Bên cạnh nhiều khó khăn tồn tại trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nước thải và không khí, vấn đề CTR nói chung và CTR sinh hoạt nói riêng đang thật sự là một thách thức lớn,
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu
Danh mục biểu đồ, sơ đồ
Phần mở đầu 5
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 6
1.1 Sự cần thiết của đề tài 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 7
1.3 Nội dung nghiên cứu 7
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7
1.5 Phương pháp nghiên cứu 7
1.6 Ý nghĩa của đề tài 8
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ-XÃ HỘI TP.HCM 9
2.1 Giới thiệu chung 9
2.2 Điều kiện tự nhiên 10
2.2.1 Vị trí hành chính và địa lý 10
2.2.2 Đặc điểm địa hình 10
2.2.3 Đặc điểm khí hậu 11
2.2.4 Nhiệt độ 11
2.2.5 Chế độ gió 12
2.2.6 Hệ thống sông ngòi-Kênh rạch 12
2.3 Điều kiện kinh tế-xã hội 13
2.3.1 Điều kiện kinh tế 13
2.3.2 Điều kiện xã hội 14
CHƯƠNG 3:TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 16
3 .1 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt(CTRSH) 16
3.1.1 Khái niệm về chất thải rắn 16
3.1.2 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt 16
3.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 16
Trang 23.3 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt 18
3.4 Thành phần và khối lượng của chất thải rắn sinh hoạt 18
3.4.1 Thành Phần 18
3.4.2 Khối lượng 22
3.5 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khoẻ cộng đồng 23
3.6 Dự báo phương hướng phát triển kinh tế-xã hội TP.HCM năm 2010 24
3.6.1 Phương hướng phát triển kinh tế- xã hội từ nay đến năm 2010 24
3.6.2 Dự báo tốc độ tăng dân số TP.HCM dến năm 2010 25
3.7 Dự báo diễn biến thành phần và khối lượng CTR sinh hoạt 25
3.7.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và khối lượng rác sinh hoạt 25
3.7.2 Dự báo diễn biến về khối lượng CTR sinh hoạt 25
3.7.3 Dự báo về thành phần CTR sinh hoạt 27
CHƯƠNG 4: HIỆN TRẠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 29
4.1 Hiện trạng hệ thống thu gom,vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt Thành Phố Hồ Chí Minh 29
4.1.1 Hiện trạng 29
4.1.2 Yêu cầu chung trong quản lý CTR sinh hoạt 30
4.2 Quy trình thu gom,vận chuyển và trung chuyển CTR sinh hoạt 30
4.2.1 Hệ thống thu gom 31
4.2.2 Hệ thống vận chuyển 37
4.2.3 Hệ thống xử lý 41
4.3 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý CTR sinh hoạt TP.HCM 44
4.3.1 Hệ thống quản lý 44
4.3.2 Hệ thống thu gom,vận chuyển 46
4.3.3 Hệ thống xử lý 47
4.4 Chiến lược bảo vệ môi trường và phương hướng quản lý CTR sinh hoạt Thành Phố Hồ Chí Minh 48
4.4.1 Chiến lược BVMT Thành Phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 48
4.4.2 Phương hướng quản lý CTR sinh hoạt TP.HCM đến năm 2010 49
CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ Ý NGHĨA KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 50
5.1 Khái niệm Phân loại Chất Thải rắn tại nguồn 50
Trang 35.1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc Phân loại rác tại nguồn 50
5.1.3 Các điều kiện cần và đủ để thực hiện phân loại rác tại nguồn 51
5.1.4 Thuận lợi và khó khăn trong Phân loại rác tại nguồn 52
5.1.5 Quy trình phân loại Chất thải rắn tại nguồn 53
5.1.6 Những tác động tích cực của PLRTN đối vớiKT-XH-MT 56
5.1.7 Những tác động tiêu cực của PLRTN đối với KT-XH-MT 61
5.1.8 Các biện pháp giảm nhẹ và khắc phục các tác động tiêu cực của PLRTN đối với KT-XH-MT 62
5.2 Tái chế,Tái sử dụng 62
5.2.1 Khái niệm tái chế,tái sử dụng 62
5.2.2 Hiện trạng hoạt động tái chế CTR sinh hoạt TP.HCM 64
5.2.3 Hiện trạng thu mua phế liệu 69
5.2.4 Hiện trạng công nghệ tái chế 70
5.2.5 Những tác động tích cực của tái chế,tái sử dụng đối với KT-XH-MT trong tái chế,tái sử dụng CTR tại TP.HCM 74
5.2.6 Những tác động tiêu cực của tái chế,tái sử dụng đối với KT-XH-MT trong tái chế,tái sử dụng CTR tại TP.HCM 76
5.2.7 Mối quan hệ giữa Phân loại rác tại nguồn,tái chế,tái sử dụng 77
5.3 Chôn lấp và tiêu huỷ 77
5.3.1 Khái niệm 77
5.3.2 Những tác động tích cực của chôn lấp chất thải rắn đối với KT-XH-MT 78
5.3.3: Những tác động tiêu cực của chôn lấp chất thải rắn đối với KT-XH-MT 78
CHƯƠNG 6: NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ SUẤT CÁC GIẢI PHÁP TỔNG HỢP VÀ THỐNG NHẤT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 82
6.1 Đề suất về mặt tổ chức bộ máy quản lý 82
6.1.1 Mối quan hệ chuyên nghành của hệ thống quản lý CTR cấp thành phố 83
6.1.2 Bước đột phá trong lĩnh vực xã hội hoá hệ thống quản lý CTR Thành phố Hồ Chí Minh 84
6.1.3 Các mục tiêu cơ bản đối với vấn đề xã hội hoá dịch vụ VSMT 84
6.2 Đề suất PLRTN và xã hội hoá công tác phân loại rác tại nguồn 6.2.1 Đề suất quy trình 84
6.2.2 Đề suất các giải pháp 84
6.3 Đề suất cải tiến công nghệ tái chế,tái sử dụng CTR từ nguồn và công tác xã hội hoá quản lý tái chế,tái sử dụng CTR phân loại tại nguồn 85
Trang 46.4 Các biện pháp hỗ trợ 87
6.4.1 Biện pháp kinh tế 87
6.4.2 Giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng 89
CHƯƠNG 7:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
7.1 Kết luận 90
7.2 Kiến nghị 91
Trang 5Bên cạnh nhiều khó khăn tồn tại trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nước thải và không khí, vấn đề CTR nói chung và CTR sinh hoạt nói riêng đang thật
sự là một thách thức lớn, một mối đe doạ khủng khiếp đối với môi trường, sức khoẻ và cuộc sống của người dân Thành Phố.Theo đánh giá của Bộ Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường mỗi ngày tại TP.HCM có gần 5000-5200 tấn CTR sinh hoạt mới phát sinh mà phần lớn chúng không được tiêu huỷ một cách an toàn, hình thức tiêu huỷ phổ biến vẫn là đổ ở các bãi rác lộ thiên, các con sông, kênh rạch hoặc chôn lấp không hợp
vệ sinh, đã gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, ô nhiễm mùi, các loài động vật gặm nhấm, các
kí sinh trùng lan truyền dịch bệnh đã làm tăng tỷ lệ người bị mắc các bệnh về da, tiêu hoá và hô hấp, đồng thời gây mất mỹ quan đô thị
Do vậy việc xây dựng một hệ thống quản lý CTR là vô cùng bức thiết mà để công tác quản lý này đạt hiệu quả cần phải bao gồm các hoạt động thu gom, phân loại rác tại nguồn, tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu huỷ, đây là những yếu tố quan trọng có tính quyết định đối với việc bảo vệ môi trường và sức khoẻ người dân TP.HCM nói riêng
và người dân cả nước nói chung
Trang 6CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bất cứ một hệ thống kinh tế, một hệ thống xã hôị nào cũng sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường nếu như hệ thống kinh tế -xã hội đó không định hướng gắn liền bảo vệ môi trường với phát triển bền vững
Do đó thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là động lực phát triển kinh tế-xã hội, là vùng kinh tế trọng điểm của phía nam nói riêng và của cả nước nói chung, với dân số trên 6 triệu người, 12 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất, 1 khu công nghệ cao, và hơn 23.000 cơ sở sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, các khu trung tâm thương mại và dịch
vụ, khu đô thị ngày càng mở rộng và phát triển nhanh chóng đã tạo ra một khối lượng lớn CTR sinh hoạt, mà việc quản lý lượng chất thải này là một thách thức và là một trong những dịch vụ môi trường đặc biệt quan trọng đối với thành phố, không chỉ vì chi phí cho vấn đề thu gom phân loại rác từ nguồn đến việc vận chuyển và xử lý rác gặp nhiều khó khăn mà còn vì những lợi ích to lớn và tiềm tàng đối với sức khỏe và đời sống người dân Điều này cũng rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng sống cho dân nghèo tại thành phố là những người dễ phải chịu những ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe do công tác quản lý chất thải chưa phù hợp và là những người mà nguồn sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động thu gom, tái sinh tái chế CTR sinh hoạt
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc phân loại rác từ nguồn để từ đó tái sinh tái chế nhằm giảm nhẹ khâu xử lý mà lại tăng thêm thu nhập cho người dân là một nhu cầu hết sức thiết thực Vì vậy để có được cái nhìn toàn diện về hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt cần kết hợp từ việc nâng cao nhận thức của người dân tham gia phân loại rác
từ nguồn,đến thực hiện các chính sách xã hội hóa của nhà nước về quản lý CTR trong điều kiện thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa phát triển là cơ sở, tiền đề phục vụ cho công tác quy hoạch bảo vệ môi trường bền vững.Trên tinh thần đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước tiến hành nhằm đạt được mục tiêu chung như: xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường thành phố đến năm 2020 và kế hoạch hành động bảo vệ môi trường thành phố đến năm 2010, trong đó vấn đề quản lý CTR đô thị được xem là một trong những nhiệm vụ trọng yếu Đây cũng là lý do mà sinh viên dưới dự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Thanh Mỹ chọn đề tài:
Trang 7“Nghiên cứu các khía cạnh kinh tế-xã hội môi trường trong công tác quản lý CTR sinh hoạt tại TP.HCM”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
-Đánh giá được ý nghĩa kinh tế-xã hội-môi trường trong các hoạt động Phân loại rác từ nguồn, tái chế CTR sinh hoạt trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh;
-Đề xuất các giải pháp, các mô hình thích hợp nhằm tận dụng CTR sinh hoạt trong phân loại rác từ nguồn, tái chế, tái sử dụng, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
và có lợi đối với nền kinh tế-xã hội của TP.Hồ Chí Minh
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
-Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội TP.Hồ Chí Minh;
-Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại TP.HCM (số lượng,thành phần,tính chất…);
-Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại TP.HCM;
-Hiện trạng phân loại rác từ nguồn, tái chế, tái sử dụng ;
-Phân tích các khía cạnh kinh tế-xã hội-môi trường trong hoạt động phân loại từ nguồn CTR sinh hoạt;
-Phân tích các khía cạnh kinh tế-xã hội-môi trường trong hoạt động tái chế CTR sinh hoạt;
-Nghiên cứu các mối quan hệ nhằm đánh giá được ý nghĩa thực tế (KT-XH-MT) giữa phân loại rác từ nguồn và tái chế CTR sinh hoạt;
-Nghiên cứu, đề xuất các hình thức giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng
1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Phạm vi không gian: TP.Hồ Chí Minh;
-Phạm vi thời gian: từ nay đến 2010;
-Phạm vi nội dung: Các khía cạnh Kinh tế-Xã hội-Môi trường trong công tác quản lý CTR sinh hoạt;
- Đối tượng nghiên cứu: CTR sinh hoạt
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cách tiếp cận:
-Để thực hiện được đề tài thì cách tiếp cận được áp dụng sẽ là tổng hợp mọi thông tin có liên quan đến địa bàn nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau Mặt khác
Trang 8thông qua chính quyền và nhân dân địa phương nhằm tìm hiểu, đánh giá và phân tích ý nghĩa kinh tế-xã hội môi trường trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành Phố Hồ Chí Minh
-Bên cạnh đó các hoạt động BVMT được xây dựng và duy trì bằng cách:
+Huy động cộng đồng tham gia quản lý chất thải;
+Đề xuất các giải pháp phù hợp với định hướng phát triển, quy hoạch vùng và quy hoạch của địa phương;
+Lấy hộ gia đình và cơ sở kinh doanh làm trung tâm, chính quyền địa phương hỗ trợ tạo điều kiện;
+Các giải pháp đơn giản dễ thực hiện nhằm hướng tới việc phân loại rác tại nguồn, tái chế, tái sử dụng chất thải sinh hoạt và giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường
Phương pháp:
-Thu thập thông tin, cập nhật số liệu, và xử lý số liệu có liên quan;
-Xử lý chọn lọc thông tin và kế thừa các kết quả đã nghiên cứu cho việc phân loại
từ nguồn, tái chế, tái sử dụng cũng như vai trò của cộng đồng;
-Thống kê, tổng hợp các số liệu về hiện trạng vệ sinh môi trường Thành Phố; -Các quy định, các tiêu chuẩn môi trường hiện hành;
-Các công cụ kinh tế-xã hội-môi trường, trong đó công tác xã hội hóa và nâng cao nhận thức của người dân là yếu tố quyết định giúp bảo vệ môi trường thành phố
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
-Đề tài trên cơ sở đánh giá hiện trạng, diễn biến CTR sinh hoạt Thành Phố nhằm
đề xuất các giải pháp quản lý thống nhất và có tính khả thi cao gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội-môi trường bền vững Thành Phố đến năm 2010
Trang 9CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ-XÃ HỘI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Thành Phố Hồ Chí Minh(Sài Gòn trước đây)-nơi một thời được mệnh danh là
“Hòn ngọc viễn đông”, là một Thành Phố trẻ ra đời từ thế kỷ thứ 17, và là một trong những trung tâm thương mại sầm uất nhất vùng Đông Nam Á Thành Phố Hồ Chí Minh(Sài Gòn) được thành lập từ năm 1623 nhưng đến năm 1698 mới khai sinh ra thành phố Sài Gòn, đến ngày 2/7/1976 tại kỳ họp quốc hội khoá VI đã chính thức đổi tên Sài Gòn là Thành Phố Hồ Chí Minh Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Thành phố có rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều di tích và hệ thống bảo tàng phong phú Và cho đến nay (bên thềm năm 2007) Thành Phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều biến đổi so với những ngày đầu, đặc biệt là về cảnh quan môi trường
Thành Phố nằm ở trung tâm Nam Bộ cách thủ đô Hà Nội 1.738 km về phía Đông Nam, là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động
10 triệu tấn/năm, sân bay Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7 km, Thành phố nằm ở vị trí có nhiều điều kiện thuận lợi cả về địa lý, giao thông,thuỷ bộ, khí hậu…và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên nền văn hoá đa dạng. Mà đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống dân tộc với nét văn hoá phương Bắc và phương tây, góp phần hình thành nên lối sống và tính cách người Sài Gòn
Năng động và sáng tạo, Thành Phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu trong các phong trào xã hội và nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế, khoa học, văn hoá, du lịch của
cả nước, và cho đến nay Thành Phố vẫn không ngừng xây dựng và mở rộng nhằm đáp ứng mục tiêu biến Thành Phố Hồ Chí Minh trở thành một trong những thành phố văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc dân tộc của Việt Nam và là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Do vậy với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, Thành Phố Hồ Chí minh đã trở thành trung tâm Kinh tế, Văn hoá-du lịch, giáo dục-Khoa học kỹ thuật-Y tế lớn của cả nước Và trong tương lai thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có cơ cấu nông nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên
Trang 10tiến, và trở thành một thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ trong khu vực Đông Nam Á
2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.2.1 Vị trí hành chánh và địa lý
Diện tích: 2.095,239 km2;
Dân số: 6.239.938 người Nông thôn: 17,2%,Thành Thị: 82,8 %(2005);
Dân tộc: Việt, Hoa, Khơ me;
Mật độ : 4072 người/km2;
Đơn vị hành chính: 24 quận huyện (19 quyận,5 huyện);
Thành phố có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi, nằm trong tọa độ địa lý khoảng
10038-11010’ vĩ độ bắc và 106022-106055’ kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tây-tây nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Chiều dài của thành phố (theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam) là 150km từ Củ Chi đến Duyên Hải và chiều rộng (theo hướng từ Đông sang Tây) là 50km từ Thủ Đức đến Bình Chánh Thành Phố nằm ở trung tâm nam bộ cách thủ đô Hà Nội 1.738 km về phía đông nam, là nơi hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không và là đầu mối giao thông kinh tế lớn nối liền với các địa phương trong nước và quốc tế
2.2.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, có ít đồi núi ở phía bắc và đông bắc, với độ cao giảm dần theo hướng đông nam Nhìn chung có thể chia địa hình TP.HCM thành bốn dạng chính có liên quan đến chọn độ cao để bố trí các công trình xây dựng như sau:
Dạng đất gò cao lượn sóng (độ cao thay đổi từ 4-32m, trong đó 4-10m chiếm khoảng 19% tổng diện tích, phần cao trên 10m chiếm 11% phân bố ở huyện Củ Chi, HócMôn và một phần ở Thủ Đức, Bình Chánh);
Dạng đất bằng phẳng thấp (độ cao xấp xỉ 2-4m phân bố ở nội thành, một phần ở Thủ Đức, HócMôn, nằm dọc theo sông Sài Gòn và nam Bình Chánh chiếm 15% diện tích);
Dạng trũng thấp, đầm lầy phía tây nam (độ cao phổ biến từ 1-2m chiếm khoảng 34% diện tích);
Dạng trũng thấp, đầm lầy mới hình thành ven biển (độ cao từ 0-1m, nhiều nơi dưới 0m chiếm 21% diện tích);
Trang 11Như vậy địa hình là một trong những yếu tố cần được xem xét trong công tác vạch tuyến thu gom rác cũng như chọn vị trí xây dựng bãi chôn lấp rác, do vậy nhất thiết phải vạch tuyến thu gom rác theo hướng từ cao xuống thấp để tiết kiệm năng lượng và giảm rủi ro trong quá trình thu gom
2.2.3 Đặc điểm khí hậu
Thành Phố Hồ Chí Minh có khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo nên nhiệt độ cao và khá ổn định trong năm, nhiệt độ trung bình tại Thành Phố Hồ Chí Minh là 27,50C, bức xạ nhiệt: 94kcal/năm Do ảnh hưởng của khí hậu nên ở Thành Phố tồn tại chỉ có hai mùa: mùa nắng và mùa mưa, thường là 6 tháng mùa nắng và 6 tháng mùa mưa, nhưng do thời tiết ảnh hưởng nên gây ra hiện tượng bất thường là tháng nắng nhiều hơn tháng mưa hoặc ngược lại, trong đó tháng nóng nhất là tháng 4 với nhiệt độ khoảng trên 290C
Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 11;
Lượng mưa bình quân năm: 1.797mm;
Lượng mưa lớn nhất hàng năm : 2.718mm;
Số ngày mưa trung bình: 159 ngày/năm;
Lượng mưa lớn nhất trong ngày : 183mm;
Chế độ mưa ảnh hưởng đến tỷ trọng rác, gây khó khăn trong công tác thu gom, quét dọn rác, ảnh hưởng đến môi trường đất và nước tại các bãi rác
Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau;
Số giờ nắng trung bình: 160-270 giờ;
Độ ẩm không khí trung bình: 80%;
2.2.4 Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phân huỷ rác tại các bô tập trung và tại các bãi chôn lấp rác.Đáng lưu ý là vào mùa nóng thì các loại rác khô như giấy, cartong, nhựa, cao su có khả năng bị cháy cao
Nhiệt độ trung bình năm (tính cho cả năm) 27,420C
Nhiệt độ tối cao tuyệt đối (vào năm 1975) 41,00C
Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối (vào năm 1937) 13,80C
Nhiệt độ của tháng cao nhất (tháng 4 hàng năm) 29,00C
Nhiệt độ của tháng thấp nhất (tháng 12 hàng năm) 25,50C
Trang 122.2.5 Chế độ gió
Gió là một nhân tố quan trọng trong quá trình phát tán và lan truyền các chất trong không khí, khi vận tốc gió càng lớn thì khả năng lan truyền các chất ô nhiễm càng xa, khả năng lan truyền với không khí sạch càng lớn Đây là một yếu tố quan trọng khi lựa chọn vị trí xây dựng bãi chôn lấp rác nhằm tránh phát tán mùi hôi thối ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ của cộng đồng
-Hướng gió chủ đạo:
Từ cánh trái đi xuống là Sông Sài Gòn có lưu vực khoảng 5.400km2, bề rộng từ 225m đến 370m, chiều sâu 20m, chảy từ biên giới Campuchia về và đổ vào sông Đồng Nai ở Nhà Bè Sông Sài Gòn có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa nên thủy triều vào rất sâu và mạnh
Sông Vàm Cỏ Đông rất sâu nhưng lại nghèo về nguồn nước và có rất nhiều nhánh, kênh rạch nối với Sông Vàm Cỏ Tây và Đồng Tháp Mười
Sông Đồng Nai dài 550 km, mang dòng phù sa màu mỡ chủ yếu đất đỏ bazan, sông tạo ra bảy bậc thềm, gồm nhiều thác lớn (có thác Trị An đã trở thành đập thuỷ điện lớn nhất nước), là nguồn nước ngọt chính của thành phố với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp khoảng 45.000 tỷ m3 nước, đáp ứng nhu cầu cấp nước của thành phố
Các con sông trong thành phố được nối kết với nhau thành một hệ thống với mối tương quan chặt chẽ về mặt chế độ thuỷ văn và cùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế
độ bán nhật triều từ biển Đông tràn vào
Chế độ thủy văn, thủy triều của kênh rạch trong thành phố chịu ảnh hưởng của sông Sài Gòn, với hai hệ thống kênh rạch chính:
Hệ thống kênh rạch đổ vào S.Sài Gòn gồm: Rạch Bến Cát, kênh Nhiêu Thị Nghè;
Lộc- Hệ thống các kênh đổ vào S.Bến Lức, Kênh Đôi-kênh Tẻ: Rạch Tân Kiên, R.Bà Hom, R.Tân Hóa-Lò Gốm
Trang 132.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ-XÃ HỘI
2.3.1 Điều kiện kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật lớn nhất nước, với không gian kinh tế lớn và cơ cấu chuyển dịch theo hướng hiệu quả nên nền kinh tế TP.HCM ngày càng có vị trí cao và đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển chung của kinh tế cả nước, chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), gần 30% tổng thu ngân sách nhà nước, 35% khối lượng tiền tệ lưu thông toàn quốc, 30% giá trị sản xuất công nghiệp, 40% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, trên 1/3 tổng mức hàng hóa bán ra và 35% số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
-Đường bộ: Từ Thành phố Hồ Chí Minh mạng lưới giao thông đường bộ toả đi khắp nơi, mối quan hệ với các vùng phụ cận được nối bắng hệ thống quốc lộ và liên tỉnh lộ đến các nơi từ miền tây ra miền trung-miền bắc của cả nước, hiện nay thành phố có khoảng 786 con đường với tổng chiều dài 1658 km và tổng diện tích 16.667,438 km2, 239 cây cầu với 12.988m chiều dài, và với nhiều hệ thống đường hẻm chằng chịt được hình thành một cách tự phát dẫn đến mặt đường hẹp và bị hư hỏng thường xuyên;
-Đường thủy: Đường thuỷ chính là thế mạnh của Thành phố với tổng chiều dài giao thông tuyến đường sông là 2.035km, hệ thống đường sông tập trung chủ yếu ở phía đông và phía nam của thành phố, bao gồm 7cảng biển, 4cảng sông (cảng Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè,Tân Cảng) với diện tích 140,35ha, trong đó cảng Sài Gòn là cảng lớn nhất nước đã góp phần tạo nên phát triển kinh tế của thành phố;
- Đường sắt: Có 4 ga xe lửa chủ yếu đi đến các tỉnh Nam Trung Trung Bắc Bộ.Trong đó ga Sài Gòn là đầu mối giao thông quan trọng và nhộn nhịp nhất nước;
-Đường hàng không: Thành Phố có sân bay Tân Sơn Nhất là một trong hai sân bay lớn nhất nước, năm 2005 có lượng khách quốc tế đến bằng đường hàng không chiếm 2/3 số lượng khách đến các sân bay quốc tế tại Việt Nam;
-Dịch vụ vận tải: Nhờ tăng cường nhiều loại phương tiện vận tải nên nhu cầu vận tải hành khách dần đi vào ổn định, vận chuyển hàng hóa đạt 18,5 triệu tấn, vận chuyển hành khách công cộng ước đạt 148 triệu lượt hành khách;
.-Giá trị sản xuất công nghiệp: Tăng 13%(2005) đạt 132.976 tỷ đồng, đóng góp đáng kể vào nhịp độ tăng trưởng của cả nước và ngày càng có thêm có những nghành công nghiệp mũi nhọn như chế biến thực phẩm, dệt da, may mặc, hóa mỹ phẩm, sản xuất đồ nhựa, các khu công nghiệp, khu chế xuất đã đóng góp rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt là tạo ra một mô hình mới thu hút vốn đầu tư, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, du nhập công nghệ kỹ thuật cao, với cách
Trang 14thức quản lý kinh doanh tiên tiến đã góp phần thiết thực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
-Giá trị xây lắp: Trên địa bàn tăng 14,5% so với cùng kỳ(14,2%), trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 11,1%, khu vực kinh tế nhà nước tăng 10,9%, khu vực đầu tư nước ngoài tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ;
-Cấp điện: Thành phố Hồ Chí minh được cấp điện từ mạng lưới điện quốc gia Trong thành phố có các nhà máy điện như: Hiệp Phước,Thủ Đức(165MW), chợ quán (35MW), mạng lưới điện bao gồm các công trình như: trạm giảm áp chính, trạm phân phối trung tâm, trạm phát điện Diesel, trạm biến áp phân phối, các đường dây cao thế,đường dây trung thế và hạ thế, nhưng nhìn chung đều trong tình trạng quá tải và thiếu
dự phòng nên sự cố thường xuyên xảy ra, vì vậy cần xây dựng và phát triển thêm để đáp ứng nhu cầu trong tương lai;
-Cấp nước: Nguồn cấp nước chính của thành phố là nhà máy nước thủ Đức theo tuyến ống chính dọc tuyến đường xa lộ Hà Nội-Điện Biên Phủ, với công suất 750.000m3/ngày đêm Ngoài ra còn có nhà máy nước ngầm HócMôn với công suất 30.000m3/ngày đêm và hai cơ sở cấp nước ngầm được xây dựng từ thời pháp là trạm cấp nước ngầm Gò Vấp và trạm cấp nước ngầm Tân Sơn Nhất Nhưng do hệ thống cấp thoát nước đã cũ nên lưu lượng nước cấp thuờng xuyên bị thất thoát, cùng với sự tập trung dân cư ở thành phố quá đông nên dẫn đến tình trạng lượng nước không đủ cung cấp cho từng hộ dân
2.3.2 Điều kiện xã hội
Trong nhiều năm qua do kinh tế phát triển nhanh nên đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư trên địa bàn thành phố được cải thiện rõ rệt, mức tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của dân cư hàng năm tăng trên dưới 10%, số hộ có mức sống nghèo khó ngày một giảm, cơ sở hạ tầng được tăng cường nhất là các huyện ngoại thành
Giáo dục: Hàng năm thành phố dành 15% ngân sách của địa phương cho sự nghiệp phát triển giáo dục với hơn 23 thư viện, 272 nhà trẻ, 713 trường phổ thông cơ
sở, 631 trường cấp I và cấp II, 81 trường cấp III, 26 trường đào tạo và bồi dưỡng nghề,
và không ngừng phổ cập bậc trung học ở các quận huyện, xây dựng lộ trình xã hội hóa giáo dục theo nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của chính phủ, không ngừng đầu tư trang thiết bị dạy học để đảm bảo số lượng và chất lượng;
Y tế: Phát triển mạnh và ngày càng có nhiều khu y tế kỹ thuật cao đáp ứng tốt yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân trên địa bàn thành phố, người dân các địa phương khác và người nước ngoài Hiện nay trên địa bàn thành phố có 48 bệnh viện trực thuộc trung ương, quân đội, công an, 282 trạm y tế, 33 phòng khám khu vực,
và hơn 9000 phòng khám tư nhân;
Trang 15Văn hóa- thông tin: Thành phố hiện có 11 bảo tàng, 36 rạp hát và chiếu bóng, 26
cơ sở văn hóa như nhà văn hóa thiếu nhi quận, nhà văn hoá thanh niên, nhà văn hoá phụ nữ, các trung tâm thể dục thể thao, trung tâm tôn giáo lớn như nhà thờ đức bà, chùa vĩnh nghiêm, chùa giác lâm…;
Thương mại: Có khoảng 100 chợ trong đó hơn 65% là chợ tự phát, bên cạnh đó Thành Phố còn có nhiều trung tâm thương mại quy mô lớn và vừa, hội chợ, nhà hàng, khách sạn;
Công trình công cộng: Thành phố hiện có 113 công viên, vườn hoa công cộng, các kho bãi nằm trong các khu dân cư với tổng diện tích 100,83 ha;
Như vậy trong những năm gần đây thành phố đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế-xã hội, giải phóng sức sản xuất nên đã tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Với lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng về lao động cùng với những thực lực về kinh tế, xã hội hiện hữu đã ,đang và sẽ sớm xây dựng thành phố trở thành một trung tâm kinh tế đa chức năng và có vị trí ngày càng xứng đáng trên bản đồ kinh tế-xã hội đất nước và khu vực
Tuy nhiên bên cạnh những thành công đạt được kinh tế-xã hội thành phố Hồ Chí Minh cũng còn không ít những mặt tồn tại cần tiếp tục khắc phục và giải quyết, mặc
dù kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao nhưng nhìn chung tiềm lực kinh tế vẫn còn hạn chế Sự phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và cơ sở hạ tầng dịch vụ chưa theo kịp
xu thế đô thị hóa dẫn đến quá tải và đang trở thành một trong những thách đố lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội trước mắt cũng như lâu dài Do đó phát triển kinh tế, phát triển các loại hình công nghiệp, mật độ và dân số là nguyên nhân ảnh hưởng đến thành phần và khối lượng rác thành phố hiện nay cũng như trong tương lai
Trang 16CHƯƠNG 3.
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN
SINH HOẠT
3.1 KHÁI NIỆM VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT(CTRSH)
3.1.1 Khái niệm chất thải rắn
-Theo quan điểm chung: Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại
bỏ ra trong các hoạt động kinh tế-xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng ) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
-Theo quan điểm mới: Chất thải rắn (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ
Theo quan điểm này, chất thải rắn đô thị có các đặc trưng sau:
+Bị vứt bỏ trong khu vực đô thị;
+Thành phố có trách nhiệm thu dọn
3.1.2 Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt
CTR sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các họat đông của con người mà nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, đường phố, chợ,các trung tâm thương mại dịch vụ, sông ngòi, kênh rạch Lượng rác này chiếm tỉ lệ rất lớn
do đó việc thu gom, vận chuyển và xử lý rất phức tạp, tốn nhiều tiền của và công sức Thành phần chất thải rắn sinh hoạt bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói,đất
đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, tre, gỗ,vải,giấy, rơm rạ, xác động vật
3.2 NGUỒN PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Chất thải rắn sinh hoạt ở TPHCM phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau:
Rác hộ dân: Rác được phát sinh từ các hộ gia đình, biệt thự, các căn hộ chung
cư Thành phần rác thải này baogồm: thực phẩm, giấy, cartông, plastic, gỗ, thủy tinh, tro, rác vườn, vỏ xe Ngoài ra rác hộ dân có thể chứa 1 phần rác thải độc hại
Trang 17 Rác quét đường: phát sinh từ các hoạt động vệ sinh thành phố, các khu vui chơi, giải trí và làm đẹp cảnh quan Nguồn rác này thường do người đi đường, các đối tượng tham gia giao thông hay các hộ dân sống dọc hai bên đường xả bừa bãi Thành phần của chúng có thể bao gồm các loại sau: cành cây và lá cây, giấy vụn, bao nylon, xác động vật chết
Rác khu thương mại: phát sinh từ các hoạt động buôn bán của các cửa hàng bách hoá, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, văn phòng giao dịch, nhà máy in Các loại chất thải từ khu thương mại bao gồm: giấy, cartong, plastic, gổ, thực phẩm, thuỷ tinh, kim loại, vỏ lốp xe, đồ điện tử gia dụng…ngoài ra rác khu thương mại có thể chứa một phần chất thải độc hại
Rác cơ quan,công sở: phát sinh từ các cơ quan, xí nghiệp, trường học, văn phòng làm việc.Thành phần rác ở đây giống như rác khu thương mại
Rác chợ: phát sinh từ các hoạt động mua bán ở chợ, thành phần chủ yếu là rác hữu cơ bao gồm: rau, củ, quả thừa, và hư hỏng
Rác trên sông,kênh rạch: đây là rác do người thiếu ý thức xả xuống sông,kênh rạch, hoặc rác sinh hoạt xả ra do các phương tiện vận tải đường thủy Lượng rác này phụ thuộc chủ yếu vào ý thức của người dân và chúng chiếm khoảng
10 % so với rác sinh hoạt (theo báo cáo hội thảo “kinh tế chất thải và phát
triển bền vững”) khối lượng rác này là 450 tấn/ngày Rác vớt được chủ yếu là
rác nhẹ nổi trên mặt nước, còn rác có trọng lượng riêng lớn hơn nước thì sẽ chìm xuống dưới
Hình 3-1: Rác vứt bừa bãi trên kênh rạch Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 183.3 PHÂN LOẠI CTR SINH HOẠT
Rác sinh hoạt có thể được phân loại như sau:
Rác thực phẩm: bao gồm các thức ăn thừa, rau quả, loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình, còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, kí túc xá, chợ…
Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của động vật khác
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ra cống rảnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư
Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nóng, bằng than, củi, và các chất dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than
Các chất thải từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nylon, vỏ,bao gói
3.4 THÀNH PHẦN VÀ KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nhanh như hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh, sẽ kéo theo lượng phát sinh chất thải từ các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp
và thương mại, rường học, bệnh viện tăng lên một cách nhanh chóng Dẫn đến tình hình rác thải tại thành phố trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến phức tạp, với thành phần rác thải ra rất đa dạng và ngày càng gia tăng về khối lượng
3.4.1 Thành phần
Thành phần của chất thải rắn là thuật ngữ dùng để mô tả các phần riêng biệt mà
từ đó nó tạo nên dòng chất thải và mối quan hệ giữa các thành phần này thường được biểu thị bằng phần trăm theo khối lượng Thành phần chất thải rắn có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ xử lý rác cũng như hoạch định các chương trình và hệ thống quản lý chất thải rắn Thành phần của rác sinh hoạt chở đến các bãi rác chiếm khoảng 60-90 % là chất thải hữu cơ dễ phân hủy, các loại plastic khó tái chế, rác từ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp như: Vải sợi, giầy dép cao su, rất ít chất thải nguy hại như pin.bóng đèn, và hầu như không có hay rất ít các kim loại, thủy tinh, được trình bày cụ thể trong bảng 3.1 và bảng 3.2
Trang 19Bảng 3.1: Thành phần CTR sinh hoạt của Thành phố Hồ Chí Minh
TT Thành phần Nguồn thải(%) Trung chuyển(%) Bãi rác (%)
Trang 20Bảng 3.2: Thành phần chất thải rắn sinh hoạt củaThành Phố Hồ Chí Minh tại
nguồn phát sinh
TT Thành phần
Phần trăm khối lượng rác tương ứng so với nguồn thải
Hộ gia đình Cơ quan
trường học
Nhà hàng khách sạn Rác chợ
(*) chỉ các mẫu rác lấy từ chợ vải và chợ hoá chất mới có thành phần rác thực phẩm
thấp(20,2-35,6%).Đối với các chợ khác,thành phần rác thực phẩm dao động trong khoảng
76-100%
Trang 21Như vậy theo kết quả nghiên cứu của trung tâm công nghệ và quản lý môi trường
(CENTEMA) cho thấy thành phần chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Hồ Chí Minh
chủ yếu tập trung vào các nguồn thải chính như: rác hộ gia đình, cơ quan, trường học,
nhà hàng, khách sạn (chiếm tỷ lệ 69%), còn lại là rác chợ (chiếm 31%) Trong đó,
thành phần các loại chất thải tại nguồn phát sinh khác nhau thì cũng khác nhau
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt từ các chợ và nhà hàng có thành phần chất hữu
cơ cao hơn tại các hộ gia đình(>80%), đây là điều kiện rất thích hợp cho việc tái sử
dụng chúng để chế biến rác thành phân compost Trong khi đó tại các cơ sở sản xuất,
trường học và bệnh viện thì thành phần vô cơ khó phân huỷ chiếm nhiều hơn, đồng
thời tỷ lệ giấy, nilon, plastic, thuỷ tinh, kim loại cũng khá cao trong thành phần rác
sinh hoạt ở các hộ dân, vì vậy đã mở ra nhiều triển vọng cho việc tái chế chất thải rắn
thông qua hoạt động phân loại rác tại nguồn
Về mặt tính chất hoá học của chất thải rắn sinh hoạt ở Thành Phố Hồ Chí Minh,
các nghiên cứu do CEFINEA thực hiện trong thời gian gần đây cho thấy độ ẩm ở mức
30,77-38,1% không thích hợp cho việc xử lý bằng phương pháp đốt nhưng lại rất
thuận lợi cho việc ủ rác làm phân, hàm lượng tro khá cao (44,44-76,19%) cần phải
quan tâm đến việc kiểm soát soát lượng tro bay vào trong không khí và chôn lấp tro
đáy lò, tỷ trọng rác ở mức 192-233kg/m3 đòi hỏi phải quan tâm đến việc nén ép rác để
làm tăng quá trình vận chuyển rác và giảm diện tích bãi chôn lấp rác nếu áp dụng kỹ
thuật chôn lấp hợp vệ sinh Như vậy thành phần hoá học của rác có ý nghĩa to lớn
trong việc tìm ra biện pháp xử lý thích hợp cho loại rác đó Và thành phần hoá học cơ
bản của CTR sinh hoạt bao gồm các yếu tố hoá học cơ bản như C, H, O, N, S và Tro
được trình bày trong bảng 3.3
Bảng 3.3: Phân tích hoá học cuối cùng các thành phần của CTR sinh hoạt
Nguồn:Geoge Tchobanoglous,Hilary Theisen,Rolf Eliassen Solid wastes,Engineering
principles and management issues Tokyo
Trang 223.4.2 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt
Khối lượng thu gom,vận chuyển rác sinh hoạt
Khối lượng khoán năm 2005:1.474.000 tấn/năm
Trong đó đổ tại các công trường xử lý :
+Gò cát: 720.400 tấn/năm
+phước hiệp: 754.000 tấn/năm
Khối lượng thực hiện năm 2005 (trừ Quận 1:67.663,79 tấn,Quận Tân Bình:102.839,22 tấn,Quận Tân Phú:71.143,87 tấn,Quận Bình
Tân:54.573,54 tấn) :1.448.508,38 tấn/năm (đạt 98%)
+Thu gom,vận chuyển về công trường xử lý Gò Cát=793.648,34
tấn/năm(đạt 110%) +Thu gom,vận chuyển về công trường xử lý phước hiệp =654.860,04
tấn./năm(đạt 87%)
Khối lượng xử lý rác sinh hoạt
Khối lượng khoán năm 2005: 1.763.000 tấn/năm
Trong đó đổ tại công trường xử lý:
+Gò cát : 910.000 tấn/năm
+Phước Hiệp: 853.000 tấn/năm
Khối lượng rác xử lý năm 2005: 1.744.780,34 tấn(đạt 99%)
Trong đó: Tại công trường xử lý Gò cát=943.917,74 tấn(đạt 104%) Tại công trường xử lý Phước Hiệp=800.862,60 tấn(đạt 94%)
Theo công ty môi trường đô thị-4/2006:Quá trình sản xuất sinh ra một lượng chất thải đô thị khoảng 6000-6500 tấn/ngày (chiếm khoảng 73-78% tổng lượng rác thải), lượng chất thải này một phần được tái chế, phần còn lại được chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi rác Phước hiệp-Củ chi và bãi rác Gò Cát với tổng khối lượng chôn lấp khoảng 5200 tấn/ngày
Hình 3-2: Rác sinh hoạt đổ gần khu dân cư
Nguồn: Công ty môi trường đô thị Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 23Biểu đồ 3-1: Tỉ lệ khối lượng rác phát sinh từ các nguồn so với
tổng khối lượng rác sinh hoạt
3.5 TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐẾN SỨC KHOẺ
CỘNG ĐỒNG
Chất thải rắn sinh hoạt ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng trên nhiều khía cạnh, quy
mô rộng lớn và nhiều cấp độ khác nhau, và có thể xảy ra trong mọi công đoạn của quá
trình quản lý chất thải như: gây ô nhiễm ở điểm tập kết rác thải, gây ô nhiễm ở bãi
chôn lấp và xử lý:
Những khía cạnh của chất thải ảnh hưởng đến sức khoẻ:
-Chất thải gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt;
-Gây ô nhiễm không khí,ô nhiễm mùi;
-Mang theo mầm bệnh (qua những trung gian truyền bệnh gây nên nhiều bệnh tật, dịch bệnh);
-Làm xấu cảnh quan môi trường
Hậu quả của chất thải gây nên nhiều loại bệnh khác nhau:
-Ô nhiễm không khí gây ra các bệnh đường hô hấp, dị ứng, tim mạch;
-Các chất thải hữu cơ như chất diệt sâu, diệt cỏ DDT gây bệnh ung thư hoặc làm
cho hệ miễn dịch bị suy giảm;
-Ô nhiễm nước gây ra các bệnh về đường tiêu hoá, bệnh ngoài da, các bệnh gắn
liền với ký sinh trùng;
-Côn trùng sống trong chất thải có thể có thể là nguồn gây các bệnh truyền nhiễm
trên da,đường ruột và đường hô hấp;
58%
12%
rác hộ dân rác đường phố rác công sở rác chợ rác khu thương mại
Trang 24-Chất thải ảnh hưởng tới trạng thái sức khoẻ ban đầu trong trường hợp phụ nữ mang thai tiếp xúc với các chất độc hại, các ký sinh trùng truyền bệnh và ảnh hưởng tới thai nhi;
- Chất thải ảnh hưởng tới khía cạnh xã hội của sức khoẻ, trẻ em mắc bệnh ký sinh trùng hoặc tiếp xúc với các nguồn truyền nhiễm,độc hại thường không đạt được mức phát triển cần thiết;
-Làm giảm mỹ quan ở các khu đô thị và công cộng ;
-Cản dòng chảy,làm ứ đọng nước hoặc ngập lụt vùng dân cư;
-Làm ô nhiễm môi trường nước,môi trường đất và môi trường không khí
Hình 3.3.Sơ đồ Tác động của việc không xử lý chất thải rắn sinh hoạt
3.6 DỰ BÁO PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2010
3.6.1 Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội từ nay đến năm 2010
-Xây dựng thành phố trở thành một trung tâm kinh tế lớn, một đô thị hiện đại và văn minh của đất nước, sánh vai với các thành phố lớn trong khu vực Đông Nam Á;
-Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ đáp ứng với quy mô dân số toàn thành phố 7.2-7.5 triệu người, trong đó diện tích nội thành sẽ mở rộng 140km2 hiện nay lên 440
km2 với số dân 4.5-5.0 triệu người;
-Phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân mỗi năm12-13%, tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp để đến năm 2010 quan hệ tỷ
lệ giữa ba khu vực này lần lượt là 54%-45% -1%;
Các tác động của xử lý chất thải không hợp lý
Môi trường
xú uế
Làm hại sức khoẻ con người
Tạo môi trường dịch kém văn minh Tạo nếp sống
Gây ùn tắc giao thông
Làm mất mỹ
quan đô thị Hạn chế kết quả sản xuất kinh doanh Tác động xấu đến nghành du lịch và văn hoá
Trang 25-Phát triển kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân
cư và bảo đảm công bằng xã hội, thu hẹp sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư
3.6.2 Dự báo tốc độ tăng dân số Thành Phố Hồ Chí Minh đến năm 2010
Bảng 3.4: Dự báo tốc độ tăng dân số thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010
Quy hoạch thực tế
Quy hoạch điều chỉnh
Quy hoạch
điều chỉnh
Nguồn:Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh
-Theo bảng 3.4 thì tốc độ tăng dân số giai đoạn 2001-2010 được dự báo: 2.71%, trong đó tăng tự nhiên 1.01% thì dân số thành phố đến năm 2010 sẽ đạt 7.2 triệu và khi
đó nếu cộng cả khách vãng lai thì dân số sẽ lên hơn 8 triệu người.Theo xu thế chung thì dân số sẽ tiếp tục tập trung vào các khu trung tâm, do đó sẽ ngày càng làm sâu sắc thêm tính bất hợp lý về phân bố dân cư hiện hữu
3.7 DỰ BÁO DIỄN BIẾN THÀNH PHẦN VÀ KHỐI LƯỢNG CTR SINH HOẠT ĐẾN NĂM 2010
3.7.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và khối lượng CTR sinh hoạt
-Dân số;
-Thời điểm trong năm;
-Điều kiện kinh tế-xã hội;
-Sử dụng đất và loại nhà ở;
-Thói quen và thái độ xã hội;
-Quản lý và chế biến tại nơI sản xuất;
-Chính sách của nhà nước về chất thải; -Khí hậu
3.7.2 Dự báo diễn biến về khối lượng rác thải Thành Phố Hồ Chí Minh
Việc dự báo diễn biến về khối lượng rác thải có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý rác thải đô thị mà không phụ thuộc vào phương thức xử lý chúng.Đặc biệt đối với hình thức chôn lấp vệ sinh thì công việc này càng có ý nghĩa vì chỉ có thể thông qua công tác dự báo mà những nhà quản lý rác có thể xây dựng một kế hoạch chắc chắn, đảm bảo hiệu quả sử dụng bãi chôn lấp,đồng thời đảm bảo các kế
Trang 26hoạch phát triển kinh tế-xã hội cũng như các yếu tố môi trường liên quan, được dự báo
theo bảng 3.5
Bảng 3.5: Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của thành phố đến 2010
Năm Tốc độ hàng năm(tấn/năm) Tốc độ hàng ngày(tấn/ngày)
Nguồn:Sở Giao Thông Công Chánh Thành Phố Hồ ChíMinh
Khối lượng tấn/ngày
0 1000
Biểu đồ 3-2: Khối lượng rác sinh hoạt Tp.Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2010
Như vậy tốc độ thải rác sinh hoạt của người dân thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 dựa theo số liệu của công ty Môi Trường Đô Thị
+Khối lượng:5.000-5.200 tấn/ngày;
+Dân số:6.239.938 người;
+Số người được phục vụ thu gom rác: 85%;
=>Tốc độ thải=5.200.000kg : (6.239.938 x 85%) =0,98kg/người ngày
Năm
Trang 27Vây có thể ước tính tốc độ thải rác của người dân thành phố năm 2010
+Khối lượng: 7.272 tấn/ngày;
+Dân số: 8 triệu người (tính cả khách vãng lai);
+Số người được phục vụ thu gom rác: 90%;
=>Tốc độ thải= 7.272.000kg : (8.000.000 x 90%) = 1.01kg/người ngày
3.7.3 Dự báo về thành phần rác tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh việc tính toán để dự báo diễn biến về khối lượng rác, việc dự báo diễn biến thành phần rác thải cũng mang một ý nghĩa rất lớn vì nó là cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo địa phương trong công tác quy hoạch tổng thể việc quản lý rác thải
đô thị Công việc này không chỉ cần thiết cho riêng Thành Phố Hồ Chí minh mà nó cũng cần thiết cho bất cứ đô thị nào, nhằm xây dựng một chiến lược quản lý chất thải đúng đắn trong quá trình phát triển kinh tế nhằm đảm bảo phát triển bền vững
Cùng với sự biến động về số lượng, thành phần của rác thải cũng thay đổi theo thời gian và theo sự phát triển kinh tế xã hội Trên quan điểm vĩ mô sự thay đổi về thành phần rác là một yếu tố quan trọng trong hoạch định chiến lược quản lý để quyết định biện pháp xử lý rác sinh hoạt, khác với biến động về khối lượng có thể tính toán được, sự thay đổi thành phần rác sinh hoạt rất khó có thể xác định chính xác bằng những con số bởi vì nó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như:
+Thay đổi tập quán tiêu dùng;
+xu hướng phát triển kinh tế;
+cơ cấu kinh tế;
+Trình độ công nghệ;
+Đặc biệt là tập quán rác thải
Vì vậy việc dự báo diễn biến thành phần rác thải sinh hoạt trong tương lai chỉ có thể dự báo một cách khái quát khi mức sống của người dân tăng lên thì thành phần rác thải thay đổi theo khuynh hướng sau:
Thành phần rác là giấy gói, plastic, carton tăng lên,các loại lon đựng đồ hộp cũng tăng lên làm đa dạng thêm thành phần rác sinh hoạt Mặt khác do công nghiệp hoá nên hình thức lao động cũng khác đi, các thực phẩm dư thừa trước đây được tận dụng đưa vào chăn nuôi thì nay trở thành chất thải rắn sinh hoạt, làm gia tăng thành phần chất hữu cơ thải bỏ
Trang 28Từ những phân tích trên ta có thể dự báo biến đổi thành phần, tính chất của chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố như sau:
Các thành phần có thể tái sử dụng được Tăng
Trang 29CHƯƠNG 4 HIỆN TRẠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
4.1 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ CTR SINH HOẠT TP.HỒ CHÍ MINH
4.1.1 Hiện trạng
Tổ chức quản lý
Quyết định 107/QĐ-UB ngày 12/06/1982 của UBND thành phố là cơ sở pháp lý phân chia trách nhiệm trong công tác thu gom, vận chuyển rác của TP.Hồ Chí Minh Theo đó:
-Quận,huyện chịu trách nhiệm:
Quét, thu gom rác đường và hộ dân;
Giao rác đúng giờ, đúng điểm hẹn;
Vận động giáo dục nhân dân chứa rác trong thùng, túi nylon, ngăn ngừa tình trạng đỗ rác bừa bãi;
Công ty công trình công cộng quận 1 được giao tự đảm trách từ khâu thu gom đến vận chuyển rác trên địa bàn quận 1 ra bãi đổ và do ngân sách quận 1 thanh toán;
Các công ty công trình đô thị các quận huyện có xe cơ giới ký hợp đồng vận chuyển rác với Công Ty Môi Trường Đô Thị Thành Phố;
Bố trí các điểm hẹn trên địa bàn quận
-Công ty Môi Trường Đô Thị có trách nhiệm:
Quản lý đội xe thu gom, vận chuyển;
Sữa chữa, cải tạo và xây dựng các bô rác, trạm trung chuyển;
Thu gom rác ở các điểm hẹn, bô rác, vận chuyển đến trạm trung chuyển và bãi chôn lấp
Những quy định này được thay đổi không ngừng do có sự tham gia ngày càng nhiều của các quận huyện vào công tác thu gom, vận chuyển rác Trong đó Công Ty Môi Trường đô thị vận chuyển được 60% tổng số rác thu gom, số còn lại giao cho hợp tác xã công nông và xí nghiệp công trình đô thị quận, huyện bằng các hợp đồng Ngân sách nhà nước chi trả cho việc vận chuyển rác của Công Ty Môi Trường đô thị được tính theo đơn giá T.km Các thành phần tham gia quản lý rác bao gồm:
+Các đơn vị dân lập;
Trang 30+Hợp tác xã vận tải công nông;
+Các công ty, xí nghiệp công trình đô thị quận,huyện;
+Công ty môi trường đô thị Thành Phố
4.1.2 Yêu cầu chung trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt
-Phải thu gom và vận chuyển hết chất thải, đây là yêu cầu đầu tiên và cơ bản của việc xử lý chất thải nhưng hiện đang còn là một khó khăn, đòi hỏi phải có nhiều cố gắng khắc phục;
-Phải đảm bảo việc thu gom, xử lý có hiệu quả theo nguồn kinh phí nhỏ nhất nhưng lại thu được kết quả cao nhất, bảo đảm sức khoẻ cho những người lao động trực tiếp tham gia việc xử lý chất thải phù hợp với khả năng kinh phí của thành phố và nhà nước;
-Đưa được các công nghệ kỹ thuật, các trang thiết bị xử lý chất thải tiên tiến của các nước vào sử dụng ở trong nước, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và lao động có đầy
đủ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề, có trách nhiệm với vấn đề của mội trường của đất nước, phù hợp với cơ chế chung của nhà nước theo hướng chấp nhận và cạnh tranh với nhiều thành phần kinh tế
4.2 QUY TRÌNH THU GOM,VẬN CHUYỂN VÀ TRUNG CHUYỂN CTR SINH HOẠT
Hình 4.1:Sơ đồ quy trình công nghệ hoạt động thu gom,vận chuyển rác sinh
hoạt của công ty môi trường đô thị
Nguồn:Công Ty Môi Trường Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh
Nguồn
phát
sinh
Trạm trung chuyển
xử
lý Điểm hẹn
Trạm ép kín
Xe ép
Xe tải ben
Xe ép lớn vận chuyển thẳng(ban ngày)
Xe thô sơ Xe ép kín(ban ngày)
Trang 31Hình 4-2: Thu gom và phân loại rác tại quận Gò Vấp
Hình 4-3: Rác được chuyển sang phương tiện cơ giới
Trang 32 Hệ thống thu gom sơ cấp
Rác hộ dân
-Rác sinh hoạt từ nguồn thải chứa trong các thùng 240lít, 660lít hoặc thùng chứa
xe tay được công nhân vệ sinh chuyển bằng xe đẩy tay đưa đến các điểm hẹn trên đường phố hoặc các bô rác, trạm trung chuyển gần nhất
-Rác hộ dân do vệ sinh quận, huyện (thu gom 40% khối lượng) và lực lượng dân lập (thu gom 60% khối lượng) đảm trách thu gom:
+Lực lượng vệ sinh quận, huyện: chủ yếu thu gom rác từ các thùng chứa 240lít, 660lít đưa đến các điểm hẹn;
+Lực lượng dân lập: Thu gom rác từ các hộ gia đình, tần suất thu gom 1 lần hoặc
2 lần /ngày, thời gian thu gom: ban ngày Lực lượng dân lập chỉ thực hiện thu gom rác khi có sự chấp thuận của UBND phường, công ty dịch vụ công ích quận, phòng tài nguyên môi trường quận và không được hoạt động thu gom rác ở các nơi đã có người thuộc lực lượng vệ sinh công cộng quận Các lực lượng này được quản lý bởi UBND
phường dưới tên “ tổ lấy rác dân lập”
Hình 4-4: lực lượng thu gom rác dân lập
Trang 33 Rác khu thương mại,cơ quan,công sở
-Rác tại các khu thương mại thường do xe của Công Ty Môi trường đô thị trực tiếp đến thu gom, thường là lúc 16 giờ hoặc 18 giờ, rác tại các khu thương mại được
xe ép rác chở thẳng đến trạm trung chuyển
Rác chợ
-Tại các chợ được bố trí các thùng chứa rác và được thu gom vào lúc 15 giờ đến 16giờ Rác chợ có thành phần chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân huỷ nên khi thời gian vận chuyển quá lâu, không đúng giờ sẽ gây mùi hôi thối
Rác trên sông,kênh rạch
-Mỗi ngày có khoảng 12 tấn rác vứt bừa bãi xuống các con sông, kênh rạch và được thu gom bởi Công ty dịch vụ công ích quận 8 (phụ trách kênh Tàu Hũ, kênh Đôi, Bến Nghé,kênh tẻ), Công Ty Môi Trường đô thị (phụ trách kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, kênh Tân Hóa-Lò Gốm)
Hình 4.5: Công nhân vệ sinh quét và thu gom rác trên đường,kênh rạch
Trang 34 Hệ thống thu gom thứ cấp
Thu gom tại các điểm thu gom chung trước khi vận chuyển chúng theo từng phần hoặc cả tuyến thu gom đến một trạm trung chuyển, bãi chôn lấp hay cơ sở xử lý bằng các phương tiện chuyên dùng có động cơ
Các điểm hẹn
Hiện nay trên địa bàn thành phố có hơn 400 điểm hẹn, trong đó công ty môi trường đô thị đảm trách 62 điểm hẹn Các điểm hẹn này được xác định theo thỏa thuận giữa các công ty quận huyện và công ty môi trường đô thị để chuyển giao rác từ xe đẩy tay lên xe ép rác, điểm hẹn thường bố trí tại các bãi đất trống, thường bên lề của
Trạm 348/26 Phan Văn Trị, quận Bình Thạnh;
Trang 35Bảng 4.1: Số điểm hẹn trên địa bàn Thành Phố
18 Xí nghiệp CTGTĐT&QLN Huyện Nhà Bè 15
TỔNG CỘNG 431
Nguồn:Công Ty Môi Trường Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 36Bảng 4.2: Tổng hợp khối lượng rác thu gom về trạm trung chuyển năm 2005
-Nhiều công nhân trong các tuyến thu gom rác dân lập không có trang phục bảo
hộ lao động sẽ chịu ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ;
-Một phần rác thải của thành phố vẫn chưa được thu gom chính thức (trong thành phố), một phần đem đổ xuống sông và một phần được xả bỏ vào các nơi chứa công cộng;
-Rác chợ thường đổ trực tiếp trên mặt đường và được thu gom bằng xe đẩy tay
và xe ép rác ở các chợ lớn, việc thu gom bắt đầu vào ban ngày;
Trang 37-Xe đẩy tay có dung tích 1-15m3, mỗi xe thu gom phục vụ không quá 200 hộ, với tải trọng trung bình 500-600 kg, dung tích có khi lên đến 2m3 và quay vòng từ 2-
3 chuyến 1 ngày
4.2.2 Hệ thống vận chuyển
-Trong quy trình thu gom, vận chuyển rác, việc lựa chọn, xác định lộ trình cho các xe vận chuyển là yếu tố làm cơ sở tính toán chi phí vận chuyển, xây dựng đơn giá thanh toán;
-Đối với quy trình vận chuyển chỉ có điểm đầu và điểm cuối như vận chuyển rác
từ các trạm trung chuyển đến bãi xử lý, vận chuyển rác bằng container ép kín từ trạm
ép kín đến bãi xử lý, việc tính toán lựa chọn tuyến vận chuyển tương đối đơn giản và đem lại tính hiệu quả cao;
-Đối với các quy trình phải đi qua nhiều điểm lấy rác (điểm hẹn, thùng rác công cộng, cơ quan), thì việc tính toán tương đối phức tạp;
-Về vận chuyển rác, Công Ty Môi Trường Đô Thị thành phố đảm nhiệm 53% với
hệ thống vận chuyển bao gồm hơn 200 xe tải lớn nhỏ các loại, các công ty dịch vụ công ích tại các quận huyện đảm nhiệm 30%, 17% còn lại do các hợp tác xã công nông vận chuyển;
-Vận tốc trung bình trong thành phố đối với xe tải lớn: 11km,đối với xe tải nhỏ: 13,5km, vận tốc lớn nhất di chuyển trên xa lộ vành đai là: 40km;
-Nhưng theo thực tế hoạt động hiện nay, tình hình đầu xe phục vụ công tác nghành vệ sinh đô thị đa số cũ kỹ, vì vậy công ty đã đầu tư trang bị thêm các xe container kín Mỗi ngày có khoảng 70% tổng số xe hoạt động thu gom vận chuyển rác sinh hoạt;
-Hiện nay rác được thu gom, vận chuyển theo 3 quy trình sau:
1 Thu gom từ các điểm hẹn, thùng rác đường phố, xí nghiệp về trạm trung chuyển;
2 vận chuyển từ trạm trung chuyển đến bãi rác xử lý;
3 Thu gom và vận chuyển thẳng từ vị trí chứa rác đến bãi xử lý
Như vậy dựa trên cơ sở 3 quy trình thu gom, vận chuyển trên, Thành Phố đã có 14 tuyến vận chuyển chính đang được thực hiện, trong đó có 10 tuyến vận chuyển rác sinh hoạt
Trang 38Hình 4-7: Xe hooklift cẩu thùng container
Bảng 4.3: Các tuyến vận chuyển rác sinh hoạt
Cự ly bình quân (km/lượt)
8 Từ trạm trung chuyển đến bãi xử lý Xe tải ben 7 tấn 19,08
9 Từ trạm ép kín đến bãi xử lý Xe tải ben 7 tấn 25,47
10 Từ trạm điểm hẹn đến bãi xử lý Xe ép lớn 26,81
Nguồn:Công Ty Môi Trường Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh