Trêng §¹i häc Vinh MÉu 3 Môc lôc MỤC LỤC iiDANH MỤC VIẾT TẮT 1LỜI MỞ ĐẦU 21 1 Khái niểm về thẻ thanh toán 21 1 1 Khái niệm 21 1 2 Đặc điểm của thẻ thanh toán 21 2 Vai trò của thẻ thanh toán 21 2 1 Đố.
Trang 1ĐẠI HỌC VINH TRƯỜNG KINH TẾ
-LOUANGLAD SAYSAMONE
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: DỊCH VỤ NGÂN HÀNG HIỆN
ĐẠI
Đề tài: PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG 10 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY
Nghệ An, 01/ 2022
Trang 2MÉu 3 : Môc lôc
ĐẠI HỌC VINH TRƯỜNG KINH TẾ
-TIỂU LUẬN
Đề tài: PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG 10 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY
Người hướng dẫn : Ths Nguyễn Đình Tiến Học viên thực hiện : Louanglad Saysamone
Mã sinh viên : 18573402014075
Nghệ An, 01/ 2022
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Khái niểm về thẻ thanh toán 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Đặc điểm của thẻ thanh toán 2
1.2 Vai trò của thẻ thanh toán 2
1.2.1 Đối với Ngân hàng 2
1.2.2 Đối với khách hàng 3
1.3 Các loại thẻ thanh toán hiện nay 3
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG 10 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY 5
2.1 Thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Viêt Nam 5
2.1.1 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam 5
2.1.2 Thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 6
Bảng 2.2 Số liệu giao dịch của các thiết bị thanh toán Thẻ từ năm 2017 - 2020 8
2.2 Đánh giá sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 9
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế 9
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 11
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT TTKDTM: Thanh toán không dùng tiền mặt NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTW: Ngân hàng trung ương
CSTT: Chính sách tiền tệ
GTCG: Giấy tờ có giá
NHTM: Ngân hàng thương mại
TCTD: Tổ chức tín dụng
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng thương mại đã mang đến cho các ngân hàng một vị thế mới, một diện mạo mới Bằng phương pháp thống kê, phân tích
và tổng hợp, bài viết này công bố kết quả nghiên cứu về các loại thẻ ngân hàng hiện đang được sử dụng tại Việt Nam, qua đó đánh giá xu hướng của hoạt động kinh doanh thẻ và đưa ra các biện pháp phát triển dịch vụ tại các ngân hàng thương mại
Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có ký hợp đồng thanh toán với ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp Thẻ còn được dùng để thực hiện nhiều dịch vụ khác thông qua hệ thống giao dịch tự động ATM như chuyển khoản, tra vấn thông tin tài khoản, thông tin các khoản chi phí sinh hoạt,
Thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiên tiến và hiện đại Thẻ
ra đời không những đạt được hai mục tiêu là tiện lợi và an toàn cho việc thanh toán mà còn thể hiện được tính văn minh, hiện đại của thời kỳ hiện đại hóa và toàn cầu hóa
2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thẻ thanh toán qua đó tìm hiểu vai trò của thẻ thanh toán Từ đó đi vào tìm hiểu thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại đây Từ đó đưa ra giải pháp, đề xuất các phương án phát triển thanh toán qua thẻ tại các ngân hàng thương mại
3 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề án gồm các chương sau:
Chương I: Cơ sở lý thuyết về thẻ thanh toán
Chương II: Thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong 10 năm trở lại đây
Chương III: Giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam
1
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẺ THANH TOÁN
1.1 Khái niểm về thẻ thanh toán
1.1.1 Khái niệm
Thẻ thanh toán hay còn gọi thẻ chi trả là một loại thẻ có khả năng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại một vài địa điểm chấp nhận tiêu dùng bằng thẻ đó, hoặc có thể dùng nó để rút tiền mặt trực tiếp từ các Ngân hàng hay các máy rút tiền tự động Hiện nay các loại thẻ thanh toán có thể được phát hành bởi các Ngân hàng, các tổ chức tài chính và một vài công ty phát hành dưới dạng thẻ quà tặng, thẻ sử dụng dịch vụ Thẻ thanh toán hiện nay xét theo chức năng thì được chia làm 3 loại chính là Debit Card (thẻ ghi nợ), Credit Card (thẻ tín dụng) và Prepaid Card (Thẻ trả trước) Thẻ thanh toán là một phần của hệ thống thanh toán do các tổ chức tài chính, như ngân hàng, cung cấp cho khách hàng, cho phép chủ sở hữu (chủ thẻ) truy cập tiền vào tài khoản ngân hàng được chỉ định của khách hàng hoặc thông qua tài khoản tín dụng và thanh toán bằng chuyển tiền điện tử và truy cập máy rút tiền tự động (ATM) Những thẻ như vậy được biết đến bằng nhiều tên bao gồm thẻ ngân hàng, thẻ ATM, MAC (thẻ truy cập tiền), thẻ khách hàng, thẻ tiền mặt
1.1.2 Đặc điểm của thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán được nhiều người sử dụng bởi rất nhiều đặc điểm tiện ích Trong quá trình dùng thẻ các bạn sẽ nhận được những tiện ích sau đây
– Không cần phải cầm tiền mặt trong người, bạn dễ dàng thanh toán, mua sắm
mà không dùng tiền mặt với thẻ thanh toán
– Thanh toán bằng thẻ dễ dàng với các hình thức thức thanh toán trực tuyến hoặc trực tiếp
Thanh toán hóa đơn bằng cách quẹt thẻ mà không cần phải nhập mã PIN của thẻ – Sử dụng thẻ thanh toán trên khắp các địa điểm chấp nhận trên toàn thế giới
1.2 Vai trò của thẻ thanh toán
1.2.1 Đối với Ngân hàng
Là nguồn thu nhập từ dịch vụ: “Khi cung cấp dịch vụ thẻ, ngân hàng có nguồn thu từ các loại phí như phí phát hành, phí thường niên, phí giao dịch, phí cấp tín dụng, chuyển đổi ngoại tệ, lãi thu từ những khoản tín dụng của thẻ tín dụng hoặc thẻ nợ có thấu chi
Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Khi triển khai dịch vụ thẻ các ngân hàng phải nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thanh toán của mình do đó các ngân hàng có điều kiện tiếp cận với những công nghệ tiên tiến trên thế giới rút ngắn khoảng cách chênh lệch về công nghệ khi hội nhập và góp phần nâng cao trình độ của nhân viên nghiệp vụ thẻ nói riêng và ngân hàng nói chung
Tăng kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Việc phát triển hệ thống máy ATM/POS là phát triển kênh phân phối cho ngân hàng Kênh phân phối này không bị
Trang 7hạn chế giờ làm việc và có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng 24/24h, giúp khách hàng giao dịch nhanh chóng, giảm bớt giao dịch tại quầy ngân hàng
Mở rộng thị trường và quan hệ khách hàng: Tham gia thanh toán thẻ ngân hàng
có thể đa dạng hóa các dịch vụ của mình, thu hút được những khách hàng mới làm quen với dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp và từ đó góp phần tạo
ra những đối tác lâu dài, mang tính ổn định cao vì khi hợp đồng thẻ được ký kết sẽ gắn kết ngân hàng với khách hàng sử dụng thẻ cũng như ĐVCNT
Tất cả còn tạo lên những giá trị vô hình cho ngân hàng như nâng cao vị thế, uy tín ngân hàng, quảng bá hình ảnh thương hiệu, nâng cao mức độ nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ thẻ cũng như tên tuổi ngân hàng
1.2.2 Đối với khách hàng
Sự thuận tiện và linh hoạt trong thanh toán trong nước và ngoài nước: Thẻ ngân hàng cho phép chủ thẻ mua hàng hóa dịch vụ thông qua mạng lưới rộng rãi các điểm chấp nhận thẻ, hay rút tiền mặt khi cần thiết và thực hiện các dịch vụ khác như vấn tin tài khoản, chuyển khoản…tại các máy ATM ở khắp nơi mà không bị hạn chế về thời gian giao dịch Điều bất lợi chính của việc sử dụng thẻ là nó không có mấy tiện dụng nếu số điểm chấp nhận thẻ không lớn (điều này đang diễn ra ở thị trường Việt Nam) Ngoài ra, chủ thẻ còn được hưởng nhiều lợi ích khác nữa…
Xét trên giác độ bảo mật, thẻ ngân hàng là phương tiện giao dịch thuận lợi và an toàn Chủ thẻ là người duy nhất nắm giữ mã số có quyền sử dụng thẻ vì vậy chống việc làm giả ngăn chặn người khác sử dụng Bên cạnh đó thẻ ngân hàng luôn được ứng dụng sản xuất dựa trên kỹ thuật công nghệ cao, tạo nên những chiếc thẻ thông minh với độ an toàn ngày càng được nâng cao
Gọn nhẹ, nhanh chóng và hiệu quả: Khi mua sắm hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng không phải mang theo tiền mặt, không phải mất thời gian kiểm đếm tiền bởi đã
có những chiếc thẻ với kích thước gọn nhẹ dễ dàng mang theo người, tạo cảm giác thỏa mái khi đi mua sắm thậm chí với khối lượng trả lớn
Thanh toán bằng thẻ tạo thêm vẻ văn minh lịch sự, sang trọng cho khách hàng khi thanh toán Thanh toán bằng thẻ dường như trở thành một thứ mốt, một phong cách sống Điều này có thể không mấy ý nghĩa với những người thực sự am hiểu về kinh tế nhưng đối với cộng đồng khách hàng, nó lại là một sức mạnh tâm lý không nhỏ Mặt khác giúp khách hàng tiếp cận phương thức mua hàng gián tiếp hiện nay như đặt hàng qua điện thoại, mua hàng qua mạng…
1.3 Các loại thẻ thanh toán hiện nay
Có nhiều loại thẻ thanh toán được phát hành hiện nay Mỗi loại thẻ sẽ có đặc điểm riêng biệt Bạn nên hiểu về những loại thẻ thanh toán đang được phát hành để khi đăng ký mở thẻ sẽ có lựa chọn phù hợp
Hiện nay đang có 3 loại thẻ thanh toán được sử dụng nhiều nhất bao gồm: Thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước
3
Trang 8Thẻ Debit Card (thẻ ghi nợ)
Thẻ ghi nợ hay còn được gọi là thẻ ATM với chức năng dùng để thực hiện các giao dịch thanh toán từ tài khoản ngân hàng liên kết Thẻ này sẽ được cấp cho khách hàng khi bạn đăng ký mở tài khoản tại ngân hàng Và muốn thanh toán bằng thẻ thì cần phải nạp tiền vào tài khoản mới sử dụng được
Hiện đang có 2 loại thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế Thẻ ghi nợ nội địa chỉ có thể thanh toán trong nước, còn thẻ ghi nợ quốc tế được phép thanh toán trên toàn thế giới
Thẻ Credit Card (Thẻ tín dụng)
Thẻ tín dụng lại hoạt động hoàn toàn khác so với thẻ ghi nợ Đây là loại thẻ cho phép bạn chi tiêu, thanh toán, mà không cần có tiền trong tài khoản Ngân hàng phát hành thẻ sẽ cung cấp một hạn mức tín dụng cho sẵn để khách hàng chi tiêu Khi chi tiêu trong hạn mức này và hoàn trả trong 45 ngày thì sẽ được miễn lãi suất
Thẻ tín dụng không dùng tới tiền mặt, có nghĩa là mọi giao dịch đều thực hiện trực tuyến hoặc quẹt thẻ Đối với loại thẻ thanh toán này thì cần phải chứng minh thu nhập và có lịch sử tín dụng tốt mới được mở
Thẻ Prepaid Card (Thẻ trả trước)
Thẻ trả trước là loại thẻ cho phép tất cả khách hàng có đầy đủ giấy tờ tùy thân đăng ký Thẻ sẽ được liên kết với tài khoản ngân hàng Mọi giao dịch phát sinh sẽ trích tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán Nhưng nó chỉ hoạt động khi trong tài khoản còn tiền, nếu như hết tiền trong thẻ thì không thanh toán được
Hầu hết các thẻ thanh toán, chẳng hạn như thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng cũng có thể hoạt động như thẻ ATM, mặc dù thẻ chỉ có ATM cũng có sẵn Thẻ và thẻ độc quyền không thể được sử dụng làm thẻ ATM Việc sử dụng thẻ tín dụng để rút tiền mặt tại ATM được đối xử khác với giao dịch POS, thường thu hút chi phí lãi suất kể từ ngày rút tiền mặt Mạng lưới liên ngân hàng cho phép sử dụng thẻ ATM tại ATM của các nhà khai thác tư nhân và tổ chức tài chính khác với các tổ chức phát hành thẻ
Tất cả các máy ATM tối thiểu sẽ cho phép rút tiền mặt của khách hàng của chủ sở hữu máy (nếu là máy do ngân hàng vận hành) và đối với các thẻ được liên kết với bất
kỳ mạng ATM nào mà ngân hàng có liên kết Máy sẽ báo cáo số tiền được rút ra và bất
kỳ khoản phí nào được tính bởi máy khi nhận Hầu hết các ngân hàng và công đoàn tín dụng sẽ cho phép các giao dịch ngân hàng liên quan đến tài khoản thông thường tại ATM của ngân hàng, bao gồm tiền gửi, kiểm tra số dư của tài khoản và chuyển tiền giữa các tài khoản Một số có thể cung cấp các dịch vụ bổ sung, chẳng hạn như bán tem bưu chính
Đối với các loại giao dịch khác qua điện thoại hoặc ngân hàng trực tuyến, việc này có thể được thực hiện bằng thẻ ATM mà không cần xác thực trực tiếp Điều này
Trang 9bao gồm các yêu cầu về số dư tài khoản, thanh toán hóa đơn điện tử hoặc trong một số trường hợp, mua hàng trực tuyến
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG 10 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY 2.1 Thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Viêt Nam
2.1.1 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
Hiện nay, tại Việt Nam, các tổ chức cung ứng dịch vụ TTKDTM gồm: NHNN Việt Nam; ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; quỹ tín dụng nhân dân; tổ chức tài chính vi mô và một số tổ chức khác (căn cứ theo Khoản 3 Điều 4 Nghị định
số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ) Trong đó, theo quy định của Luật NHNN Việt Nam năm 2010 thì “NHNN thực hiện tổ chức, quản lý, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng; tham gia
tổ chức và giám sát sự vận hành của các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế; thực hiện quản lý các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế” còn các ngân hàng và các
tổ chức cung ứng dịch vụ TTKDTM khác hoạt động theo sự quản lý giám sát của NHNN
Tính đến thời điểm 31/12/2020, bên cạnh 38 ngân hàng trong nước, 2 ngân hàng liên doanh, 8 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và
3 tổ chức tài chính vi mô được phép cung ứng dịch vụ TTKDTM, NHNN còn cấp phép cho 19 đơn vị không phải là ngân hàng hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (chi tiết được nêu tại Phụ lục số 02 và 03) Như vậy, với môi trường kinh doanh đa dạng, phong phú gồm 121 tổ chức tham gia cung ứng dịch vụ TTKDTM tại Việt Nam hiện nay đã tạo điều kiện cho hoạt động này không ngừng phát triển theo hướng đổi mới, hiện đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế
Thời gian gần đây, các ngân hàng Việt Nam đã và đang nỗ lực rất nhiều trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ TTKDTM phục vụ khách hàng.:
Các ngân hàng cũng thường xuyên kiểm tra, nâng cấp đường truyền, công nghệ,
để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình khách hàng giao dịch
nhằm đảm bảo các Hệ thống thanh toán ngân hàng vận hành thông suốt, liên tục
và an toàn Điều này không chỉ giúp gia tăng sự an toàn, tiện lợi và nhanh chóng trong khâu thanh toán mà còn tạo cơ hội mở rộng các dịch vụ ngân hàng hiện đại, thay đổi tư duy kinh doanh ngân hàng truyền thống và tạo thuận lợi cao nhất cho mọi đối tượng khách hàng
5
Trang 10Trong những năm gần đây, bên cạnh những phương tiện truyền thống như Séc, UNC, UNT, nhiều phương tiện thanh toán và dịch vụ TTKDTM mới, hiện đại, tiện ích như Ngân hàng điện tử, ví điện tử… đã ra đời đáp ứng được nhiều loại nhu cầu của người sử dụng dịch vụ Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến xu hướng sử dụng dịch vụ TTKDTM của khách hàng
2.1.2 Thực trạng sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thị trường thẻ ngân hàng Việt Nam những năm qua được đánh giá có tốc độ phát triển mạnh Đây là một tín hiệu rất tốt góp phần quan trọng thúc đẩy nhanh xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt Tại Việt Nam, thẻ thanh toán đã được biết đến hơn 10 năm trước đây, nhưng phải đến năm 1998 thị trường thẻ mới trở nên sôi động khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng Bởi lợi nhuận từ dịch vụ này rất hấp dẫn đối với các ngân hàng và đó chính là cơ hội để các NHTM Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh Đây cũng là một trong những nghiệp vụ ngân hàng hiện đại giúp Việt Nam đi tắt đón đầu trong dịch vụ ngân hàng, giúp hoạt động ngân hàng trong nước có sức mạnh cạnh tranh về công nghệ với các ngân hàng nước ngoài trong lĩnh vực mới mẻ này Tuy nhiên, đây cũng là dịch vụ đem lại không ít những khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam, như: khó khăn về kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ nói chung và bản thân ngân hàng nói riêng đã gây nhiều trở ngại đối với việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh thẻ đạt tới những giá trị tiềm năng vốn có của nó, buộc ngân hàng phải không ngừng tự mình nhìn lại và đưa ra các biện pháp giải quyết để có thể đứng vững và khẳng định vị thế của mình trên thị trường
Thẻ ngân hàng tiếp tục là phương tiện thanh toán đa dụng, tiện ích, được các NHTM chú trọng phát triển, có tốc độ phát triển nhanh chóng Theo Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước - NHNN), cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Số lượng và giá trị giao dịch thanh toán nội địa của thẻ ngân hàng tiếp tục tăng, trong quý I năm 2019 đạt 65 triệu giao dịch với tổng số tiền giao dịch là 171 nghìn tỷ đồng (tăng 18,45% về số lượng và 18,82% về giá trị so với cùng kỳ của năm 2017) Các NHTM đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ; đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ, độ an toàn thanh toán thẻ Thanh toán điện tử qua Internet, điện thoại di động đạt được kết quả đáng ghi nhận, thu hút số lượng lớn khách hàng sử dụng Trong quý I năm 2019, số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh Internet tăng 68,8% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2018; số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động tăng 97,7% và 232,3 % so với cùng kỳ năm 2018 Tỷ lệ sử dụng thẻ ngân hàng so với các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác đang có xu hướng tăng lên Dịch vụ thẻ ngân