1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI Tên đề tài: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025

26 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025
Tác giả Phạm Cao Quân
Trường học Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình
Chuyên ngành Ngành Tư pháp
Thể loại Báo cáo tóm tắt kết quả đề tài
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH SỞ TƯ PHÁP BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI Tên đề tài Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021 2025[.]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

SỞ TƯ PHÁP

BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI

Tên đề tài: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025

Mã số đề tài: TB-CT/XH08/21

Cơ quan chủ trì đề tài: Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Cao Quân

Thái Bình, tháng 11 năm 2021

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết phải triển khai thực hiện đề tài

Ở hình thức tổ chức bộ máy nhà nước nào, dù theo chế độ phân quyền hay tập quyền, thì Tư pháp vẫn được coi là một quyền năng hết sức quan trọng, thể hiện sức mạnh và uy quyền của Nhà nước đối với xã hội V.I Lênin, người thầy của cách mạng vô sản đã từng khẳng định: “Một nền tư pháp tồi, xã hội sẽ phải trả một giá đắt…” Nhận định này cho thấy, công tác tư pháp luôn nắm giữ vai trò quan trọng trong các phương diện hoạt động của Nhà nước Trong Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần thứ IV vào tháng 2 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền…” [8, tr.10].

Theo nghiên cứu lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, quyền lực nhà nước gồm 3 quyền: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Trong

đó, vai trò quản lý nhà nước về công tác tư pháp nổi bật lên là một công cụ quan trọng để quản lý nhà nước thông qua các công tác như: Phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác hành chính tư pháp, xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật và công tác bổ trợ tư pháp… để thực hiện tốt, hiệu quả vai trò này thì đòi hỏi phải có cơ cấu tổ chức bộ máy phù hợp và đội ngũ nhân lực có chất lượng

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra một trong

năm nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 2020-2025 đó là: “ Xây dựng con người Thái Bình phát triển toàn diện cả về đạo đức, nhân cách, trí tuệ, thể chất và năng lực Tích cực đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Phát huy truyền thống văn hoá, văn hiến, yêu nước, cách mạng của quê hương Thái Bình Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ Nhân dân Thực hiện tốt chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xã hội Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ”[7]

Theo Điều 1, Thông tư số 07/2020/TT-BTP ngày 21/12/2020 của Bộ Trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định: “Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có chức năng tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; pháp chế; chứng thực; nuôi con

Trang 3

nuôi; hộ tịch; quốc tịch; lý lịch tư pháp; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; luật sư, tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; thừa phát lại; quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; đăng ký biện pháp bảo đảm; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; công tác tư pháp khác và dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực theo quy định pháp luật”; bên cạnh đó, thực hiện chủ trương chung về sắp xếp bộ máy tổ chức các cấp chính quyền, đơn vị hành chính cấp xã, công chức ngành tư pháp luôn có sự biến động về nhân sự, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Tư pháp không đồng đều, khối lượng công việc ngày càng nhiều, phức tạp Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao của Ngành Tư pháp Thái Bình đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao

Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025” là đề tài đầu tiên

nghiên cứu về nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình dưới góc độ của khoa học chính sách được tiếp cận từ việc nghiên cứu, đánh giá thực tế để chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở

đó, đề ra các giải pháp đóng góp thiết thực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025

1.2 Mục tiêu của đề tài

Trang 4

tìm được công trình nghiên cứu nào phân tích, đánh giá trực tiếp và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp, đặc biệt là công trình nghiên cứu riêng về nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021-2025

Trên phạm vi toàn quốc: Thời gian qua có rất nhiều đề án, công trình nghiên cứu, các báo cáo, bài viết về đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp Nhưng tài liêu đã đánh giá từ một góc độ, khía cạnh cụ thể nào đó của đội ngũ ngành Tư pháp Việt Nam nói chung, song chưa có một bài viết hay đề tài nào nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

- Nội dung 1: Nghiên cứu tổng quan, xây dựng thuyết minh đề tài

- Nội dung 2: Nghiên cứu cơ sở lý luận và quy định của nhà nước về nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

- Nội dung 3: Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

- Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp Thái Bình giai đoạn 2021-2025

- Nội dung 5: Tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện đề tài

4 CÁCH TIẾP CẬN, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Cách tiếp cận

Tiếp cận từ thực tiễn > phân tích, tổng hợp, phát triển bổ sung lý thuyết

-> giải pháp

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung và giới hạn nghiên cứu đối tượng chính là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

Trang 5

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2018 đến nay

4.4 Phương pháp nghiên cứu

4.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thu thập dữ liệu: Đề tài sử dụng

cả phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp, nhưng chủ yếu tập trung vào thu thập dữ liệu sơ cấp

Kích thước mẫu: Nhóm tác giả Đề tài trực tiếp thực hiện điều tra, khảo sát

250 phiếu tại Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, UBND các xã, phường, thị trấn và thu

về được 250 phiếu Đối tượng khảo sát là công chức, viên chức ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình Trong đó, 33 phiếu lấy ý kiến các công chức, viên chức thuộc Sở

Tư pháp; 19 phiếu lấy ý kiến công chức thuộc Phòng Tư pháp; 198 phiếu lấy ý kiến công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn tỉnh

4.4.2 Phương pháp thống kê và phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp thống kê:

- Phương pháp phỏng vấn:

4.4.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp: số liệu thứ cấp và qua các văn

bản của Đảng và Nhà nước và tỉnh Thái Bình về vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tư pháp trên địa bàn tỉnh Thái Bình

4.4.4 Phương pháp xử lý dữ liệu

Sau khi thu thập được các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, nhóm tác giả Đề tài tiến hành kiểm tra tính xác thực của thông tin, nhập dữ liệu và xử lý

4.4.5 Ngoài ra để xử lý dữ liệu, tác giả còn sử dụng phương pháp luận, tư

tưởng, quan điểm Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và

Trang 6

phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; trên cơ sở tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

5 KẾT QUẢ BÀN LUẬN

5.1 Kết quả thực hiện các nội dung của đề tài

5.1.1 Cơ sở lý luận và quy định của nhà nước để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

5.1.1.1 Cơ sở lý luận và quy định của nhà nước để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

Một số khái niệm cơ bản

Khái niệm nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại và tương lai, tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới

Khái niệm nguồn nhân lực ngành Tư pháp: Nguồn nhân lực ngành Tư pháp

trong phạm vi đề tài này được hiểu là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về Tư pháp theo hệ thống dọc từ trung ương đến cấp xã mà không bao gồm những người làm việc trong các cơ quan thuộc lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử

Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp và chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp: Nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực là khái niệm trừu tượng, đã được nhiều tác giả nghiên cứu Dưới các cách tiếp cận khác nhau còn nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực

Khái niệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp như sau:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động đến nguồn nhân lực trong ngành Tư pháp làm biến đổi cả về số lượng và chất lượng cho nguồn nhân lực trong ngành Tư

Trang 7

pháp trên tất cả các mặt thể lực, trí lực, tâm lực cùng với việc dự báo những biến đổi hiệu quả về cơ cấu nguồn nhân lực trong ngành Tư pháp

5.1.1.2 Các vấn đề chung và các điều kiện cần thiết khác cho công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

Để thực thi được các nội dung thên thì đích hướng tới của mọi chính sách trong quá trình thực thi là hiện thực hóa được mục tiêu của chính sách Do vậy,

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp là quá trình huy động,

bố trí các nguồn lực để đưa chính sách vào đời sống thực tiễn theo một trình tự thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách đáp ứng được yêu cầu của hoạt động quản lý và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành Tư pháp

5.1.1.3 Quá trình tổ chức, thực hiện chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách

- Phổ biến, tuyên truyền chính sách

- Phân công phối hợp thực thi chính sách

- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách

- Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm

5.1.1.4 Kinh nghiệm kinh nghiệm thực thi chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp của một số địa phương và bài học cho ngành Tư pháp Thái Bình

Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng là địa phương đi đầu trong cả nước

về nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ngành Tư pháp Để thực hiện tốt điều đó, Đà Nẵng đã ban hành những chính sách đúng đắn như: Chương trình hành động số 01-CTr/TU, ngày 15/12/1997 của Thành ủy, thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Quyết định số 17/2010/QĐ-UBND ngày 18/6/2010 của UBND thành phố về Quy định việc tiếp nhận, bố trí công tác và chính sách ưu đãi đối với những người tự nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố Đà Nẵng (thay thế Quyết định số 34/2007/QĐ-

Trang 8

UBND ngày 28/6/2007; Quyết định số 21/2009/QĐ-UBND ngày 26/8/2009 của UBND thành phố)

Kinh nghiệm của tỉnh Khánh Hòa: Là một tỉnh có thế mạnh về thu hút đầu

tư phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ Tỉnh đã nhận thức đúng đắn vai trò

và tầm quan trọng của NNLCLC đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và hiệu quả hoạt động của từng cơ quan, tổ chức Ngày 09/7/2014, HĐND tỉnh đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Nghị quyết số 07/2014/NQ- HĐND, về việc Quy định chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng nguồn cán bộ quy hoạch dự bị dài hạn và thu hút nhân tài trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐND ngày 08/7/2015 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 07/2014/NQ-HĐND ngày 09/7/2014

Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm được Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh thường xuyên thực hiện theo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm, chương trình và kế hoạch công tác nhằm đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Ngành, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản

lý có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị, năng lực, uy tín, trách nhiệm, chuyên nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân Cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch và tiêu chuẩn chức danh, vị trị việc làm, theo yêu cầu đảm bảo nguồn điều động, luân chuyển cán bộ theo vị trí chức danh nghề nghiệp ngành

tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác

Nghiên cứu những kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp của một số địa phương, nhóm tác giả rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng cho ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình đó là:

Thứ nhất, phải xác định đầy đủ và đúng đắn tầm quan trọng của nguồn

nhân lực, coi đó là cơ sở quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Thứ hai, Chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

không chỉ phát triển về số lượng và chất lượng mà còn cả về môi trường làm việc tiên tiến, hiện đại, cơ hội phát triển bản thân thông qua công việc

Trang 9

Thứ ba, Khi tổ chức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp,

phải xây dựng kế hoạch, quy hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo tính kế thừa đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý

Thứ tƣ, Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cần phải tạo ra mối

quan hệ phối hợp có kết quả, hiệu quả giữa các cấp, các ngành từ khâu quy hoạch nguồn nhân lực đến các hoạt động tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Thứ năm, Xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện một

cách thường xuyên cùng với cơ chế thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với kết quả thực hiện của từng cơ quan, từng cấp

5.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

5.1.2.1 Trên cơ sở điều tra khảo sát 250 công chức, viên chức ngành Tư

pháp Thái Bình nhóm tác giả nhận thấy số công chức, viên chức làm công tác tư pháp có độ tuổi từ 40 trở lên chiếm tỉ lệ cao; tỉ lệ cán bộ Tư pháp- Hộ tịch cấp xã

có trình độ Đại học vẫn thấp hơn tỉ lệ cán bộ có trình độ Trung cấp Trình độ cao cấp Lý luận chính trị còn thấp; trình độ Trung cấp lý luận chính trị và quản lý nhà nước chưa đạt 100% Như vậy, cần phải có chính sách quy hoạch, hoạch định đào tạo bồi dưỡng đội ngũ này và chuẩn bị đội ngũ kế cận trong thời gian tiếp theo

Cũng theo số liệu khảo sát của 250 phiếu cho thấy 98% đối tượng khảo sát cho rằng: Để thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn thuộc ngành Tư pháp thì công chức, viên chức phải có bằng tốt nghiệp Đại học thuộc ngành Luật; 63,6% cán bộ làm công tác tư pháp cho rằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình là cần thiết, điều này là xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội, quan hệ xã hội ngày càng phát triển và nảy sinh các quan hệ xã hội mới thì cần phải có pháp luật để điều chỉnh; 56% đối tượng khảo sát đánh giá nhận thức của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương rất quan tâm đối với việc phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp Hiện tại, đội ngũ làm công tác tư pháp ở các đơn vị, địa phương phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyên môn nên chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác tư pháp có phần bị ảnh hưởng, từ đó lãnh đạo

Trang 10

đơn vị thường xuyên quan tâm về mọi mặt để đội ngũ này thực hiện tốt hơn vai trò “gác cổng” của mình

100% các đối tượng được khảo sát cho rằng nội dung bồi dưỡng nghiệp

vụ cần thiết cho việc phát triển nguồn nhân lực ngành Tư pháp bao gồm tất cà các lĩnh vực: Kiến thức pháp luật chung; Kiến thức pháp luật chuyên sâu; Kiến thức pháp luật theo ngành, lĩnh vực Công tác tư pháp bao trùm đến mọi mặt của đời sống xã xã hội Người làm công tác tư pháp không những am hiểu kiến thức pháp luật chung mà còn phải nắm vững kiến thức pháp luật chuyên môn và kiến thức pháp luật lĩnh vực khác để tham mưu cho các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

5.1.2.2 Khái quát về điều kiện nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

Tỉnh Thái Bình có 260 đơn vị cấp xã gồm 10 phường, 9 thị trấn và 241

xã Thái Bình được chia thành 7 huyện và 01 thành phố trực thuộc là: Thành phố Thái Bình, huyện Hưng Hà, huyện Đông Hưng, huyện Thái Thụy, huyện Tiền Hải, huyện Quỳnh Phụ, huyện Kiến Xương, huyện Vũ Thư

Ngay sau khi tái lập, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08 ngày 6/1/1982 về xây dựng ngành Tư pháp trong cả nước Ngày 27/2/1982, UBND tỉnh Thái Bình có Quyết định số 11/QĐ-UB thành lập hệ thống Tư pháp tỉnh Thái Bình

Tỉnh Thái Bình có 08 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 07 huyện và 01 thành phố; 260 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 241 xã, 10 phường và 09 thị trấn Tương ứng với các đơn vị hành chính có 51 công chức, viên chức tư pháp cấp

tỉnh, 25 công chức tư pháp cấp huyện và 363 công chức tư pháp hộ tịch cấp xã

Cũng theo quy định của pháp luật, ngành Tư pháp còn quản lý nhà nước 21

tổ chức hành nghề luật sư gồm 05 công ty luật và 16 văn phòng luật sư với 87 luật sư; 47 giám định viên tư pháp hoạt động tại 02 tổ chức giám định tư pháp là Phòng Kỹ thuật hình sự (Công an tỉnh), Trung tâm Pháp y (Sở Y tế) và 04 sở, ngành chuyên môn khác không thành lập tổ chức là Sở Xây dựng, Sở Thông tin -

Trang 11

Truyền thông, Sở Tài chính và Cục Thuế tỉnh; 13 tổ chức hành nghề công chứng với 28 công chứng viên; 04 tổ chức đấu giá tài sản với 07 đấu giá viên

Ngành Tư pháp quản lý các tổ chức pháp chế của các sở, ngành, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, cộng tác viên kiểm tra văn bản, quản lý hoạt động hòa giải ở cơ sở với 2.094 tổ hòa giải, 15.229 hòa giải viên Quản lý công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, xây dựng, tủ sách pháp luật của các xã, phường, thị trấn, các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý…

Trước khi có Nghị định 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Tư pháp có 07 phòng chuyên môn và 02 đơn vị sự nghiệp Thực hiện Nghị định 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ, hiện nay cơ cấu tổ chức Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình có

06 phòng chuyên môn, nghiệp vụ; 02 đơn vị sự nghiệp là: Văn phòng Sở, Thanh tra Sở, phòng Văn bản quy phạm pháp luật và theo dõi thi hành phsp luật; phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, phòng Hành chính Tư pháp, phòng Bổ trợ Tư pháp, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Trong

đó, có 11 công chức viên chức có trình độ Thạc sỹ, 40 công chức, viên chức có trình độ Đại học; 15 công chức, viên chức có trình độ Cao cấp lý luận chính trị, 16 công chức, viên chức có trình độ Trung cấp lý luận chính trị; 100% công chức, viên chức được bồi dưỡng về Ngoại ngữ, Tin học để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Toàn tỉnh hiện nay có 08 phòng Tư pháp với 25 công chức, trong đó có 10 nam và 15 nữ Về độ tuổi: dưới 30 tuổi có 02 người; từ 30-40 tuổi có 06 người; từ 40-50 tuổi có 14 người; trên 50 tuổi có 03 người Về thời gian công tác trong ngành Tư pháp: dưới 5 năm: 5 người; từ 05 đến 10 năm: 10 người; trên 10 năm:

10 người Về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 02 người; Đại học: 22 người (trong

đó chuyên ngành Luật: 20 người); Trung cấp (chuyên ngành Luật): 01 người Về

Trang 12

trình độ tin học văn phòng: 25 người (đạt 100%) đều có chứng chỉ Tin học trình

độ B trở lên

- Ở cấp xã:

Cán bộ Tư pháp – Hộ tịch ở các xã, phường, thị trấn tổng số 363 người (một số xã có 2 công chức 01 người làm công tác Hộ tịch, một người làm công tác

tư pháp khác) Trình độ chuyên môn: Sau Đại học 01 người, Đại học, Cao đẳng:

200 người, Trung cấp: 164 người

Công chức Hộ tịch - Tư pháp cấp xã tỉnh Thái Bình có trình độ Cao đẳng, Đại học còn tương đối khiêm tốn mới chiểm tỷ lệ 55,09%, Tỷ lệ có trình độ trung cấp còn cao chiếm 44,63% Điều này đòi hỏi trong thời gian tới ngành Tư pháp Thái Bình cần có nhiều giải pháp và quan tâm hơn nữa đến chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ này

5.1.2.3 Thực trạng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

Quá trình tổ chức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình trong thời gian qua là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế cần lập kế hoạch, chương trình để Ủy ban nhân dân tỉnh và ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình, triển khai thực thi chính sách một cách chủ động

- Lập kế hoạch tổ chức điều hành: Là quá trình dự kiến cơ quan chủ trì và phối hợp triểnkhai thực thi chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia

tổ chức thực thi chính sách; dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực hiện; cơ chế tác động giữa các bộ phận thực hiện

Sở Nội vụ là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Tổ chức; biên chế; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước… Vì vậy, đây cũng là cơ quan được giao chủ trì xây dựng kế hoạch tổ chức điều hành các chương trình, hoạt động để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tỉnh nói chung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành tư pháp nói riêng

Trang 13

- Xác định kế hoạch cung cấp các nguồn lực tài chính, trang thiết bị: Là dự kiến về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách, các nguồn lực tài chính

- Xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện các mục tiêu

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách

+ Sở Nội vụ dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát các hoạt động triển khai nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình

+ Các đơn vị được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trí lực cho cán bộ, công chức

+ Sở Tài chính là cơ quan tham mưu, giúp Tỉnh thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về các lĩnh vực: tài chính, tài sản; kế hoạch và đầu tư do đó Sở Tài chính là cơ quan được phân công dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí bồi dưỡng thường xuyên hàng năm của các cơ quan, đơnvị được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động, chương trình nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp

- Xây dựng dự kiến những nội quy, quy chế trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Tư pháp tỉnh Thái Bình Nội quy, quy chế bao gồm những nội dung về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán

bộ, công chức và các cơ quan, đơn vị tham gia tổ chức điều hành chính sách; về khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách

Nhìn chung, quy trình, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản, chương trình,

kế hoạch để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các cấp ngành Tư pháp ở tỉnh

Thái Bình được thực hiện khá nghiêm túc từ khâu lập chương trình, kế hoạch; bổ sung chương trình, kế hoạch; phân công tổ chức soạn thảo; nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quan hệ xã hội cần ban hành văn bản để điều chỉnh; sưu tầm, đối chiếu các văn bản, tài liệu có liên quan; lấy ý kiến của các cấp, các ngành và đối

Ngày đăng: 17/04/2023, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w