1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl hoang thi ha 610417b

65 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 842,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông thường, chất thải y tế nguy hại có một trong các thành phần như : máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan tổ chức của cơ thể người được cắt bỏ trong điều trị, độn

Trang 1

TRƯỜNG ĐH BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA :MÔI TRƯỜNG & BHLĐ NGÀNH :KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CHO CÁC BỆNH VIỆN Ở THÀNH PHỐ MỸ THO,

TỈNH TIỀN GIANG

SVTH : HOÀNG THỊ HÀ MSSV : 610417B

LỚP : 06MT2N GVHD : Ths: LÊ VIỆT THẮNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐH BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA :MÔI TRƯỜNG & BHLĐ NGÀNH :KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CHO CÁC BỆNH VIỆN Ở THÀNH PHỐ MỸ THO,

Trang 3

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”

Từ xưa tới nay, tình cảm cao đẹp đấy luôn tồn tại trong từng ý nghĩ của người học trò Trên tinh thần đấy, em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ, thầy cô đã nuôi dưỡng và dạy dỗ cho em trong suốt hơn 20 năm qua Đó chính là động lực lớn để

em có thể rèn luyện và học tập ngay bây giờ và cả tương lai Luận văn tốt nghiệp là sự thành công bước đầu của em, được như vậy là nhờ sự giúp đỡ chỉ bảo của thầy Lê Việt Thắng, tiếp đó là sự hướng dẫn tận tình cũng như bổ sung thêm số liệu là anh Nguyễn Đức Duy ở Trung Tâm Y tế dự phòng thành phố Mỹ Tho- Tiền Giang Cùng vớI sự động viên, giúp đỡ của cha mẹ đã giúp em hoàn thành luân văn này

Ơn Cha Mẹ,công Thầy Cô có lẽ sẽ chẳng đủ lời mà nói, một lần nữa em xin trân thành cảm ơn

“ Nhân hữu danh, danh nhân tự vấn Công công danh toạI tự nhiên ư?”

Đáp rằng: “Sinh nhân, dưỡng dục công phụ mẫu

NốI vần, thành danh bởI công sư ”

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN



Tp Hồ Chí Minh ngày tháng năm 2006 Giáo Viên Hướng Dẫn

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

DANH MỤC CÁC HÌNH 4

CHỮ VIẾT TẮT 5

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 6

1.1 Sự cần thiết của luận văn 6

1.2 Mục tiêu của đề tài 7

1.3 Nội dung thực hiện 7

1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 7

1.5 Phương pháp thực hiện 7

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ 8

2.1 Giới thiệu vế chất thải y tế 8

2.1.1 Khái niệm chất thải y tế 8

2.1.2 Tính chất của chất thải y tế 8

2.1.3 Phân loại chất thải y tế 8

2.1.4 Thành phần của chất thải y tế 12

2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường 13

2.2.1 Tác động của nước thải y tế 13

2.2.2 Tác động của chất thải rắn y tế 14

2.3 Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện đến sức khỏe cộng đồng 14

2.3.1 Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn 15 2.3.2 Ảnh hưởng của các chất thải hóa chất và dược phẩm 18

2.3.3 Ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen 18

2.3.4 Những ảnh hưởng của chất thải phóng xạ; 19

2.4 Các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải y tế 19

2.4.1 Thu gom, vận chuyển, lưu giữ: 19

2.4.2 Ngăn ngừa và giảm thiểu 21

2.4.3 Các biện pháp xử lý và tiêu hủy chất thải 23

Trang 6

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI

CÁC BỆNH VIỆN TẠI TP MỸ THO – TIỀN GIANG 29

3.1 Đặc điểm mạng lưới y tế của Tp Mỹ Tho 29

3.2 Hiện trạng công tác quản lý môi trường tại các BV tại thành phố Mỹ tho 30 3.2.1 Nước thải 30

3.2.2 Chất thải rắn 32

3.2.3 Tiếng ồn : 35

3.3 Các vấn đề tồn tại trong hệ thống quản lý chất thải y tế của thành phố Mỹ tho: 35

CHƯƠNG 4 DỰ BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO ĐẾN NĂM 2015 37

4.1 Dự báo chất thải rắn y tế: 37

4.1.1 Phương pháp dự báo : 37

4.1.2 Kết quả 37

4.2 Nước thải y tế: 39

CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI KIỂM SOÁT CHẤT THẢI Y TẾ TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO 40

5.1 Giải pháp quản lý: 40

5.2 Kỹ thuật công nghệ : 41

5.2.1 Chất thải rắn: 41

5.2.2 Thoát nước và Xử lý nước thải 45

KẾT LUẬN -KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1-Kết quả phân loại chất thải rắn tại 2 bệnh viện đã có lò đốt rác và

chưa có hệ thống xử lý nước: 9

Bảng 2.2 - Thành phần rác y tế 12

Bảng 2.3- Một số ví dụ về sự nhỉễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại vi sinh vật gây bệnh và phương tiện lây truyền: 17

Bảng 2.4- Tiêu chuẩn và yêu cầu một số chỉ tiêu nước thải bệnh viên: 24

Bảng 3.1 – Số liệu y tế của Tp Mỹ Tho năm 2001-2005 29

Bảng 3.2- Bảng tổng hợp kết quả xét nghiệm nướcthải y tế các bệnh viện của thành phố Mỹ Tho năm 2005 31

Bảng 3.3 - Lượng phát thải chất thải y tế của một số bệnh viện ở thành phố Mỹ Tho : 32

Bảng 4.1 - Phần trăm qua các năm 37

Bảng 4.2– Dự báo chỉ tiêu về số giường 37

Bảng 4.3 - Hệ số phát thải rác y tế tại các BV tại thành phố Mỹ Tho 38

Bảng 4.4– Dự báo tải lượng chất thải rắn y tế 38

Bảng 4.5- Dự báo khối lượng nước thải 39

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 – Sơ đồ nguyên tắc thu gom và xử lý nước thải bệnh viện 21

Hình 2.2- Quy tắc vận hành hệ thống quản lý chất thải rắn tại bệnh viện 24

Hình 3.1 – Quy trình xử lý chất thải bệnh viện 34

Hình 5.1- Quy trình thu gom và vận chuyển rác 42

Hình 5.2 - Sơ đồ nguyên lý một hệ thống lò đốt chất thải rắn y tế điển hình có thể áp dụng để xử lý tập trung 43

Hình 5.3 - Sơ đồ vận hành hệ thống nạp chất thải tự động 44

Hình 5.4 – Sơ đồ hệ thống cấp khí 45

Hình 5.5 - Hệ thống thoát nước thải áp dụng cho một số BV tạiTp Mỹ tho 47

Hình 5.6 - Sơ đồ công nghệ XLNT y tế 49

Hình 5.7 - Quy trình xử lý nước thải bệnh viện bằng công nghệ sinh học hiếu khí vi sinh vật dính bám 50

Trang 9

CHỮ VIẾT TẮT

BM&TE : Bà mẹ và Trẻ em

BOD 5 : Nhu cầu oxy sinh hoá

BV : Bệnh viện

BV ĐK : Bệnh viện đa khoa

BVMT : B ảo vệ môi trường

COD : Nhu cầu oxy hóa học

CTNH : Chất thải nguy hại

CTSH : Chất thải sinh hoạt

CSMT : Chính sách môi trường

ĐTM : Đánh giá tác động môi trường

GB : Giường bệnh

KPHĐ : Không phát hiện được

LĐTBXH : Lao động thương binh xã hội

SS : Hàm lượng chất rắn lơ lửng

TN & MT : Tài nguyên và môi trường

TCCP : Tiêu chuẩn cho phép

TCVN : Tiêu chuẩn Vịêt Nam

Trang 10

Chöông 1 MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết của luận văn

Thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố

Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Tây Nam, nằm trọn vẹn trên ngã ba sông Tiền và thừa hưởng tác động trực tiếp của tuyến Quốc lộ 1A là hệ thống giao thông đường bộ lớn nhất cả nước

Tp Mỹ tho với dân số 251 071 người (2005-2007 nguồn số liệu phát triển kinh tế xã hội của Tp Mỹ Tho năm 2001- 2005) gồm 11 phường và 4 xã, có diện tích là 49.98km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1%/năm Trên địa bàn Tp có 7 BV Với gần

1000 giường bệnh đang đổ ra mỗi ngày hàng ngàn kg chất thải rắn các loại trong đó lượng chất thải nguy hại chiếm khối lượng tương đối cao

Để quản lý khối lượng chất thải như vậy, Tp đã sử dụng phương pháp đốt và được đặt ở bệnh viên Lao & bệnh Phổi Lò đốt ở đây hàng ngày phải làm việc hết công suất

để có thể tiêu hủy số lượng chất thải như vậy

Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù đã hình thành và hoạt động được vài năm và tốn vài

tỷ đồng cho việc đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng song công tác quản lý chất thải y tế ở TP Mỹ Tho đang còn phải đối mặt với nhiều vấn đề chưa được giải quyết một cách triệt để Một số khó khăn :

Khó khăn trong việc quản lý hệ thống thu gom

Hệ thống quản lý của các cơ quan nhà nước còn yếu về nhân lực và trang thiết bị Thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý giỏi và công nhân lành nghề

Chưa thực hiện được việc thu phí một cách chặt chẽ

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quản lý chất thải Y tế chưa được quy hoạch dài hạn với các vấn đề:

Quy họach tổng thể hệ thống quản lý chất thải Y tế

Xây dựng chương trình xã hội hóa toàn hệ thống quản lý chất thải bao gồm chương trình thu phí quản lý chất thải rắn Y tế (thu gom, vận chuyển,xử lý) đến phường xã Xây dựng chương trình phân loại tại nguồn

Xây dựng hệ thống quản lý mạnh kết hợp với chương trình đào tạo và huấn luyện chuyên môn của cán bộ và công nhân

Hoàn thiện các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác quản lý và vận hành hệ thống

Những bất cập trên là khó tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội nhưng cũng là vấn đề cần các nhà lãnh đạo phải giải quyết trong thời gian tới

Trang 11

Do vậy, để giải quyết những bất cập trên cần phải đi sâu vào phân tích hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế của Tp Mỹ Tho

Tuy có một số đề tài đã nghiên cứu và nêu ra một số biện pháp khắc phục nhưng vẫn còn một số khó khăn

Cho nên, với đề tài này nhằm củng cố một số ý kiến về giải quyết các hiện trạng quản lý chất thải Y tế trên địa bàn Tp Mỹ Tho

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại các bệnh viện và trung tâm y tế trên địa bàn thành phố Mỹ Tho Đề xuất các biện pháp thích hợp trong điều kiện thích hợp của thành phố

1.3 Nội dung thực hiện

- Giới thiệu tổng quan về chất thải y tế (chất thải rắn, nước thải)

- Nêu lên hiện trạng về công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện và trung tâm

y tế của thành phố Mỹ Tho

- Dự báo diễn biến về tải lượng chất thải y tế của thành phố

- Đề xuất các giải pháp với điều kiện thành phố

1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

- Về địa lý : Tp Mỹ Tho- Tiền Giang

- Về đối tượng: Chất thải y tế (nước thải và chất thải rắn)

1.5 Phương pháp thực hiện

-Phương pháp thống kê

- Phương pháp tìm hiểu các tài liệu có lien quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát tình hình thực tế

Trang 12

Chöông 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP

XỬ LÝ

2.1 Giới thiệu vế chất thải y tế

2.1.1 Khái niệm chất thải y tế:

Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học

2.1.2 Tính chất của chất thải y tế

Chất thải y tế có ở dạng rắn lỏng và khí Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động tới môi trường sức khỏe giống như các chất thải thông thường khác Tuy nhiên, một phần trong chất thải y tế là các loại hình chất thải

có các đặc tính riêng biệt và có nguy cơ cao gây rủi ro về môi trường và sức khỏe cộng đồng và thường được gọi là chất thải nguy hại Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi

ro về môi trường và sức khỏe mà các loại chất thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân lập và tiêu hủy trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường là tốn kém để tránh thoát thải ra môi trường nên ngoài Thông thường, chất thải y tế nguy hại có một trong các thành phần như : máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan tổ chức của cơ thể người được cắt bỏ trong điều trị, động vật đã sử dụng cho thí nghiệm nghiên cứu, bơm kiêm tiêm, các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, các đồng vị phóng xạ dùng trong y tế…

2.1.3 Phân loại chất thải y tế

Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới, kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đề bao gồm các loại chính như sau:

 Nhóm chất thải lâm sàng : bao gồm 5 phân nhóm khác nhau là:

 Nhóm A : Chất thải nhiễm khuẩn (infectious waste) :vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu…

 Nhóm B : Các vật sắc nhọn (sharps):các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lam dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ…

 Nhóm C: Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm…

 Nhóm D : Chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cả các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng còn tồn lưu dư lượng, và hóa chất có tính gây độc đối với tế bào

 Nhóm E: Bệnh phẩm (pathological waste) Nhóm này bao gồm các mô và

cơ quan người, động vật, một phần chi thể bị cắt bỏ do các can thiệp phẫu

Trang 13

thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không

chứa nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây tác động tâm lý rất

mạnh)

 Nhóm chất thải phóng xạ :

Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và

nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị

nhiễm các đồng vị phóng xạ

 Nhóm chất thải hóa học:

Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axít

béo, axit amin, một số loại muối…và hoá chất nguy hại như phooc man dehit, hóa

chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm

sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng tẩy uế, thanh trùng…

 Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất :

Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,CO2, bình

gas, các bình chứa khí một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ

cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng quy cách

 Nhóm chất thải sinh hoạt:

Nhóm này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ hộ gia đình

gồm giấy loại, vải loại,vật liệu đóng bao, đóng gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm

thải bỏ và các chất thải ngoại cảnh như các loại lá, hoa quả rụng…

Bảng 2.1 trình bày kết quả phân loại chất thải rắn tại 2 bệnh viện đã có đốt rác y tế và

1 1-Bệnh viện tỉnh Quảng Nam

1.1 Phân loại lần 1

(a) chất thải

(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng,

vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y

tế

2,512 25,12

Trang 14

(c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dịch 2,624 26,24

(d) Nhóm B - Các vật sắc nhọn : kim tiêm, ống

tiêm, chai lọ, ống tiêm thủy tinh, dao mổ…

1,92 19,2

(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm

cao từ phòng xét nghiệm : lam kính, ống

nghiệm

(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi

(g) Nh óm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai, bào

(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng,

vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y

(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm

cao từ phòng xét nghiệm : lam kính, ống

nghi ệm

0,058 0,58

(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi

(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai, bào

Trang 15

2 Bệnh viện đa khoa Hải Dương

2.1 phân loại lần 1

(a) chất thải

(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng,

vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y

(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm

cao từ phòng xét nghiệm : lam kính, ống

nghiệm

(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi

(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai, bào

(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông băng,

vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết, bột y

Trang 16

cao từ phòng xét nghiệm : lam kính, ống

nghiệm

(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi

(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai, bào

Nguồn : Xây dựng kế hoạch cải thiện môi trường các bệnh viện

Kết quả phân loại chất thải rắn tại các bệnh viện trong bảng 2.1 cho thấy các bệnh viện này đã thực hiện tốt khâu phân loại, thu gom rác y tế Vì vậy, lượng rác y tế nguy

hại thực sự cần thiêu đốt là không nhiều, giảm được chi phí thiêu đốt

2.1.4 Thành phần của chất thải y tế

Chất thải rắn y tế phát sinh tronh bệnh viện chủ yếu là do các hoạt động chuyên môn và phụ thuộc vào số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị và còn một lượng chất thải sinh hoạt từ nhân viên y tế trong bệnh viện Đối với các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có mặt một số lượng đáng kể người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi, một vài dịch vụ khác như nhà hàng ăn uống, sách báo…mà số lượng người vãng lai này khá lớn, nhiều khi tương đương số lượng bệnh nhân nằm viện Chính vì hiện trạng này làm cho lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải rắn bệnh viện cũng thay đổi theo Kết quả này dẫn tới sự quá tải của các hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn đến quản lý, thu gom, phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủ các quy định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một

tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại có thể bị lẫn vào chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trở thành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và sức khỏe

Bảng 2.2- Thành phần rác y tế

Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ (%) Có thành phần chất nguy

hại

Chai nhựa PVC,PE,PP 10.1 Có

Trang 17

Vỏ hộp kim loại 2.9 Không

Chai lọ thủy tinh, xy lanh thủy

tinh, ống thuốc thủy tinh

2.3 Có

Tỷ lể phần chất thải nguy hại 22.6

Nguồn :Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển

2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường

2.2.1 Tác động của nước thải y tế

Nguồn tiếp nhận nước thải của các bệnh viện và trung tâm y tế là hệ thống cống thoát nước và sau đó được đổ ra sông Đây là nguồn tiếp nhận nước thải và chất thải nói chung của hàng loạt các loại hoạt động về kinh tế-xã hội khác Nếu hoạt động không được tốt thì chẳng những môi trường bên trong bệnh viện bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các loại nước thải ô nhiễm mà các nguồn nước xung quanh khu vực bệnh viện cũng bị ảnh hưởng

Hiện nay, nguồn nước cấp cho cá đô thị ở Việt Nam được lấy từ 70% từ nguồn nước mặt và 30% từ nguồn nước ngầm Song nguồn nước mặt phần lớn là bị ô nhiễm, mức ô nhiễm cao thường từ 2-3 lần có nơi từ 10-20 lần TCCP Theo kết luận của một

số nhà chuyên môn thì nguồn nước mặt bị ô nhiễm hiện nay là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản Các quần thể sinh vật sống dưới nước khó có thể tồn tại và phát triển trong mọt môi trường nước bị ô nhiễm bởi kinh loại nặng, chất hữu cơ, chất phóng xạ và các hóa chất độc hại

Tác động đầu tiên ở đây là sự ngập úng gây mất vệ sinh môi trường bệnh viện Khi gặp mưa lớn và kéo dài sẽ gây ra sự ngập úng, những vị trí thấp ở một số bệnh viện do hệ thống thoát nước không đảm bảo Sự tích tụ của chất bẩn và chất độc hại lâu ngày trong bệnh viện sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường chung của bệnh viện

Các sản phẩm hóa chất dược phẩm được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất là với các hệ thống sử dụng công nghệ phân hủy sinh học) hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới các hệ sinh thái tự nhiên tiếp nhận nguồn nước này

Trang 18

2.2.2 Tác động của chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế, xét về mức độ dơ bẩn và độc hại có thể quy vào loại ô nhiễm bậc nhất trong số các loại chất thải rắn của xã hội và tất nhiên nó sẽ gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng

Việc vận chuyển các loại chất thải rắn từ các khoa phòng của các bệnh viện đến nơi tập trung, phân loại, xử lý cũng là điều đáng được quan tâm, nhất là với một số bệnh viện cao tầng

Nếu vân chuyển chất thải từ các tầng trên xuống đất bằng các phương tiện vận chuyển thủ công và sử dụng cầu thang bộ làm tuyến đường vận chuyển chính thì ảnh hưởng đến khả năng gâ cản trở lưu thông của các bệnh viện và sự va chạm giữa người

đi bộ với dụng cụ vận chuyển chất thải Tùy theo mức độ va chạm mà có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ hoặc rơi rớt chất thải rắn dọc theo cầu thang làm mất mỹ quan của bệnh viện

Khu tập trung, phân loại, xử lý chất thải rắn nếu không tổ chức có khoa học cũng sẽ gây ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường như : bốc mùi hôi thối và là mầm gây dịch bệnh Nước và các dịch chiết tách ra từ chất thải rắn tại khu vực mày thường

có mức độ ô nhiễm mạnh nên nếu không tổ chức tốt và vệ sinh thường xuyên sàn khu phân loại tiếp nhận sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh

Cuối cùng là vần đề đưa chất thải rắn y tế ra môi trường bên ngoài Các tác động đối với môi trường trong trường hợp này xuất phát từ vấn đề ô nhiễm không khí( bốc mùi hôi thối), ô nhiễm nguồn nước do nước mưa hòa tan các chất độc hại và vi trùng có trong rác Từ đó ảnh hưởng đến đất đai và nước ngầm Sau cùng là các dịch bệnh lan truyền do các loại côn trùng, ruồi muỗi và vi trùng phát triển từ bãi rác

2.3 Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện đến sức khỏe cộng đồng

Các rủi ro từ chất thải y tế :

Chất thải y tế bao gồm một lượng lượng chất thải có đặc điểm như chất thải sinh hoạt chung và một tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 20%) các chất thải có khả năng gây rủi ro cao Chất thải rắn y tế nguy hại có thể tạo nên những mối nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người

Trang 19

 Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội

Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ :

Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong các khâu quản lý

và kiểm sóat chất thải Dưới đây là những nhóm đối tượng chính có nguy cơ cao đối với tác hại của chất thải y tế:

 Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, những người thực hiện các thủ thuật xâm lấn, tiêm, thay băng…

 Những người thực hiện phân loại thu gom và vận chuyển chất thải y tế ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện

 Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú

 Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi

 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh, điều trị, chẳng hạn như giặt ủi, lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế

 Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác)

Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ cơ sở dịch vụ y tế tư nhân quy mô nhỏ lẻ, nằm rải rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khỏe do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới

2.3.1 Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần chất thải nguy hại có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kì tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:

 Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọn gây tổn thương

 Qua các niêm mạc, màng nhầy

 Qua đường hô hấp do xông, hít thở phải

 Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải

Trong các cơ sở y tế, tính kháng đa thuốc kháng sinh của vi khuẩn đối với hàng loạt họ kháng sinh và các hóa chất sát khuẩn cũng có thể tạo ra những mối nguy hiểm do sự quản lý yếu kém của chất thải y tế Điều này đã được chứng minh, chẳng hạn các plasmid từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E.Coli

Trang 20

kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở

đó có vẻ như không phải môi trường thuận lợi cho loại vi sinh vạt này trong điều kiện thông thường của hệ thống xử lý và tiêu hủy chất thải y tế

Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus hây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt các y tá, hộ lý là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua các vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Các nhân viên hành chính của bệnh viện và những người vận hành hệ thống quản lý chất thải trong phạm vi bệnh viện cũng như ngoài bệnh viện ơ các trạm xử lý chất thải của đại phương, khu vực cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn vệ sinh, những người bới rác tại các bãi đổ rác mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ghi nhận những nguy cơ này (do chưa có sự quan tâm đúng mức tới các đối tượng này) Nguy cơ của các lọai bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộng đồng không phải tiếp xúc với chất thải y tế thấp hơn nhiều Trong một số trường hợp, một vài bệnh truyền nhiễm lây truyền và lan rộng ra cộng đồng xung quanh nhiều khi trở thành dịch, một bằng chứng ghi nhận là vụ dịch tả hoành hành ơ Trung Mỹ năm 1996-1997 mà nghi can chính là từ nước thải từ một bệnh viện truyền nhiễm ở Peru không được xử lý và thải ra khu vực, kết quả là gây nhiễm bệnh và bùng phát thành dịch bệnh

Tỷ lệ tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịch vụ

vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được cơ quan đăng

ký Độc chất và Bệnh tật Hoa Kỳ(ATSDR) đánh giá Nhiều tổn thương gây ra do kim tiêm trước khi vứt bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa nhốt kim không kín hoặc được làm bằng những loại vật liệu dễ bị rách, bị xuyên thủng Một báo cáo của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) tại hội nghị chất thải y tế đã đánh giá số trường hợp nhiễm virus viêm gan B và C hàng năm do tổn thương gây ra bởi các chất thải sắc nhọn trong số các nạn nhân có nhiều nhân viên

y tế và nhân viên trong hệ thống quản lý xử lý chất thải Số người bị nhiễm virus viêm gan B hàng năm ở Hoa Kỳ mà nguyên nhân do tiếp xúc với chất thải y tế vào khoảng từ 162 đến 321 ca so với tổng số 300 000 trường hợp bị nhiễm mỗi năm Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tủy, chất nôn, nước mắt, tuyến nhờn

Trang 21

Bảng 2.3- Một số ví dụ về sự nhỉễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế, các loại vi sinh vật gây bệnh và phương tiện lây truyền:

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế

Nhiễm khuẩn tiêu hóa Nhóm Enterobacteria:

Salmonella,Shigella spp:

Vibrio cholerae: các loại giun sán

Phân hoặc chất nôn

Nhiễm khuẩn hô hấp VK lao, virus sởi,

Streptococus pneumoniae

Các loại dịch, tiết đờm

Nhiễm khuẩn mắt Virus herpes Dịch tiết của mắt

Nhiễm khuẩn sinh dục Nesseria goborrhoeae,

virus herpes

Dịch tiết sinh dục

Nhiễm khuẩn da Streptococcus spp Mủ

Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ hôi,

chất nhờn …) Viêm màng não Não mô cầu (Neisseria

menighitidis)

Dịch não tủy

Sốt xuất huyết Các virus :Junin, Lassa

Ebola, Marburg

Tất cả các sản phẩm máu

và dịch tiết Nhiễm khuẩn huyết do tụ

Enterococcus;Klebssiella;

Streptococcus spp

Máu

Viêm gan B,C Virus viêm gan B,C Máu, dịch thể

Nguồn : Môi trường bệnh viện - Cục bảo vệ môi trường

Trang 22

Trong bất kỳ một cơ sở y tế nào, y tá và những nhân viên quản lý bệnh viện là những nhóm nguy cơ chính bị tổn thương, tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp hàng năm của những đối tượng này vào khoảng 10-20 phần nghìn Tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất trong số tất cả các nhân viên có thể đã tiếp xúc với chất thải y tế đã được báo cáo bởi các nhân viên lao công và nhân viên xử lý chất thải, tỷ lệ hàng năm ở Mỹ là 180 phần nghìn

Cho đến thời điểm hiện nay Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào phản ánh được tình trạng tổn thương do nghề nghiệp của các nhân viên y tế và nhân viên các công ty môi trường đô thị cũng như người dân sống cận kề các bãi rác

có lẫn rác từ các bệnh viện

2.3.2 Ảnh hưởng của các chất thải hóa chất và dược phẩm

Nhiều hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế là những mối nguy

cơ đe dọa sức khỏe con người như độc dược, các chất gây độc gen, chất độc tế bào, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ v v Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế hoặc đôi khi với tỷ lệ khá lớn như trong trường hợp các dạng thuốc, sinh phẩm quá hạn, thuốc thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và gây nhiễm độc mãn tính gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các chất hóa chất gây phản ứng

Trong khi không có tài liệu khoa học nào cho thấy mức độ phổ biến của bệnh tật gây ra do chất thải hóa chất hoặc dược phẩm từ các bệnh viện đối với cộng động, thì nhiều trường hợp nhiễm độc quy mô lớn do chất thải hóa chất công nghiệp đã xảy

ra Cũng có một số thông báo về nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm độc do việc vận chuyển hóa chất và dược phẩm trong bệnh viện không đúng quy cách Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y tá, kỹ thuật viên, các cán bộ hành chính có nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do tiếp xúc với các loại hóa chất dạng chất dạng lỏng dễ bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch khác

2.3.3 Ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen

Thực chất cần phải đủ thời gian để thu thập những bằng chứng về ảnh hưởng lâu dài đối với sức khỏe của các chất thải gây độc gen từ các cơ sở y tế bởi vì rất khó đánh giá ảnh hưởng lâu dài đối với sức khỏe của các chất thải gây độc gen trong y tế lên mối nguy cơ đối với con người Một nghiên cứu được tiến hành ở Phần Lan đã tìm

ra một vài dấu hiệu liên quan giữa tỷ lệ sảy thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ liên quan tới việc tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc chống ung thư, nhưng các nghiên cứu tương tự được tiến hành tại Pháp và Mỹ lại không xác nhận kết quả này

Có rất nhiều nghiên cứu được xuất bản đã điều tra khả năng kết hợp giữa nguy

cơ đối với sức khỏe và tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện bằng sự tăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăng nguy cơ sảy

Trang 23

thai Mức độ tập trung các thuốc gây độc gen trong bầu không khí bên trong bệnh viện

đã được xem xét trong một số nghiên cứu thiết kế để đánh giá các ảnh hưởng về sức khỏe liên quan với việc tiếp xúc các yếu tố nguy cơ Hiện vẫn chưa có những công bố khoa học nào ghi nhận những hậu quả bất lợi đối với sức khỏe do công tác quản lý yếu kém đối với các chất gây độc gen từ trong các cơ sở y tế như bệnh viện

2.3.4 Những ảnh hưởng của chất thải phóng xạ;

Nhiều tai nạn được ghi nhận do việc thanh lý, xử lý các nguyên liệu trong trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do vô tình hay hoàn cảnh phải tiếp xúc với nguy cơ chất thải phóng xạ trong y tế Một thông báo ở Brazil,

đã phân tích và có đầy đủ tài liệu để chứng minh trường hợp ảnh hưởng của chất thải phóng xạ trong y tế tới ung thư công đồng Sự cố này có liên quan tới việc bỏ sót chất thải phóng xạ của một bệnh viện trong khi chuyển tới điạ điểm mới, do đã làm thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêm phong Sau đó một người dân chuyển đến địa điểm nơi bệnh viện đã dời đi và vô tình đã nhặt được nguồn xạ mang

về nhà Hậu quả là đã có 249 người tiếp xúc chịu phơi nhiễm với nguồn xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã chết hoặc gặp phải hàng loạt vấn đề về sức khỏe Đa số các tác hại của chất thải phóng xạ trong cơ sở y tế được báo cáo qua các vụ tai nạn liên quan đến việc tiếp xúc với các nguồn phóng xạ ion hóa trong các cơ sở điều trị, như hậu quả từ các thiết bị phát tia X quang hoạt động không an toàn, do việc chuyên chở vận chuyển các dung dịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trị liệu

2.4 Các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải y tế

2.4.1 Thu gom, vận chuyển, lưu giữ:

2.4.1.1 Chất thải rắn

a-Thu gom

Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81.25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn nhưng việc phân loại còn nhiều phiến diện và kém hiệu quả, do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo đủ Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như các vật sắc nhọn trong chất thải rắn y tế đang còn lẫn nhiều chất thải rắn sinh họat Còn nhiều bệnh viện(45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải

b, Lưu giữ, vận chuyển

Chất thải y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây dựng, các tiêu chuẩn cho khu trung chuyển chất thải rắn bệnh viện

Trang 24

Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện

Việc phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn của quy trình quản lý chất thải bệnh viện Chỉ mới có vài công ty bước đầu nghiên cứu sản xuất được phương tiện để thu gom và vận chuyển chất thải, tuy nhiên còn đang ở giai đoạn thí điểm chưa sản xuất đại trà Chỉ có 18.75% trong tổng số các bệnh viện có chất thải được vận chuyển ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng của công ty môi trường đô thị

2.4.1.2 Nước thải

a, Nguyên tắc chung:

Nguyên tắc chung để thu gom nước thải y tế là:

 Tách nước mưa chảy tràn vào hệ thống thu riêng, phù hợp cả về bố trí hệ thống máng, rãnh, cống và bể điều hòa

 Tách lượng nước sinh hoạt thông thường nhu nước nấu ăn và chế biến thực phẩm, nước thải khu hành chính, văn phòng …

 Thu gom triệt để lượng nước thải từ hoạt động chuyên môn như khám,chuẩn đoán và điều trị

b, Nước mưa chảy tràn :

Nước mưa chảy tràn được kiểm soát và thu gom bởi hệ thống sau :

 Mái nhà hứng và hệ thống ống thu nước mưa từ mặt bằng mái xây dựng, thông thường hệ thống máng sắt PVC loại 120-180 mm được lắp đặt phủ đều diện thu và thoát nước

 Hệ thống rãnh, cống và các hố ga thu bảo đảm thu nước chảy tràn trên mặt bằng khuôn viên bệnh viện Hệ thống này thường được thiết

kế và thi công kiểu rãnh gom quanh nhà, cống thoát nước xây gạch hay ống bê tông li tâm Kích thước cống và ống tăng dần từ điểm thu gom đầu tiên cho tới khi đổ ra bể điều hòa hoặc lưu vực, thông thường từ 250-600 mm đối với cống bê tông

 Hệ thống khống chế thủy lực chủ yếu được dựa vào nguyên tắc tự chảy theo độ dốc tự nhiên của mặt bằng bệnh viện và cách thiết kế thi công Độ dốc trung bình khoảng 1-1.5 % đảm bảo dòng tự chảy thoát nước tốt

 Hệ thống thu, dẫn thoát nước mưa chảy tràn có chi phí đầu tư cơ bản tương đối cao, thông thường khoảng gấp 5 lần chi phí hệ nước cấp,

do vậy nhiều bệnh viện không nhận thức được nên đã thực hiện

Trang 25

không hoàn chỉnh ở khâu này Phần lớn sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống thoát nước mưa chảy tràn là do nhận thức và hành động chưa đúng ngay từ trong quá trình thiết kế thi công công trình cho tới

cả trong quá trình vận hành và bảo dưỡng hệ thống

c, Nước thải chuyên môn :

Nước thải từ hoạt động chuyên môn khám bệnh, chuẩn đoán và điều trị được thu bởi hệ thống ống thu được lắp đặt trong công trình nhờ hệ thống thu của chậu rửa Cách bố trí và đường ống tăng dần từ các điểm thu cục bộ tới các ống góp và cuối cùng đưa về trạm xử lý bằng hệ thống ống dẫn riêng

Hình 2.1 – Sơ đồ nguyên tắc thu gom và xử lý nước thải bệnh viện

2.4.2 Ngăn ngừa và giảm thiểu

Một cách có hiệu quả kinh tế, xã hội trong quản lý chất thải nói chung và quản

lý chất thải y tế nói riêng là tiến hành các biện pháp tổ chức quản lý, kỹ thuật, chính sách để giảm thiểu ngay chất thải y tế từ nguồn phát sinh

a, Nguyên tắc:

 Giảm thiểu chất thải tại nguồn: Biện pháp lựa chọn thay thế vật liệu gì sao cho lượng phế thải nhỏ nhất hay lựa chọn nhà chung cấp vật tư thuốc men, lương thực… cho bệnh viện mà có lượng thải bỏ nhỏ nhất Tại các nước công nghiệp phát triển , do khuynh hướng phát triển bền vững nên thường các nhà sản xuất phải tuân thủ luật bao bì, nội dung chính là giảm thiểu lượng bao bì phải chịu trách nhiệm với lượng bao bì do mình làm ra, theo đó người sử dụng sẽ thải bỏ vào môi trường ít đi

Hệ thống nước thải chung

Trang 26

 Tăng cường sử dụng sản phẩm thu hồi: Sử dụng các vật liệu, vật tư có khả năng thu hồi, tái sử dụng lại được Trong bệnh viện có khá nhiều loại dụng

cụ lâu bền, sử dụng nhiều lần là trong phẫu thuật, khám bệnh sơ cứu, cấp cứu, xét nghiệm chuẩn đoán… Những vật tư, dụng cụ lâu bền như các dụng

cụ kết xương, dụng cụ thăm khám thường dùng lại sau khi đã rửa sạch và vô khuẩn, khử khuẩn Mặc dầu vậy, khuynh hướng hiện nay tăng cường sử dụng các dụng cụ sử dụng một lần như kim tiêm vì tính tiện lợi của các dụng cụ này đối với thầy thuốc, vì yêu cầu của bệnh nhân nên có sự lạm dụng đối với các vật tư tiêu hao sử dụng một lần dẫn đến làm tăng chất thải

y tế Trong thực tế một số dụng cụ có thể thu hồi lại được và sử dụng vẫn hiệu quả, an toàn về mặt chất thải lại kinh tế như các loại nẹp cố định dùng trong chấn thương, đồ vải dùng trong các thủ thuật…

 Thực hành quản lý và kiểm sóat tốt : Bằng biện pháp này cũng góp phần giảm thiểu được lượng chất thải y tế Các hoạt động cụ thể cần chú ý: quản

lý, giám sát thường xuyên các dụng cụ, thuốc men, thực phẩm hóa chất có thời hạn sử dụng Nhờ biện pháp theo dõi chặt chẽ nên không để bất kỳ loại vật tư, dụng cụ thuốc men hay thực phẩm nào bị hết hạn sử dụng do vậy cũng giảm thiểu lượng chất thải y tế

b, Các biện pháp chính

 Giảm thiểu tại nguồn:

- Chọn các nhà cung cấp, hậu cần bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế thải hay giảm lượng chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt

- Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn các biện pháp hóa học sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại

- Giảm thiểu chất thải nhất là trong công tác hộ lý và khử trùng, tẩy uế

 Quản lý và kiểm sóat ở bệnh viện:

- Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại

- Giám sát sự luân chuyển lưu hành hóa chất, dược chất ngay từ khâu nhận, nhập kho, sử dụng và tiêu hủy hay thải bỏ

 Quản lý kho hóa chất, dược chất:

- Thường xuyên nhập hàng từng lượng nhỏ hơn nhập quá nhiều một đợt để dẫn tới thừa hay quá hạn

- Sử dụng các lô hàng cũ trước hàng mới nhập kho dùng sau

- Sử dụng toàn bộ thuốc, dược chất, vật tư trong kiện rối mới chuyển sang kiện mới

- Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng các loại thuốc, dược chất, vật

tư tiêu hao ngay từ khi nhập hàng cũng như trong quá trình sử dụng

Trang 27

2.4.3 Các biện pháp xử lý và tiêu hủy chất thải

2.4.3.1 Xử lý chất thải rắn y tế

a, Thiêu đốt chất thải rắn y tế:

Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh viện chúng ta hoàn toàn chưa hạch toan được chi phí cho xử lý chất thải Phần lớn các bệnh viện tự xây lò đốt cho mình và không theo một thiết kế mẫu nào cả

Công ty môi trương đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu

tư hệ thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác để tiêu hủy Hiện nay chúng ta đã có hai lò đốt rác y tế theo mô hình tập trung lò đốt Del Monego

200 xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ – Hà Nội và lò đốt Hoval GG-24 xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hòa-thành phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập ngoại của nước ngoài

Một số bệnh viện như Viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện C Đà Nẵng, Bệnh viện Vũng tàu với sự giúp đỡ cua 3 công ty Wamed engineering đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thụy Sĩ có công nghệ hiện đại với nhiệt

độ thiêu đốt có hiệu quả Qua thời gian theo dõi trên 15 tháng của Sở Khoa Học công nghệ và Môi Trường Hà Nội lò đốt của Viên Lao và Bệnh phổi đã thiêu đốt trên 10 tấn rác y tế nguy hại với kết quả tốt đảm bảo an toàn về môi trường

Đã có một số bệnh viện lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuất như bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng lò đốt do trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh thiết kế và lắp đặt…

Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kế cụ thể nào về các loại

lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của

lò đốt thiết kế và chế tạo trong nước Một vấn đề mà các nhà môi trường cần quan tâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải y tế nguy hại cần đươc quan tâm nghiên cứu

b, Chôn lấp chất thải rắn y tế

Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh, chất thải y tế được chôn lấp tại bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chôn lấp vào trong các hố đào và lấp đất lên, nhiều khi lớp đất phủ lên trên chất thải y tế quá mỏng không đảm bảo vệ sinh

Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt như bào thai, nhau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom

để đem chôn trong khu đất bệnh viên hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện

Trang 28

hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn chất thải rắn y

tế nguy hại

Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với các chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác công cộng, dễ gây rủi ro cho nhân viên thu gom, vận chuyển chất thải và cộng đồng

Hình 2.2- Quy tắc vận hành hệ thống quản lý chất thải rắn tại bệnh viện :

2.4.3.2 Xử lý nước thải y tế

Nguyên tắc và yêu cầu xử lý nước thải y tế:

Nước thải y tế phải được xử lý trước khi thải ra lưu vực Tiêu chuẩn áp dụng là TCVN6772-2000

Bảng 2.4- Tiêu chuẩn và yêu cầu một số chỉ tiêu nước thải bệnh viên:

Thu gom (Túi màu vàng)

Vận chuyển

Bảo quản chờ đốt rác theo mẻ

Đốt lò đốt rác Tro còn lại 5-

10 % gom chuyển về chất thải chung

Thu gom (túi màu xanh)

Vận chuyển

Xử lý chung thành phố (chôn lấp, ủ )

Trang 29

Nguồn :Môi trường bệnh viện- Cục bảo vệ môi trường

Các phương pháp xử lý nước thải y tế có thể phân loại theo bản chất của phương pháp hoặc theo chức năng cửa phương pháp Theo bản chất của phương pháp ta có 2 nhóm :

- Cyclon thuy lực : Được dùng trong trường hợp tách các loại cặn cơ học

có kích thước 5-5000 µm

- Lưới lọc:Dùng tách cặn cơ học, rong rêu trong trường hợp xử lý nước thải bệnh viện thường được chế tạo bằng thép không rỉ, hợp kim đồng niken hoặc polieste có kích thước lỗ 5-500 µm

- Bể điều hòa: Nước thải có lưu lượng và mức ô nhiễm không đều và không đồng nhất theo thời gian, để ổn định chế độ làm việc cho hệ thống xử lý cần ổn định nước thải đầu vào cả về lưu lượng và mức độ ô nhiễm bằng các bể chứa có dung tích được thiết kế tính toán cho cả trường hợp lưu lượng tối đa và tôi thiểu

- Phương pháp làm thoáng: Làm thoáng tự nhiên có ứng dụng hạn chế trong xử lý nước ngầm nhiễm sắt hoặc mangan, nhưng ở mức độ nhất định có

Trang 30

khả năng làm giảm một số chất tan có khả năng bay hơi cao như CO2, H2S, các chất khí cácbua hyđro mạch ngắn

- Phương pháp nhiệt: Dùng trong trường hợp chưng cất nhằm mục đích tận dụng các chất đắt tiền trong nước thải công nghiệp hoặc nước thải y sinh học

- Phương pháp oxy hóa :Dùng các tác nhân oxy hóa khác nhau như không khí, oxy,clo các hợp chất chứa clo,ozon,KMnO4 Đặc biệt là kỹ thuật sử dụng clo hay hợp chất chứa clo còn dùng rộng rãi trong khử trùng xử lý nước thải bệnh viện

- Kỹ thuật hấp phụ: Là kỹ thuật xử lý các chất hữu cơ hòa tan gây ra màu

lạ, thường người ta dùng than hoạt tính Than hoạt tính có thể đưa vào sau công đoạn tạo bông hoặc bố trí trước khi thải ra dưới dạng cột hấp phụ hay bể hấp phụ

- Tuyển nổi:Kỹ thuật tuyển nổi thường được áp dụng trong trường hợp tách các chất lỏng nhẹ hơn nước ra khỏi nuớc

- Lọc: Kỹ thuật lọc thường được thực hiện sau bước keo tụ và lắng

 Nhóm phương pháp vi sinh:

- Xử lý hiếu khí cặn lơ lửng: Nước sau khi được chỉnh tới pH thích hợp, thêm N,P vào nếu cần sao cho tỷ lệ hữu cơ theo chỉ số BOD5/N/P=100/5/1 là thích hợp

- Bể phốt: Là bể thổi khí, quá trình sục khí phản ứng được thực hiện trong bồn, cặn lơ lửng được lắng tiếp theo Trong bể xảy ra các quá trình sinh học, các vi khuẩn ái khí nhân lên và phát triển rất mạnh, trong điều kiện đủ oxy,

đủ chất dinh dưỡng là các hợp chất hữu cơ có trong nước thải, với đặc điểm sinh lý, dinh dưỡng của vi khuẩn mỗi ngày một còn có thể chuyển hóa một lượng thức ăn gấp 40 lần trọng lượng tế bào vi khuẩn nên hợp chất hữu cơ bị phân hủy và giảm thiểu rất nhanh

- Xử lý hiếu khí cặn cố định:Lớp vi sinh được nuôi cấy trên các vật liệu mang có bề mặt càng phát triển càng tốt

- Lọc sinh học :Cấu tạo tương tự bể lọc cát nhưng có bố trí luồng khí thổi từ dưới lên, vật liệu lọc thô hơn để tăng diện tích giá thể bám

- Bể lọc nhỏ giọt: Nước thải được rải đều và phân bố trên toàn bộ bề mặt lớp vật liệu lọc bằng một cơ cấu lọc nhỏ giọt

- Xử lý yếm khi căn lơ lửng : Ưu điêm của phương pháp này : +, Chịu được nồng độ hữu cơ cao(BOD5 từ 1500-15000 mg/l) +, Lượng bùn thải ít

+, Chi phí vận hành thấp thậm chí còn đem lại hiệu quả kinh tế

Trang 31

Lò đốt đa vùng thường cấu tạo hai buồng đốt sơ cấp hay nhiệt phân và buồng đốt thứ cấp hay buồng oxy hóa với nhiều giai đoạn cháy khác nhau ở cả trong hai buồng đốt :

 Buồng đốt sơ cấp gồm hai diễn biến :

- Giai đoạn 1 : Chất thải rắn được sấy khô

- Giai đoạn 2 : Cháy và khử khí (cácbon hóa)

 Buồng đốt thứ cấp gồm 3 diễn biến:

- Giai đoạn 1 : Phối trộn

- Giai đoạn 2 : Đốt cháy khử khí

- Giai đoan 3 : Oxy hóa hoàn toàn

Sự cân bằng năng lượng giữa hai buồng đốt này là vấn đề quan trọng nhất, chúng phải có nội thất, kích cỡ phù hợp để thực hiện một mức độ nạp chất thải nhất định trong mỗi buồng đốt nếu qúa nhiều năng lượng được tạo ra trong buồng đốt chính thì khí cháy tạo ra sẽ tăng lên và dẫn đến tốc độ cao hơn

 Thiết bị xử lý và làm mát khí thải:

Trong những trường hợp đặc biệt có yêu cầu rất cao về kiểm soát ô nhiễm thứ cấp kiểm soát chất lượng khói thải, lò đốt được trang bị them hệ thống xử lý khói thải Công nghệ xử lý tiên tiến hiện nay thường có hai phương pháp xử lý : Xử lý khô và xử lý ướt

 Xử lý khô :

Phương pháp này sử dụng hóa chất ở dạng bột như CaO để trung hòa các chất ô nhiễm trong khí thải, và một túi lọc ( lọc sợi hoặc lọc tĩnh điện) để loại bỏ các muội và bụi

Trước khi xử lý, khói thải được làm mát đến nhiệt độ 170-2500 C theo nguyên

Trang 32

lý trao đổi nhiệt “ không khí- Khói thải” hoặc “ Nước – Khí thải” Ở giai đoạn này có thể kết hợp thu hồi nhiệt để sử dụng sau đó phun vôi trực tiếp vào dòng khí thải, vôi

sẽ phản ứng với các khí hơi axít để tạo muối trơ Các muối này cùng với tro và bụi bị

bộ lọc giữ lại Phương pháp xử lý khô đơn giản, kinh tế và đạt hiệu quả cao

 Xử lý ướt:

Khí thải sau khi ra khỏi buồng đốt sau đi vào khu vực trung hòa và tháp lọc, dung dịch lỏng (sođa) được phun trực tiếp vào dòng khí để hấp phụ loại bỏ các chất ô nhiễm như SOx, HCl, OCl, halogen … và các kim loại nặng, kể cả thủy ngân Đồng thời khí thải được làm mát tới nhiệt độ 700C, sau đó hút bằng quạt gió dẫn tới ống khói

Hiệu quả của phương pháp ướt cực kì cao, trị số phát tán ô nhiễm thứ cấp vào môi trường rất thấp Tuy nhiên phương pháp này khá phức tạp và chi phí đầu tư vận hành cao

Mặc dù hiệu quả xử lý cao nhưng phương pháp xử lý ướt còn sinh ra một số nhược điểm rất lớn là dung dịch hóa chất sau khi xử lý sẽ là nguồn gây ô nhiễm ở dạng lỏng

Ngày đăng: 30/10/2022, 03:52

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN