời gian nghỉ ngơi trong tuần/tháng/năm Các kết quả nghiên cứu trước đó của (GFCD, 2017, GFCD,

2013, GFCD, 2012) cũng chỉ ra rằng hầu hết LĐGVGĐ (chiếm hơn 90%) không ký hợp đồng bằng văn bản Chỉ có những LĐGVGĐ tuyển dụng qua công ty/ trung tâm tuyển dụng

và đào tạo LĐGVGĐ thì mới ký hợp đồng LĐ bằng văn bản, nhưng người lao động sẽ ký với công ty chứ không phải trực tiếp ký với người sử dụng Nguyên nhân, LĐGVGĐ khi thực hiện công việc không ký hợp đồng bằng văn bản không chỉ do từ phía người sử dụng

LĐ không muốn ký mà phần nhiều cũng do chính LĐGVGĐ Người lao động không nhìn

rõ tầm quan trọng của việc ký hợp đồng bằng văn bản chính là bảo vệ quyền và lợi ích của hai bên khi tham gia quan hệ lao động (GFCD, 2017) Điều này cho thấy, LĐGVGĐ còn xem nhẹ việc việc ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản để được pháp luật bảo vệ

… Tôi vào nhà này làm việc không ký hợp đồng nhưng cũng không có

vấn đề gì xảy ra, đầu tiên gặp nhà chủ thì sẽ trao đổi mức lương, các

công việc cần làm,… mình đồng ý thì mình làm, không thì thôi nên tôi

cũng không thấy cần phải ký hợp đồng

(PVS LĐGVGĐ phường Thượng Đình, phường Đồng Tâm, Hà Nội)

* Trải nghiệm về bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc Mặc dù hiện nay, LĐGVGĐ đã được

tôn trọng và đối xử bình đẳng hơn trước kia, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp người lao động bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc Một số hình thức phân biệt đối xử bao gồm không được phép ăn cơm cùng (phải ăn riêng), chất lượng bữa ăn không đảm bảo

… Ở nhà thứ nhất, chủ nhà rất khắt khe, bà và tôi ngồi ăn riêng, mỗi

bữa chỉ gắp cho rất ít thức ăn, không đủ thức ăn nên tôi toàn chan canh

ăn cho xong Nhiều khi tôi cũng thấy mệt mỏi, tủi thân nhưng rồi lại

nghĩ, thôi cố gắng làm có ít tiền gửi về quê cho các con ăn học, ở quê

cũng không biết làm gì để kiếm từng ấy tiền 1 tháng Nghĩ thế nên tôi

chỉ biết nhẫn nhịn, bỏ qua để làm việc…

(PVS LĐGVGĐ phường Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội) Ngoài ra kết quả TLN với LĐGVGĐ ở phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội cho biết một số người sử dụng LĐ đã có hành vi xúc phạm danh dự của người lao động, tự cho mình

“quyền trừng phạt” và ngăn cản cơ hội việc làm của LĐGVGĐ khi thực hiện việc phát tán thông tin/hình ảnh không tốt về người LĐGVGĐ trên mạng xã hội (trang mạng của cư dân Royal City, nhằm loại trừ người lao động đó ra khỏi cộng đồng của họ)

… Tại khu royal này có trường hợp bạn tôi không thể tìm việc được

nữa, tôi rất là bức xúc và cũng mong được chia sẻ… ở Royal, có một

hội facebook của tất cả chủ nhà, có việc gì liên quan đến NGV họ sẽ

post lên, bạn tôi có làm cho 1 nhà nhưng do không hợp nữa thì nghỉ,

nghỉ xong bị chủ nhà post ảnh và lời bình là ham ăn, lười làm…nên bây

giờ đi đâu cũng không được thuê nữa, chỉ có khi đi làm chỗ khác thì

mới được…

(TLN LĐGVGĐ tại phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội)

Mặc dù việc chia sẻ thông tin cá nhân về LĐGVGĐ của người sử dụng LĐ là không thể tránh khỏi, tuy nhiên, hành vi post ảnh và lời bình về người lao động trên trang mạng xã hội

là hành vi vi phạm quyền về danh dự và nhân phẩm của người lao động Những người sử

Trang 19

dụng lao động cần được hiểu hành vi này là vi phạm pháp luật Về phía người lao động, họ rất cần được tư vấn và bảo vệ khỏi bị tổn thương và được tạo cơ hội tìm việc mới

* Những khó khăn, trở ngại của LĐGVGĐ liên quan đến quấy rối, lạm dụng tình dục

LĐGVGĐ cho biết hầu như họ chưa có trải nghiệm về các vấn đề trên Một số LĐGVGĐ cho biết, chỉ cần chủ nhà có dấu hiệu lạm dụng hay quấy rối tình dục là họ sẽ xin nghỉ ngay Tuy nhiên, kết quả trên chưa chắc đã phản ánh đúng tình trạng bị quấy rối hoặc lạm dụng tình dục của LĐGVGĐ ở Việt Nam vì trên thực tế, đây là một vấn đề nhạy cảm, có thể LĐGVGĐ che dấu, hoặc không muốn đề cập đến vấn đề này khi trả lời phỏng vấn

* Quyền tự do quyết định, đi lại, giữ giấy tờ tùy thân Kết quả TLN và PVS với người sử

dụng LĐ và LĐGVGĐ đều cho biết họ không thực hiện hoặc không bị vi phạm các quyền trên Tuy nhiên kết quả khảo sát với người sử dụng LĐ cho thấy vẫn có một tỷ lệ nhỏ người

sử dụng LĐ (hơn 7,3%) vẫn giữ giấy tờ tùy thân của người lao động để phòng ngừa việc họ

bỏ việc giữa chừng hoặc kiểm soát tự do và đi lại của người lao động

* Hiểu biết về quyền được bảo vệ an toàn, kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ, kết quả TLN và

PVS chỉ ra rằng hầu như LĐGVGĐ chưa có hiểu biết nhiều các kỹ năng tự bảo vệ cũng như quyền lợi của họ được bảo vệ khỏi các hình thức phân biệt đối xử, bóc lột lao động, quấy rối và bóc lột tình dục tại nơi làm việc; hay bị vu cáo, đổ lỗi, bị cám dỗ bởi tiền và bị giữ giấy tờ tùy thân Dù các tình huống trên có xảy ra thì người lao động thường chọn cách im lặng để “dĩ hòa vi quý” với người sử dụng lao động

Thậm chí LĐGVGĐ cũng có hiểu biết và kiến thức hạn chế về tìm kiếm thông tin và sự hỗ trợ khi họ gặp khó khăn, cản trở trong công việc Kết quả khảo sát cho thấy, một số LĐGVGĐ chỉ biết nhẫn nhịn hoặc tâm sự với người thân, bạn bè để khây khỏa, thay vì có thể tìm kiếm sự hỗ trợ, tư vấn từ các bên liên quan như Chính quyền địa phương, Hội phụ

nữ, Tổ chức Đoàn thể hay chính là việc nói chuyện trực tiếp và đàm phán với người sử dụng

LĐ để giải quyết vấn đề

… Người giúp việc cần nhìn lại chính mình xem mình đã sai gì, nếu có

thể xin lỗi chủ nhà thì mình nên làm trước Có chuyện gì xảy ra trước

hết mình cần tự chịu đựng sau đó mình có thể chia sẻ với bạn bạn bè đi

làm giúp việc cho nó khây khỏa…

(TLN với LĐGVGĐ phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội)

Hoặc

… Nhiều khi tôi cũng thấy mệt mỏi, tủi thân nhưng rồi lại nghĩ, thôi cố

gắng làm có ít tiền gửi về quê cho các con ăn học, ở quê cũng không

biết làm gì để kiếm từng ấy tiền 1 tháng Nghĩ thế nên tôi chỉ biết nhẫn

nhịn, bỏ qua để làm việc…

(TLN với LĐGVGĐ phường Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội)

Vì sao người lao động lại chọn cách ứng xử như vậy? Thực tế hoạt động của 15 câu lạc bộ LĐGVGĐ tại 3 quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng ở Hà Nội và 2 câu lạc bộ LĐGVGĐ tại quận I Tp Hồ Chí Minh chỉ ra rằng trong số những LĐGVGĐ, có một số chị

có trình độ học vấn cao (tốt nghiệp ĐH, cao đẳng ); một số chị đã từng là cán bộ Mặt trận

Tổ quốc, Ban dân vận, Hội phụ nữ, Hội Nông dân ở nơi xuất cư Họ có hiểu biết, có năng lực nhưng do hoàn cành gia đình nên đi làm GVGĐ Phần lớn trong số LĐGVGĐ hầu như

Trang 20

không biết về những quy định pháp luật về quyền con người, quyền lao động và 5 Điều trong Bộ luật Lao động 2012 về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng LĐ và người lao động làm GVGĐ Thứ hai họ không biết tìm kiếm sự hỗ trợ, thông tin hỗ trợ từ đâu Kết quả TLN với LĐGVGĐ cho biết khi có vấn đề, vướng mắc xảy ra, một số LĐGVGĐ không biết tìm

sự hỗ trợ từ ai, một số khác thì cho biết là họ có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía công an phường, cán bộ phường, có người thì tự giải quyết, có người thì tìm sự hỗ trợ từ họ hàng, bạn bè, anh em, người thân

Tuy nhiên, có một số người lao động đã có nhận thức tốt hơn là có thể tìm kiếm thông tin trợ giúp, hỗ trợ từ bảo vệ khu chung cư, lễ tân nơi họ làm việc hay chính quyền địa phương hoặc hội phụ nữ

…Ở chung cư này nếu có khó khăn hoặc vấn đề gì cần giúp đỡ thì gặp

bảo vệ tòa nhà là nhanh nhất, hoặc tìm lễ tân…

(TLN với LĐGVGĐ tại phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội)

2.3 Đánh giá của xã hội đối với một số KNM cần thiết của LĐGVGĐ

Trong nghiên cứu này, để đánh giá được nhu cầu và mong muốn của xã hội đối với KNM của LĐGVGĐ, nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra định lượng với người sử dụng LĐ, đồng thời thực hiện PVS và TLN với nhóm đối tượng này và các bên liên quan, bao gồm công ty đào tạo và cho thuê lại LĐGVGĐ và chính quyền địa phương tại một số phường của quận Cầu Giấy, Thanh Xuân và Hai Bà Trưng ở Hà Nội Việc đánh giá nhu cầu được thực hiện qua 5 câu hỏi chính: (i) LĐGVGĐ cần những KNM gì (hỏi người sử dụng LĐ, LĐGVGĐ, các bên liên quan); (ii) hiện nay LĐGVGĐ mà ông/bà đã/đang thuê có những KNM gì (hỏi người sử dụng LĐ); (iv) ông/bà hài lòng thế nào đối với các KNM của LĐGVGĐ mà ông/bà đã/đang thuê (hỏi người sử dụng LĐ); (v) theo ông bà LĐGVGĐ cần thêm những kỹ năng gì (hỏi người sử dụng LĐ và các bên liên quan) Theo đó, kết quả của nghiên cứu được trình bày dưới đây

2.3.1 Các kiến thức và KNM hiện có LĐGVGĐ

Đạo đức, phẩm chất

Theo đánh giá của người sử dụng LĐ thì LĐGVGĐ mà họ đã/đang sử dụng có nhiều phẩm chất tốt Kết quả khảo sát cho thấy, hiện nay LĐGVGĐ gia đình đã có một số phẩm chất như trung thực và thật thà (79,3%), chăm chỉ, chịu khó, học hỏi (60,7%), có tinh thần trách nhiệm (54%) Tuy nhiên, còn có một số phẩm chất, đạo đức mà người lao động vẫn chưa có đầy đủ, cần phải trau dồi thêm Trong kết quả khảo sát online, chỉ gần 1/3 người sử dụng

LĐ (32,7%) cho rằng LĐGVGĐ họ đang thuê biết lắng nghe tích cực; 24% cho biết LĐGVGĐ biết nhẫn nhịn, 26% cho rằng lao động không tự ti, không đưa chuyện và chỉ có 16,7% cho biết lao động của họ dám thẳng thắn, dám nhận lỗi Việc LĐGVGĐ vẫn còn chưa

tự tin, chưa dám thẳng thắn, dám nhận lỗi và chưa lắng nghe tích cực cho thấy họ còn đang

“thu mình”, chưa đủ khả năng để có quan hệ lao động bình đẳng với người sử dụng LĐ Điều này cũng một phần là do chính bản thân họ và xã hộicòn định kiến về nghề GVGĐ, chính người lao động cũng cho rằng “mình đi ở đợ, thì phải nhẫn nhịn với nhà chủ” Từ những “mặc định” không nên có này vô hình chung đã dồn người lao động vào thế yếu, vì vậy, khi có vấn đề, tranh chấp xảy ra, họ lựa chọn im lặng hoặc dấu lỗi lầm của mình thay

vì phải lắng nghe để thay đổi hoặc dám nhận lỗi hoặctrao đổi đàm phán để có mối quan hệ lao động bình đẳng hơn

Trang 21

Biểu đồ 4 Những phẩm chất hiện có của LĐGVGĐ (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử của LĐGVGĐ được nhóm nghiên cứu nhìn nhận và đánh giá là quan trọng trong mối quan hệ lao động Có 66% người sử dụng LĐ cho rằng LĐGVGĐ họ đã/đang sử dụng “luôn có thái độ giao tiếp ứng xử đúng mức”; 64% cho rằng LĐGVGĐ của

họ biết “tôn trọng các thành viên trong gia đình và bản thân họ”; và 51,3% cho biết LĐGVGĐ của họ “ứng xử rất chân thành, xuất phát từ “cái tâm” và “biết hòa hợp lợi ích hai bên” Riêng hai kỹ năng giao tiếp ứng xử liên quan đến “đồng cảm và thấu hiểu”, “đánh giá con người và sự việc khách quan” thì chưa được người sử dụng LĐ ghi nhận cao từ phía LĐGVGĐ mà họ đang sử dụng

Biểu đồ 5 Những kỹ năng giao tiếp, ứng xử mà LĐGVGĐ có (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc

Chỉ có khoảng 50% người sử dụng đánh giá LĐGVGĐ đã/đang sử dụng biết một vài bước trong kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc Trong kỹ năng này, “biết sắp xếp thứ

Ứng xử rất chân thành, xuất phát từ

“cái tâm”

Biết hài hòa lợi ích hai bên

Tôn trọng các thành viên trong gia đình người sử dụng lao động và bản thân

Luôn có thái độ giao tiếp ứng xử đúng mực

Trang 22

tự ưu tiên công việc” là bước mà hơn một nửa người trả lời phỏng vấn đánh giá LĐGVGĐ

họ đã/đang sử dụng có nhiều nhất (58,7%); tiếp đến là kỹ năng “tự tạo tính tự giác và thói quen hoàn thành công việc trong ngày/tuần và theo yêu cầu của người sử dụng LĐ” (55,3%)

Kỹ năng “biết liệt kê các công việc cần làm” là kỹ năng được ít người sử dụng LĐ ghi nhận nhất (47,3%) Trong mẫu khảo sát cũng có tới 4,7% người sử dụng LĐ đánh giá LĐGVGĐ đã/đang sử dụng chưa có kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc

Biểu đồ 6 Kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc hiện có của LĐGVGĐ (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

2.3.2 Mức độ hài lòng của xã hội đối với KNM của LĐGVGĐ

Biết sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc

Trang 23

Biểu đồ 7 Mức độ hài lòng của người sử dụng LĐ đối với những phẩm chất của

LĐGVGĐ

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử

Về mức độ hài lòng của người sử dụng LĐ đối với các kỹ năng giao tiếp, ứng xử mà LĐGVGĐ họ đã/đang sử dụng, điểm đánh giá chỉ được ghi nhận ở mức độ “bình thường” Đối với thang điểm đánh giá từ 1 (rất không hài lòng) - 9 (rất hài lòng) thì đánh giá về kỹ năng giao tiếp xứng xử “luôn có thái độ đúng mực” được ghi nhận cao nhất cũng chỉ ở mức 6,4 điểm; tiếp đến là kỹ năng “biết hài hòa lợi ích hai bên” (6,3 điểm) “Đánh giá con người

và sự việc khách quan” là kỹ năng mà người sử dụng LĐ ghi nhận ở mức độ thấp nhất với 5,7 điểm

Biểu 8 Mức độ hài lòng của người sử dụng LĐ đối với kỹ năng giao tiếp, ứng xử

của LĐGVGĐ (%)

Ghi chú: Điểm xếp hạng từ 1 đến 9 với 1 là rất không hài lòng và 9 là rất hài lòng

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công việc

Về mức độ hài lòng của người sử dụng LĐ đối với các kỹ năng quản lý thời gian và

tổ chức công việc của LĐGVGĐ mà họ đã/đang thuê, thang điểm đánh giá trung bình cũng

ở mức “bình thường” với khoảng 6 điểm Cụ thể, kỹ năng được đánh giá mức độ hài lòng cao nhất là “biết phân bổ thời gian cho các công việc hợp lý” với 6,3 điểm, tiếp theo là kỹ năng “biết sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc” (6,2) Điểm đánh giá thấp nhất là “biết liệt kê

0 1 2 3 4 5 6 7 Trung thực và thật thà

Tinh thần trách nhiệm

Chăm chỉ, chịu khó học hỏi

Thân thiện cởi mở

Thẳng thắn, dám nhận lỗi

Không tự ti, không đưa chuyện Biết nhẫn nhịn Lắng nghe tích cực

5.2 5.4 5.6 5.8 6.0 6.2 6.4

Ứng xử rất chân thành, xuất phát từ “cái tâm”

Tôn trọng các thành viên trong gia đình người sử dụng lao động và bản thân

Luôn có thái độ giao tiếp ứng xử đúng mực Biết đồng cảm và thấu hiểu

Biết hài hòa lợi ích hai bên Đánh giá con người và sự việc khách quan

Trang 24

các công việc cần làm” với điểm trung bình là 5,8

Biểu đồ 9 Mức độ hài lòng đối với các kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức công

việc của LĐGVGĐ (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐvề KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

2.4 Mong muốn của xã hội và bản thân người lao động về KNM của LĐGVGĐ

2.4.1 Về phía người sử dụng LĐ

Đạo đức, phẩm chất

Trên 90% người sử dụng LĐ trong mẫu khảo sát định lượng đều mong muốn LĐGVGĐ có những phẩm chất, đạo đức như “Trung thực và thật thà”, có “Tinh thần trách nhiệm” 82% mong muốn LĐGVGĐ cần “Chăm chỉ, chịu khó học hỏi”; 81,3% mong muốn LLĐGVGĐ phải biết “Lắng nghe tích cực, hợp tác” và 66% mong muốn LĐGVGĐ cần phải “Thẳng thắn, dám nhận lỗi” Đối với phẩm chất “Biết nhẫn nhịn” thì chỉ có 41,3% trả lời phẩm chất

đó là cần thiết

Biểu đồ 10 Những phẩm chất mà người sử dụng LĐ mong muốn (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử

Kỹ năng mà người sử dụng lao động mong muốn LĐGVGĐ được đào tạo nhất là “Kỹ năng

5.6 5.8 6.0 6.2 6.4

Biết liệt kê các công việc cần làm

Biết sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc

Biết phân bổ thời gian cho các công việc hợp lý

Tự tạo tính tự giác và thói quen hoàn thành công việc trong ngày/tuần và theo yêu cầu của NSDLĐ

Thẳng thắn, dám nhận lỗi

Lắng nghe tích cực, hợp tác

Chăm chỉ, chịu khó học hỏi

Tinh thần trách nhiệm

Trung thực và thật thà

Trang 25

giao tiếp, ứng xử với trẻ em” (72,7%), tiếp đến là “Kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn nảy sinh” (62%) và “Kỹ năng thích ứng với môi trường sống và làm việc (cân bằng cuộc sống

và công việc)” (61,3%)

Biểu đồ 11 Kỹ năng giao tiếp, ứng xử mà người sử dụng mong muốn LĐGVGĐ

được đào tạo (%)

Nguồn: Kết quả điều tra online về KNM của LĐGVGĐ với người sử dụng LĐ, Hà Nội, 2019

Kỹ năng tự bảo vệ

Theo người sử dụng LĐ thì LĐGVGĐ cần được trang bị những “Kỹ năng tự bảo vệ trong các tình huống có vấn đề” (83.3%), “Kỹ năng thương thuyết” (43.3%) và “Kỹ năng từ chối” (41.3%)

Biểu 12 Các kỹ năng tự bảo vệ mà LĐGVGĐ cần được đào tạo (%)

Nguồn: kết quả điều tra online với người sử dụng LĐ về KNM của LĐGVGĐ, Hà Nội, 2019

Kiến thức “mềm”

Theo người sử dụng LĐ, LĐGVGĐ cần được trang bị những “Hiểu biết về quyền và nghĩa

40.0 43.3 49.3 50.0 50.0 52.0 59.3 60.7 61.3 62.0 72.7

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Kỹ năng giao tiếp với người ngoài gia đình người sử dụng lao …

Kỹ năng ứng xử đối với chủ nhà là phụ nữ

Kỹ năng ứng xử với người bệnh/ốm/khuyết tật

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với chủ nhà là nam giới (NGV là nữ giới)

Kỹ năng tự quản lý cảm xúc

Kỹ năng ứng xử giữa LĐGVGĐ lớn tuổi với người SDLĐ còn trẻ

Kỹ năng ứng xử với người cao tuổi

Kỹ năng tiếp nhận và truyền đạt thông tin cho người nghe

Kỹ năng thích ứng với môi trường sống và làm việc (cân bằng …

Kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn nảy sinh

Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ em

Ngày đăng: 02/08/2020, 11:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

qua bảng hỏi bán cấu trúc được đăng tải trên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, và được chia sẻ qua email cá nhân của các cựu học sinh Australia, trong nhóm các bạn bè, đồng  nghiệp của các cựu học sinh - BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
qua bảng hỏi bán cấu trúc được đăng tải trên các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, và được chia sẻ qua email cá nhân của các cựu học sinh Australia, trong nhóm các bạn bè, đồng nghiệp của các cựu học sinh (Trang 9)
Bảng 2. Mẫu nghiên cứu định tính và định lượng - BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
Bảng 2. Mẫu nghiên cứu định tính và định lượng (Trang 10)
Bảng 4. Đặc điểm của LĐGVGĐ trong mẫu khảo sát - BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
Bảng 4. Đặc điểm của LĐGVGĐ trong mẫu khảo sát (Trang 12)
Biểu đồ 1. Phân bố LĐGVGĐ theo nơi xuất cư và loại hình công việc (%) - BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
i ểu đồ 1. Phân bố LĐGVGĐ theo nơi xuất cư và loại hình công việc (%) (Trang 14)
Không cần thiết Hiểu biết tình hình kinh tế - xã hội, văn  - BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
h ông cần thiết Hiểu biết tình hình kinh tế - xã hội, văn (Trang 26)
2.6. Hình thức đào tạo KNM - BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC VÀ MONG MUỐN CỦA XÃ HỘI VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
2.6. Hình thức đào tạo KNM (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w