3.7.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và khối lượng CTR sinh hoạt
-Dân số;
-Thời điểm trong năm;
-Điều kiện kinh tế-xã hội;
-Sử dụng đất và loại nhà ở;
-Thói quen và thái độ xã hội;
-Quản lý và chế biến tại nơI sản xuất;
-Chính sách của nhà nước về chất thải;
-Khí hậu.
3.7.2 Dự báo diễn biến về khối lượng rác thải Thành Phố Hồ Chí Minh
Việc dự báo diễn biến về khối lượng rác thải có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý rác thải đô thị mà không phụ thuộc vào phương thức xử lý chúng.
Đặc biệt đối với hình thức chôn lấp vệ sinh thì công việc này càng có ý nghĩa vì chỉ có thể thông qua công tác dự báo mà những nhà quản lý rác có thể xây dựng một kế hoạch chắc chắn, đảm bảo hiệu quả sử dụng bãi chôn lấp,đồng thời đảm bảo các kế
hoạch phát triển kinh tế-xã hội cũng như các yếu tố môi trường liên quan, được dự báo theo bảng 3.5.
Bảng 3.5: Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của thành phố đến 2010 Năm Tốc độ hàng năm(tấn/năm) Tốc độ hàng ngày(tấn/ngày)
2005 1.806.385 4.949
2006 1.950.925 5.345
2007 2.107.145 5.773
2008 2.275.775 6.235
2009 2.457.910 6.734
2010 2.654.280 7.272
Nguồn:Sở Giao Thông Công Chánh Thành Phố Hồ ChíMinh Khối lượng tấn/ngày
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Biểu đồ 3-2: Khối lượng rác sinh hoạt Tp.Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2010 Như vậy tốc độ thải rác sinh hoạt của người dân thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 dựa theo số liệu của công ty Môi Trường Đô Thị.
+Khối lượng:5.000-5.200 tấn/ngày;
+Dân số:6.239.938 người;
+Số người được phục vụ thu gom rác: 85%;
=>Tốc độ thải=5.200.000kg : (6.239.938 x 85%) =0,98kg/người ngày.
Năm
Vây có thể ước tính tốc độ thải rác của người dân thành phố năm 2010 +Khối lượng: 7.272 tấn/ngày;
+Dân số: 8 triệu người (tính cả khách vãng lai);
+Số người được phục vụ thu gom rác: 90%;
=>Tốc độ thải= 7.272.000kg : (8.000.000 x 90%) = 1.01kg/người ngày.
3.7.3 Dự báo về thành phần rác tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh việc tính toán để dự báo diễn biến về khối lượng rác, việc dự báo diễn biến thành phần rác thải cũng mang một ý nghĩa rất lớn vì nó là cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo địa phương trong công tác quy hoạch tổng thể việc quản lý rác thải đô thị. Công việc này không chỉ cần thiết cho riêng Thành Phố Hồ Chí minh mà nó cũng cần thiết cho bất cứ đô thị nào, nhằm xây dựng một chiến lược quản lý chất thải đúng đắn trong quá trình phát triển kinh tế nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Cùng với sự biến động về số lượng, thành phần của rác thải cũng thay đổi theo thời gian và theo sự phát triển kinh tế xã hội. Trên quan điểm vĩ mô sự thay đổi về thành phần rác là một yếu tố quan trọng trong hoạch định chiến lược quản lý để quyết định biện pháp xử lý rác sinh hoạt, khác với biến động về khối lượng có thể tính toán được, sự thay đổi thành phần rác sinh hoạt rất khó có thể xác định chính xác bằng những con số bởi vì nó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như:
+Thay đổi tập quán tiêu dùng;
+xu hướng phát triển kinh tế;
+cơ cấu kinh tế;
+Trình độ công nghệ;
+Đặc biệt là tập quán rác thải.
Vì vậy việc dự báo diễn biến thành phần rác thải sinh hoạt trong tương lai chỉ có thể dự báo một cách khái quát khi mức sống của người dân tăng lên thì thành phần rác thải thay đổi theo khuynh hướng sau:
Thành phần rác là giấy gói, plastic, carton tăng lên,các loại lon đựng đồ hộp cũng tăng lên làm đa dạng thêm thành phần rác sinh hoạt. Mặt khác do công nghiệp hoá nên hình thức lao động cũng khác đi, các thực phẩm dư thừa trước đây được tận dụng đưa vào chăn nuôi thì nay trở thành chất thải rắn sinh hoạt, làm gia tăng thành phần chất hữu cơ thải bỏ.
Từ những phân tích trên ta có thể dự báo biến đổi thành phần, tính chất của chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố như sau:
Thành phần D ự báo
Giấy Tăng
Plastic Tăng
Thành phần không cháy(kim loại,thuỷ
tinh) Tăng
Rác và củi gỗ Giảm
Tro Giảm
Tính chất Dự báo
Mật độ Giảm
Độ ẩm Giảm
Giá trị nhiệt lượng Tăng
Các thành phần có thể tái sử dụng được Tăng
C C HƯ H Ư ƠN Ơ NG G 4 4