XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
5.1 PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN
5.1.6 Những tác động tích của PLRTN đối với kinh tế-xã hội và Môi Trường
-Kích thích sự phát triển của các nghành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người lao động;
-Khối lượng chất thải rắn được giảm ngay từ đầu, thuận lợi cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác;
-Các khía cạnh kinh tế-xã hội-môi trường trong phân loại rác từ nguồn thể hiện ở các lợi ích đạt được về kinh tế-xã hội-môi trường cũng như các rào cản cần vượt qua để thực hiện thành công đó là vốn đầu tư lớn, là rào cản về tâm lý và nhận thức của cộng đồng. Tuy nhiên so với các rào cản thì lợi ích đạt được là rất lớn điều này đã được minh chứng rất rõ ở nhiều quốc gia trên thế gới. Có thể khái quát những lợi ích tiềm năng về kinh tế-xã hội-môi trường khi triển khai phân loại rác từ nguồn tại quận 5 cũng như toàn Thành Phố Hồ Chí Minh như sau:
+Nhận thức của cộng đồng dân cư về ý nghĩa và sự cần thiết phải giảm chất thải tại nguồn cũng như phân loại rác tại nguồn ngày càng được nâng cao hơn nhờ công tác tuyên truyền vận động trên diện rộng lẫn chiều sâu;
+Ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong công tác quản lý chất thải rắn đô thị và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường đô thị cũng ngày càng được tăng cường hơn;
+Tạo điều kiện thuận lợi và góp phần vào việc thực hiện chương trình xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn của thành phố theo chiến lược quản lý môi trường thành phố đến năm 2010 đã được UBND thành phố phê duyệt;
+Nâng cao năng lực quản lý môi trường cho cán bộ, nâng cao ý thức tự giác, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho các nhà doanh nghiệp và cộng đồng dân cư;
+Giúp người dân thành phố nhận thức rõ hơn ý nghĩa của việc tận dụng phế thải, sản phẩm thừa để tạo ra các sản phẩm có ích cho nền kinh tế, xã hội và môi trường;
+Khắc phục tình trạng ứ đọng rác, tạo cảnh quan văn minh, sạch đẹp cho đô thị, bảo vệ môi trường sống của dân cư trong khu vực;
+Tình trạng sức khoẻ cũng như phúc lợi xã hội từng bước được cải thiện thông qua ý thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư;
+Tách được chất thải rắn đô thị thành các nhóm thành phần riêng biệt một cách thích hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của các quá trình xử lý tiếp theo, đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi để tái sử dụng nguồn chất thải hữu cơ to lớn (60-90%) làm phân compost chất lượng cao (không nhiễm các chất thải nguy hại có trong chất thải rắn sinh hoạt, không lẫn thuỷ tinh, kim loại, plastic… );
+Giảm sức ép và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường đối với các bãi rác hiện hữu của thành phố mà hiện nay chúng đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường phức tạp
và sự kháng cự của người dân địa phương;
+Tiết kiệm quỹ đất hạn hẹp của thành phố dành cho việc chôn lấp rác bằng cách khuyến khích tối đa các hoạt động tái chế và tái sử dụng lại các thành phần rác thải cho các mục đích khác nhau;
+cải tiến và nâng cao hiệu quả tổng thể của hệ thống thu gom, vận chuyển rác;
+Tăng hiệu quả của các quá trình tái sử dụng, tái chế các loại phế liệu, đồng thời làm giảm mức độ ô nhiễm tại các cơ sở phân loại, và tái chế;
+Tận dụng tối đa nguồn rác thải và tái chế rác thải thành phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như giảm nguồn chi vốn ngân sách về công tác bảo vệ môi trường.
Khía cạnh kinh tế
Các khía cạnh kinh tế khi triển khai phân loại rác tại nguồn thể hiện ở các lợi ích kinh tế đạt được cũng như các rào cản về tài chính, chủ yếu liên quan đến nguồn tài chính để triển khai chương trình.
Bảng 5.2: Dự báo khối lượng các loại rác đưa tới khu xử lý Năm
Lượng rác được thu gom tại nguồn(tấn/ngày)
Tỷ lệ khối lượng các loại rác(% trọng lượng)
Lượng rác thu gom sau khi phân loại tại nguồn(tấn/ngày)
Mức độ hao hụt rác phế liệu dọc đường thu gom(%)
Lượng rác vận chuyển ra khỏi địa bàn quận
5(tấn/ngày) Rác
hữu cơ
Rác phế liệu
Rác hữu cơ
Rác phế liệu
Rác hữu cơ
Rác phế liệu
2004 148 79 21 117 31 12 117 27,4
2005 161 77 23 124 37 10 124 33,3
2006 182 75 25 137 46 10 137 41,0
2007 207 73 27 151 56 10 151 50,3
2008 234 71 29 166 68 10 166 61,1
2009 266 70 30 186 80 10 186 71,8
2010 302 69 31 208 94 8 208 86,1
2011 347 68 32 236 111 8 236 102,2
2012 386 67 33 259 127 7 259 118,5
2013 428 66 34 282 146 7 282 135,3
2014 474 65 35 308 166 6 308 155,9
2015 520 64 36 333 187 6 333 176,0
Nguồn:Nghiên cứu khả thi dự án phân loại chất thải rắn tại nguồn trên địa bàn quận 5
Lợi ích về kinh tế
Trong các lợi ích về kinh tế khi triển khai chương trình phân loại rác tại nguồn,có lợi ích có thể lượng giá bằng tiền nhưng cũng có những lợi ích rất khó có thể lượng giá được thành tiền. Dựa vào số liệu tính toán trong”Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thí điểm phân loại rác từ nguồn tại quận 5” dể làm rõ lợi ích kinh tế có thể lượng giá được thành tiền như sau:
Những lợi ích thu được nhờ phân loại rác từ nguồn:
Dựa vào bảng 5-1 về dự báo các loại rác đưa tới khu xử lý ta có thể tính được lượng rác hao hụt có giá trị thị trường do những người thu gom rác trực tiếp phân loại để bán trong lúc thu gom như sau:
Lượng rác hao hụt được thu gom = Lượng rác thu gom sau khi phân loại tại nguồn(tấn/ngày) x Mức độ hao hụt rác phế liệu dọc đường thu gom(%);
Điển hình năm 2004 giảm được là: 31(tấn/ngày) x 12 % =3,72 tấn/ngày.Như vậy trong một năm sẽ giảm được 3,72 (tấn/ngày) x 365 ngày =1357,8 tấn rác phế liệu và tiết kiệm được chi phí vận chuyển là 1357,8 x 2500 x25,28=86 triệu đồng.Vậy trong vòng 10 năm hoạt động(2004-2015) sẽ giảm được khoảng 32.000 tấn rác phế liệu,nhờ đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển rác khoảng 4,5 tỷ đồng nếu đưa rác từ quận 5 về công trường xử lý Gò Cát.Với:
+chi phí vận chuyển ở thời điểm khởi đầu là 2.500 đồng/tấn/km;
+suất chiết khấu r=10%năm;
+cự ly vận chuyển bình quân 25,28 km);
Khối lượng tấn/năm
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Hình 5.3: Biểu đồ dự báo khối lượng rác phế liệu hao hụt có giá trị thị trường giai đoạn năm 2004-2015
Năm
Và lên đến 8,98 tỷ đồng nếu đưa rác về công trường xử lý cát Phước Hiệp:
+chi phí vận chuyển ở thời điểm khởi đầu là 2.500 đồng/tấn/km;
+suất chiết khấu r=10%;
+cự ly vận chyển bình quân 50,38km .
Đồng thời tiết kiệm được 356 triệu đồng chi phí chôn lấp rác:
+chi phí chôn lấp rác ở thời điểm khởi đầu ước tính khoảng 5.000 đồng/tấn;
+suất chiết khấu r=10 %/năm.
Cũng với 32.000 tấn rác phế liệu,nếu đem bán cho các cơ sở tái chế sẽ tạo ra thu nhập cho những người nhặt rác với tổng số tiền lên đến khoảng 35,6 tỷ đồng (nếu giả sử bình quân một tấn rác phế liệu hỗn tạp nhặt riêng được bán là 500.000 đồng ở thời điểm khởi đầu với chiết suất 10% mỗi năm );
Giảm chi phí chôn lấp chất thải rắn tổng cộng 1.191.433 tấn chất thải rắn cần phải xử lý trên địa bàn quận 5 trong vòng 10 năm,trong đó có 8.279.090 tấn rác hữu cơ dễ phân huỷ và 364.343 tấn rác phế liệu. Tổng chi phí cắt giảm được khoảng 14 tỷ đồng(chi phí chôn lấp rác ở thời điểm khởi đầu ước tính khoảng 5.000 đồng/tấn,suất chiết khấu r=10 %/năm)
Tạo ra khoảng 750.000 tấn phân compost (hiệu suất thu hồi phân compost từ rác hữu cơ đã qua phân loại từ nguồn khoảng 92-95%), với giá thành bình quân khoảng 300.000 đồng/tấn, tạo ra khoảng thu nhập 225 tỷ đồng từ việc bán phân compost;
-Loại trừ được nguồn nước rỉ rác có mức độ ô nhiễm rất cao, tiết kiệm được chi phí xử lý nước thải vốn tốn kém đối với các bãi rác (giá thành xử lý nước rỉ rác hiện nay tại Thành Phố Hồ Chí Minh ước tính khoảng 25.000 đồng/m3 đến 300.000 đồng/m3);
Giảm thiểu sự phát thải khí methane (CH4) và khí C02 vốn là những tác nhân gây huỷ hoại tầng 0zon và hiệu ứng nhà kính (chi phí kiểm soát các khí này ước khoảng 6USD/tấn C02 và 180 USD/tấn CH4);
Giảm bớt độc hại và nguy hiểm về sức khoẻ cho những người thu gom rác, nhặt rác và phân loại rác tại trạm phân loại rác phế liệu tập trung.
Những lợi ích đạt được nhờ cải tiến công nghệ xử lý rác:
-Hiện nay Thành Phố đang triển khai đầu tư các cơ sở xử lý chất thải rắn theo công nghệ phù hợp tập trung vào hai hướng chính với đặc điểm thành phần rác sau khi đã qua phân loại rác tại nguồn nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận các nguồn chất thải rắn mới, đồng thời tránh sự lãng phí vô ích của các nỗ lực phân loại chất thải rắn từ nguồn.
+Hướng thứ 1: Phát triển các hệ thống chế biến phân compost chất lượng cao trên cơ sở rác nhóm 1 đã qua phân loại tại nguồn (các thành phần chất thải hữu cơ dễ phân huỷ có nguồn gốc từ thực phẩm);
+Hướng thứ 2: Phát triển các hệ thống phân loại rác phế liệu tập trung (phân loại thứ cấp) trên cơ sở rác nhóm 2 (các thành phần rác phế liệu có khả năng tái chế và rác khác);
Tiết kiệm được các nguồn tài nguyên đang ngày càng hiếm hoi;
Tiết kiệm tài nguyên nước và giảm ô nhiễm nước;
-Phân loại rác tại nguồn sẽ giúp làm giảm đáng kể chi phí cho công đoạn tiền xử lý các phế liệu để làm nguyên liệu sản xuất. Nếu rác không được phân loại tại nguồn, các thành phần có khả năng tái sinh (giấy,nhựa,túi nilon) sẽ bị nhiễm bẩn nhiều hơn, do vậy các phế liệu này cần được rửa sạch sẽ làm tiêu tốn một lượng lớn nước sạch mà còn tạo ra nước thải ô nhiễm cần phải xử lý trước khi thải ra môi trường.
Khía cạnh xã hội
Ý thức cuả người dân ngày càng được nâng cao
-Một trong những vấn đề nan giải có tính chất quyết định đến sự thành công của việc phân loại chất thải rắn tại nguồn là sự đồng tình hưởng ứng tham gia của cộng đồng. Với thói quen lâu đời trong việc đổ chung lẫn lộn các thành phần rác thải cùng với nhận thức chưa cao của cộng đồng về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn đô thị nói riêng;
- Do vậy vệc triển khai đồng bộ chương trình giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ về phương tiện, kỹ thuật sẽ giúp cho người dân thành phố dần dần nhận thức rõ hơn về ý nghĩa của việc phân loại rác tại nguồn, qua đó họ sẽ tự nguyện tham gia tích cực hơn;
-Góp phần đẩy mạnh chương trình xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn nhằm nâng cao ý thức quản lý đô thị của người dân, thu hút vốn đầu tư của dân, hiện đại hoá hệ thống quản lý là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong điều kiện thực tiễn của Thành Phố Hồ Chí Minh;
-Khi áp dụng chương trình phân loại rác từ nguồn, hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở các quận sẽ có những thay đổi quan trọng để phù hợp với việc thu gom,vận chuyển và xử lý các chất thải sau khi đã qua phân loại rác tại nguồn (nhóm rác hữu cơ dễ phân huỷ và nhóm rác phế liệu bao gồm các thành phần còn lại),dẫn đến giá trị kinh tế của nhóm rác phế liệu tăng lên một cách rõ rệt, điều này sẽ thu hút vốn đầu tư và tham gia quản lý của người dân thành phố (đóng góp phí thu gom và xử lý chất thải rắn), giảm bớt một phần gánh nặng cho ngân sách Thành phố.
Tạo công ăn việc làm cho người dân
-Tạo thêm công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư ở các công đoạn như thu gom, cơ sở tái chế rác,trạm phân loại rác tập trung và nhà máy sản xuất phân compos
-Tăng thu nhập cho người thu gom rác, người mua ve chai và những người nhặt rác
-Bảo vệ sức khoẻ thu gom rác do rác đã được phân loại tốt nên hạn chế sự tiếp súc trực tiếp với rác thải.
Khía cạnh môi trường
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường
-Việc phân loại chất thải rắn nguồn nếu được thực hiện thành công sẽ giúp cho việc sử dụng các chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học để sản xuất phân compost được dễ dàng hơn, dẫn đến lượng rác đem đến bãi chôn lấp giảm, tương ứng với giảm thiểu lượng nước rò rỉ từ các rác có lưu lượng lớn và tải lượng chất ô nhiễm cao, khí thải gây mùi(H2S,NH3), khí thải gây hiệu ứng nhà kính(CH4,C02), khí thải gây hiệu ứng nhà kính;
-Tiết kiệm được các nguồn tài nguyên đang ngày càng hiếm hoi.