Bài tập định tội danh và quyết định hình phạt mẫu luật hình sự Bài tập số 1 Tối 2052001 Nguyễn Công A (20 tuổi) cùng với Lê Thị Hoài V (18 tuổi) đến vũ trường Rexon để giải trí Trong lúc A ra ngoài gọi điện thoại.
Trang 1Bài tập định tội danh và quyết định hình phạt mẫu
Bài tập số 1:
Tối 20/5/2001 Nguyễn Công A (20 tuổi) cùng với Lê Thị Hoài V (18 tuổi) đến vũtrường Rex để giải trí Trong lúc A ra ngoài gọi điện thoại thì Đoàn Văn K đến mời Vnhảy nhưng bị từ chối K đã có lời nói miệt thị và đe dọa V Khi A vào, V đã kể lại sựviệc và nói: “Anh phải cho nó một bài học nhớ đời” A không nói gì, vì sợ lại phải savào con đường tù tội, bởi vì ngày 4/2/1997 A đã bị Tòa án nhân dân phạt 2 năm tù
về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự 1985
Khoảng 21 giờ đêm, A và V ra về thì gặp K trước cửa vũ trường, V nói: “Thằng lúcnãy đó, anh cho nó một trận đi…” Thấy A không có phản ứng gì, V giận rỗi nói tiếp:
“Sao anh hèn nhát vậy, nếu anh không ra tay để bảo vệ danh dự cho em, thì từ naychúng ta vĩnh viễn chia tay nhau”
Thấy V nói vậy, A chỉ tay vào mặt K và nói: “Tại sao lúc nãy mày chửi người yêutao” Sau đó A đấm liên tiếp vào mặt, vào người K Bị đánh bất ngờ K không kịpphản ứng, ngã xuống đất A tiếp tục dùng chân đá, đạp vào người đến khi K ngấtxỉu Sau đó A và V gọi taxi về nhà
K được mọi người đưa vào bệnh viện cứu chữa, một tháng sau mới xuất viện
Kết luận giám định pháp y ghi rõ: “Trên người bệnh nhân có nhiều vết thương trượt
da, ở vùng trán có vết thương sâu dài 6 cm để lại sẹo to Thương tích ở mắt phảilàm giảm thị lực xuống còn 4% Tỷ lệ thương tật bệnh nhân phải gánh chịu là 25%”
Hỏi: Anh (chị) hãy giải quyết vụ án về phương diện định tội danh
và khung hình phạt áp dụng đối với A và V?
Tỷ lệ thương tật bệnh nhân phải gánh chịu là 25%”
* Đối với V
18 tuổi, trước khi xảy ra vụ án V đã có những lời nói đối với A: “Anh phải cho nó mộtbài học nhớ đời”; “Thằng lúc nãy đó, anh đánh cho nó một trận”; “sao anh hèn nhátvậy, nếu anh không ra tay để bảo vệ danh dự của em, thì từ nay chúng ta chia taynhau”
Bước 2: Xác định hướng xâm hại (khách thể bị xâm hại) và các qui phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra
Trang 2Hành vi của V xâm hại tới sự tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác Các quiphạm pháp luật hình sự cần kiểm tra: Khoản 1, 2 Điều 104, khoản 1 và đoạn 3khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự.
Bước 3: Kiểm tra các qui phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn
1) Đối với hành vi của A
* Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự
Điều luật qui định 2 tội: tội cố ý gây thương tích cho người khác và tội cố ý gây tổnhại cho sức khỏe của người khác
– Mặt khách quan của tội phạm.
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác Người phạm tội đã dùng bạo lực về thể chất tác độngvào cơ thể người khác gây tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể hoặc gây tổnhại hay làm mất chức năng của một cơ quan nào đó trong cơ thể con người.Thương tích hoặc tổn hại sức khỏe có thể do chính người phạm tội trực tiếp gây rahoặc do người phạm tội bắt người bị hai gây ra
Mức độ thương tích hoặc mức độ tổn hại sức khỏe cho người khác là từ 11% trở lên
là tỉ lệ thương tích có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu mức độ đó là từ dưới11% thì phải có một trong những tình tiết sau mới cấu thành tội phạm này, đó là tìnhtiết: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đốivới nhiều người; đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặcngười khác không có khả năng tự vệ; đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng,thầy giáo, cô giáo của mình; có tổ chức; trong thời gian đang bị tạm giữ, tạmgiam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; thuê gây thương tíchhoặc gây thương tích thuê; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; để cản trởngười thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
Giữa hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội nói trên với hậu quả thương tíchhoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác phải có mối quan hệ nhân quả Tội phạmhoàn thành từ khi gây ra vết thương hoặc làm tổn hại sức khỏe của người khác.Còn các dấu hiệu khác như: công cụ, phương tiện phạm tội, phương pháp, thủ đoạnthực hiện tội phạm, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội không phải là dấu hiệubắt buộc của tội phạm được qui định tại Điều 104 Bộ luật hình sự
Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng thuộc mặt khách quan củatội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nêu trên
và so sánh, đối chiếu với các tình tiết khách quan trong vụ án cho thấy A đã thựchiện hành vi gây nguy hiểm cho sức khoẻ của K A đã liên tiếp đấm vào người, vàomặt K và đến khi K đã ngã xuống đất hắn vẫn tiếp tục dùng chân đá vào người chođến khi bất tỉnh Hành vi trên của A rất nguy hiểm, trực tiếp xâm hại tới sức khỏe của
K và chính hành vi đó đã làm cho K gánh chịu nhiều vết thương trượt da, ở vùngtrán có vết thương sâu dài 6 cm để lại sẹo to Thương tích ở mắt phải làm giảm thịlực xuống còn 4% Tỷ lệ thương tật K phải gánh chịu là 25% Giữa thương tích mà Kphải gánh chịu với hành vi của A có mối quan hệ nhân quả Hành vi của A đã thỏa
Trang 3mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của tội cố ý gây thương tích theo khoản 1Điều 104 Bộ luật hình sự.
– Chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm qui định tại Điều 104 là chủ thể thường, tức là bất cứ ai đủ tuổichịu trách nhiệm hình sự có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể thực hiện tộiphạm này
A khi thực hiện hành vi gây thương tích cho K đã 20 tuổi, có đủ năng lực nhậnthức và năng lực điều khiển hành vi của mình Như vậy A đã thỏa mãn các điều kiệncủa chủ thể của tội cố ý gây thương tích… theo Điều 104 Bộ luật hình sự
– Mặt chủ quan của tội phạm.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thựchiện bằng lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Động cơ và mục đích phạm tội khôngphải là dấu hiệu bắt buộc
A có đủ điều kiện chủ quan về tuổi, về năng lực trách nhiệm hình sự Khi thực hiệnhành vi gây thương tích cho K, A đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, bị pháp luật cấm A cũng nhận thấy được hậu quả của hành vi đó là sẽ gâythương tích và gây tổn hại cho sức khoẻ cho K Mặc dù nhận thức được như vậynhưng A vẫn đánh K và mong muốn cho K bị thương nhằm thỏa mãn yêu cầu củangười yêu A thực hiện tội phạm bằng lỗi cố ý trực tiếp
Từ những phân tích trên, so sánh với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cố ýgây thương tích được qui định trong Bộ luật hình sự có đủ cơ sở kết luận A đã phạmtội cố ý gây thương tích cho người khác theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự
* Khoản 2 Điều 104, khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự
Để xác định khung hình phạt áp dụng đối với A, cần kiểm tra khoản 2 Điều 104 vàkhoản 2 Điều 49
– Kết luận giám định pháp y cho biết A đã gây cho K tỷ lệ thương tích là 25% Với tỷ
lệ thương tích này, về nguyên tắc A chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1Điều 104 Tuy nhiên, theo kết luận của Hội đồng giám định pháp y thì K phải chịumột vết thương tích ở trán dài 6 cm, sau khi chữa khỏi để lại vết sẹo to và xấu, đồngthời mắt phải của K cũng bị tổn thương thị lực giảm xuống chỉ còn 4 % Theo MụcI.1 Nghị quyết 02 ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tốicao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, thương tích trên đượccoi là gây cố tật nhẹ cho nạn nhân Khoản 2 Điều 104 quy định nếu phạm tội gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ nạn nhân từ 31 % đến 60 % thì sẽ ápdụng khung hình phạt tăng nặng này Thế nhưng cũng theo quy định tại Khoản 2Điều 104, trong trường hợp phạm tội gây thương tích cho nạn nhân từ 11% đến 30
% mà có tình tiết gây cố tật nhẹ cho nạn nhân thì khung hình phạt tăng nặng nàycũng được áp dụng với người phạm tội Vì thế, A phải chịu trách nhiệm hình sự theokhoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự
Về khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự
Ngày 4/2/1997 A bị phạt 2 năm tù về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều
109 Căn cứ khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội phạm ở khoản 2 Điều
109 là tội nghiêm trọng và theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thì đâycũng là tội phạm nghiêm trọng Theo điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm
1999 thì bản án cũ này chưa được xóa
Căn cứ vào khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 thì trường hợp A đã bị kết
án về một tội nghiêm trọng do cố ý chưa được xoá án tích mà lại phạm tội nghiêmtrọng do cố ý là trường hợp tái phạm chứ không phải là tái phạm nguy hiểm, chonên nó không phải là tình tiết định khung tăng nặng
Trang 4Tóm lại: Căn cứ vào các tình tiết của vụ án và đối chiếu, so sánh với Điều 104 Bộ
luật hình sự có đủ cơ sở kết luận A phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác.Tội danh và hình phạt được qui định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự
2) Đối với hành vi của V
V đã 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự Mặc dù V không trực tiếp thựchiện hành vi gây thương tích cho K nhưng đã có hành vi kích động, thúc đẩy A thựchiện tội phạm V chính là người chủ động về tinh thần gây ra tội phạm A ngay từđầu đã không có ý định phạm tội Nhưng V bằng lời nói nhiều lần thúc đẩy, yêu cầu
A đánh K để cho K một bài học V nói: “Anh phải cho nó một bài học nhớ đời”
“Thằng lúc nãy chửi em đó, anh đến đánh cho nó một trận” Thấy A chưa hành độngthì V lại kích động, thúc đẩy A phạm tội: “Anh hèn vậy, nếu anh không ra tay bảo vệdanh dự cho em thì từ nay chúng ta chia tay nhau”
Chính những lời nói đó của V đã tác động mạnh vào tinh thần, tâm lý của A làm cho
A từ chỗ không có ý định phạm tội, dẫn tới có ý định và thực hiện tội phạm, gâythương tích nặng cho K Rõ ràng các tình tiết vụ án cho thấy ở đây có sự liên hiệphành động giữa A và V Hành vi của chúng có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ nhau, quiđịnh lẫn nhau Trong đó hành vi của A là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm, lànguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả phạm tội chung, đó là K bị nhiều vết thươngtrượt da, ở vùng trán có vết thương sâu dài 6 cm để lại sẹo to Thương tích ở mắtphải làm giảm thị lực xuống còn 4% Tỷ lệ thương tật K phải gánh chịu là 25%.Hành vi của V thông qua hành vi của A dẫn đến hậu quả trên cho K
V và A cùng cố ý thực hiện tội cố ý gây thương cho K theo khoản 2 Điều 104 Bộ luậthình sự V nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, đồng thời cũngnhận thức được hành vi của A gây thương tích cho K là hành vi bị pháp luật hình sựcấm, nhận thức được hậu quả phạm tội chung Tuy biết như thế nhưng V vẫn kíchđộng, thúc đẩy và mong muốn A thực hiện tội phạm, gây thương tích cho K để cho Kmột bài học cảnh cáo
Tóm lại: Từ những sự phân tích trên có đủ cơ sở kết luận V đồng phạm với A
với vai trò xúi giục về tội cố ý gây thương tích cho người khác Tội danh và hình phạtđược quy định tại khoản 2 Điều 104 và khoản 2 Điều 19 Bộ luật hình sự
Bài tập số 2:
Lê Thị L, 28 tuổi, lấy chồng là Phạm Văn K (sĩ quan quân đội) Trong những nămđầu họ chung sống với nhau rất hạnh phúc và đã có 2 con Thế nhưng, kể từ đầunăm 2003 K bị đám bạn xấu lôi kéo vào cuộc sống xa đọa Lương và tiền làm thêm
K không đưa về nuôi gia đình mà mang đi bao một cô tiếp viên nhà hàng tên là Q.Mỗi khi về nhà K còn thường xuyên nhiếc mắng, đánh đập, hắt hủi L L nhiều lầnkhuyên nhủ nhưng K vẫn không nghe L rất ghen tức nên có ý định giết K và Q.Ngày 24/4/2003, biết đôi tình nhân hẹn gặp nhau ở nhà trọ của Q, L lấy khẩu súngK54 K để ở nhà (khẩu súng này K được giao khi làm nhiệm vụ) đến đó phục 23 giờ
Trang 5cùng ngày, thấy K đi cùng với Q và một tiếp viên khác về nhà trọ, L dùng súng bắn
K nhưng K chỉ bị thương, L lại dùng súng bắn Q, không ngờ Q lại không việc gì, mà
cô tiếp viên đi bên cạnh là H bị trúng đạn chết
Hỏi: Anh (Chị) hãy xác định tội danh do L thực hiện ?
Lời giải
1 Tóm tắt và phân tích hành vi của Lê Thị L
Với ý định giết K và Q, 23 giờ ngày 24/4/2003, L lấy khẩu súng K54 của K đến phụctrước nhà trọ của Q (nơi K và Q hẹn nhau) Khi thấy K đi cùng với Q và một tiếp viênkhác về, L dùng súng bắn K nhưng K chỉ bị thương, L lại dùng súng bắn Q, nhưng Qkhông việc gì, mà H đi bên cạnh bị trúng đạn chết
2 Xác định hướng xâm hại và quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra.
Hành vi bắn K, Q, H xâm phạm vào quyền nhân thân của con người Quy phạmpháp luật hình sự cần kiểm tra là khoản 1, 2 Điều 93 và Điều 18 Bộ luật hình sự
3 Kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn
* Khoản 1 và 2 Điều 93 Bộ luật hình sự
Khoản 2 Điều 93 BLHS quy dịnh cấu thành cơ bản của tội giết người
Mặc dù điều luật này không có mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội giếtngười, nhưng từ thực tiễn xét xử đã được thừa nhận có thể đưa ra định nghĩa: giếtngười là hành vi cố ý tước đoạt sự sống của người khác một cách trái pháp luật
– Khách thể của tội giết người là quyền sống của con người Đối tượng tác động
của nó là con người đang sống đang tồn tại
Hành vi của L đã xâm hại tới quyền sống của K, Q, H Đối tượng tác động của hành
vi phạm tội của L chính là K, Q, H
– Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi khách quan tước đoạt
quyền sống của người khác, tức là hành vi có khả năng trực tiếp gây ra cái chết củanạn nhân, chấm dứt sự sống của họ Hành vi tước đoạt tính mạng (quyền sống) củangười khác trong mặt khách quan của tội giết người phải là hành vi trái pháp luật.Hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc (dấu hiệu định tội) của tội này,
mà nó chỉ là dấu hiệu để xác định tội phạm hoàn thành Nếu hậu quả chết ngườikhông xảy ra vì do nguyên nhân chủ quan thì hành vi phạm tội được coi là giếtngười chưa đạt
Trong trường hợp hậu quả chết người xảy ra người định tội danh cần phải kiểm tramối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả đó để từ đó xác định mức
độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp việc xác định mối quan hệ nhân quả nàyhết sức phức tạp, nên theo hướng dẫn của Toà án tối cao cần thiết phải có kết luậncủa Hội đồng giám định pháp y
Căn cứ vào các tình tiết của vụ án cho thấy hành vi dùng súng K54 bắn vào K và Q
là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm hại đến quyền sống của K và Q Đây
là hành vi tước đoạt sự sống của K và Q một cách trái phép, bị pháp luật cấm Tuynhiên, nó chưa gây ra cái chết cho nạn nhân nên theo Điều 18 BLHS thì đây làtrường hợp giết người chưa đạt Còn cái chết của chị H được coi là hậu quả củahành vi giết người chưa đạt này gây ra
– Chủ thể của tội giết người là bất cứ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
từ đủ 14 tuỏi trở lên Theo sự mô tả trong vụ án, L đã xây dựng gia đình với K đượcnhiều năm và không có biểu hiện gì của người mất hoặc hạn chế năng lực trách
Trang 6nhiệm hình sự Như vậy, L là người đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện của chủ thểtội giết người
– Mặt chủ quan của tội giết người thể hiện ở dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián
tiếp Dấu hiệu mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc
Các tình tiết của vụ án cho thấy L có ý định giết K và Q Biết hai người này hẹn hònhau tại nhà trọ của Q nên L đã lấy súng K54 phục trước nhà trọ của Q, sau đó bắnhai người này Với các tình tiết của sự việc cho thấy L thực hiện hành vi phạm tội bằng lỗi cố ý trực tiếp, L biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luậtcấm nhưng vẫn cứ thực hiện, bởi L mong muốn tước đoạt tính mạng của K và Qnhằm thoả mãn sự ghen tuông của cá nhân
So sánh, đối chiếu với các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo khoản 2 Điều 93
và Điều 18 Bộ luật hình sự cho thấy L phạm tội giết người chưa đạt
Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết của vụ án cho thấy L có ý định giết K và Q Dovậy, L phạm tội trong trường hợp giết nhiều người được quy định tại điểm a khoản 1Điều 93 Bộ luật hìhn sự với tư cách là một tình tiết tăng nặng định khung
Tóm lại: Lê Thị L phạm tội giết người chưa đạt Tội danh và hình phạt được quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 93 và Điều 18 Bộ luật hình sự
Chú ý: Khi giải quyết vụ án này có thể có quan điểm cho rằng cần phải truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với L thêm tội vô ý làm chết người Nhưng theo chúng tôiviệc can phạm làm chết chị H không phải là kết quả của một hành vi vô ý thôngthường, hay nói cách khác nó không phải là hành vi vô ý độc lập mà là kết quả củahành vi cố ý giết người Nếu định tội là vô ý làm chết người thì sẽ đánh giá sai tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó Cho nên không cần định thêmtội vô ý làm chết người, chỉ cần định một tội là tội giết người (chưa đạt) và coi việclàm chết chị H là một hậu quả của hành vi giết người (chưa đạt) nói trên Về tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi giết người chưa đạt mà gây rahậu quả làm chết người khác này có thể coi không khác gì trường hợp giết người đãhoàn thành
* Khoản 1 và 2 Điều 230 Bộ luật hình sự
Khoản 1 Điều 230 quy định cấu thành cơ bản của tội sử dụng vũ khí quân dụng tráiphép Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sựthực hiện bằng lỗi cố ý xâm phạm các quy định của Nhà nước về an toàn công cộngliên quan tới vũ khí quân dụng
Khách thể bị tội phạm xâm hại là các quy định của Nhà nước về an toàn công cộngliên quan tới vũ khí quân dụng
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi sử dụng trái phép vũ khíquân dụng Đây là tội có cấu thành hình thức Tội phạm được coi là hoàn thành khingười phạm tội thực hiện hành vi khách quan sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.Hậu quả phạm tội không có ý nghĩa cho việc định tội danh
Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện bằng dấu hiệu lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ýgián tiếp) Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặtchủ quan của tội phạm này
Chủ thể của tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là những người có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt từ 16 tuổi trở lên nếu phạm tội theo ở khoản 1 và từ đủ
14 tuổi trở lên nếu phạm tội theo khoản 2, 3 và 4 Điều 230 Bộ luật hình sự
Trang 7Dựa trên cơ sở phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng nêu trên và căn cứ vào các tình tiết diễn biến của vụ án cho thấy:Hành vi của L dùng súng K54 để bắn K và Q, H là hành vi sử dụng trái phép vũ khíquân dụng Nó đã xâm phạm trực tiếp những quy định của Nhà nước về an toàncông cộng liên quan tới vũ khí quân dụng (Điều 3 Quy chế quản lý vũ khí … đượcban hành theo Nghị định 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ Hành vi này được Lthực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp Nó đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là làm K bịthương và làm chết H
Hành vi phạm tội này của L đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội sử dụng tráiphép vũ khí quân dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự
4 Kết luận
Lê Thị L phạm tội giết người chưa đạt và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng Tộidanh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 93 và Điều 18; điểm akhoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự
Bài tập số 3:
Chiều ngày 11/6/2001 Phạm Văn D đi lang thang thấy một người đang sửa xe Cub
70 đời 82-89 ở ven đường nên đứng lại xem Người chủ xe máy chữa xe mãi khôngđược nên nhờ D chữa giúp D nhận lời Sau khi chữa xe xong, D ngồi lên xe khởiđộng máy, máy nổ Lợi dụng chủ xe đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe D đã cài sốphóng xe đi thẳng Ngày hôm sau D đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì
bị Công an hình sự bắt giữ Chiếc xe máy được Cơ quan công an giao trả cho ngườichủ xe tên là Trần Quang B
Qua đấu tranh khai thác, Cơ quan công an còn được biết đêm ngày 14/7/1995, lợidụng mọi người trong gia đình nhà ông Lê Quốc L (ở làng lân cận) đi vắng, D đãdùng kìm cộng lực cắt khoá cửa vào nhà lấy chiếc xe Dream II ông L mới mua vớigiá 5 lượng vàng mang lên thành phố Hồ Chí Minh bán tiêu sài Nhưng trong quátrình điều tra, Cơ quan điều tra không phát hiện ra D là thủ phạm và trong thời gian
từ đó cho đến khi bị bắt về vụ án ngày 11/6/2001 D vẫn làm ăn sinh sống bìnhthường ở nhà
Hỏi: Hãy xác định trách nhiệm hình sự của D?
Lời giải
1 Tóm tắt và phân tích hành vi phạm tội của D
– Đêm ngày 14/7/1995 lợi dụng gia đình ông L đi vắng D đã dùng kìm cộng lực cắtkhoá vào nhà lấy chiếc xe Dream II giá trị 5 cây vàng Trong quá trình điều tra, Cơquan điều tra không phát hiện ra D là thủ phạm và trong thời gian từ đó cho đến khi
bị bắt về vụ án ngày 11/6/2001 D vẫn làm ăn sinh sống bình thường ở nhà
– 11/6/2001 B nhờ D chữa xe Sau khi chữa xe xong D ngồi lên xe khởi động máy
nổ Lợi dụng B đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe D đã cài số phóng xe đi thẳng.Ngày hôm sau khi D đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì bị Công an hình
Trang 8155, khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự 1985 và khoản 1 Điều 138;khoản 3 Điều 7; khoản 2, 3 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999.
– Hành vi D thực hiện ngày 11/6/2001 đã xâm hại tới quan hệ sở hữu tài sản củacông dân Quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra: Khoản 1 Điều 136, Bộ luật hình
sự năm 1999
3 Kiểm tra các quy phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn
* Khoản 1, 2 Điều 155 khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985 liên quan tới hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy
* Khoản 1, 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985
Khoản 1 Điều 155 quy định cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản của công dân
– Khách thể bị tội phạm xâm hại là quan hệ sở hữu tài sản của công dân Đối
tượng tác động của nó là tài sản của công dân
Hành vi lấy chiếc xe máy Dream II của D đã trực tiếp xâm hại tới quan hệ sở hữu tàisản của anh L Ông L đã mất quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt chiếc xe máycủa mình
– Mặt khách quan của tội phạm
Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản của công dân gồm cóhành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút, bí mật; hậu quả nguy hiểm cho xãhội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm đoạt tài sản và hậu quả nguy hiểmcho xã hội Tội phạm hoàn thành khi hậu quả phạm tội xảy ra
Các tình tiết của vụ án cho thấy D lợi dụng mọi người trong gia đình nhà Ông LêQuốc L (ở làng lân cận) đi vắng, đã dùng kìm cộng lực cắt khoá cửa vào nhà lấychiếc xe Dream II Như vậy, D đã thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe Dream IIcủa ông L bằng thủ đoạn lén lút, bí mật che giấu tính chất phạm pháp của hành vicủa mình đối với ông L- chủ sở hữu tài sản Tội phạm hoàn thành kể từ khi D chiếmđoạt được chiếc xe Dream II trị giá 5 lượng vàng
– Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi cố ý trực tiếp, động cơ tư lợi.
Các tình tiết của vụ án cho thấy D đã nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểmcho xã hội của hành vi của mình, biết được việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảncủa ông L là hành vi bị pháp luật cấm Tuy nhận thức được rất rõ như vậy nhưng Dvẫn thực hiện hành vi phạm tội với động cơ tư lợi
Chủ thể của tội phạm đòi hỏi người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt từ đủ 16tuổi trở lên ở khoản 1 và từ đủ 14 tuổi trở lên ở khoản 2 và 3 Điều 155 Bộ luật hình
sự năm 1985 D đã thoả mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm này
Tóm lại: Đối chiếu với các dấu hiệu đặc trưng pháp lý của tội trộm cắp tài sản của
công dân theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 thì hành vi của D đãthoả mãn các dấu hiệu của tội phạm này Tuy nhiên, tài sản của ông L là chiếc xeDream II với giá trị 5 lượng vàng Theo Nghị quyết số 01/89/HĐTP ngày 19/4/1989của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì “khoảng 5 tấn gạo, 5 tấn xăngdầu, phân đạm, 5 tạ mỳ chính, 2 tấn đường trắng loại 1, hai lượng vàng, đối với tiềnhoặc các loại tài sản hàng hoá, vật tư khác quy ra trị giá tương đương với 5 tấn gạo-được coi là số lượng tài sản, hàng hoá, vật tư có giá trị lớn hoặc thu lợi bất chínhlớn Khi trị giá gấp 3 lần các mức nêu trên thì được coi là giá trị rất lớn hoặc có sốlượng rất lớn, thu lợi bất chính rất lớn”
Như vậy, Phạm Văn D đã phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn theo điểm c khoản 2 Điều 155
Bộ luật hình sự năm 1985.
* Khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985
Trang 9Do hành vi trộm cắp tài sản của công dân xảy ra từ ngày 14/7/1995, nhưng cho đếnngày 11/6/2001 Cơ quan công an mới phát hiện ra nên cần phải kiểm tra để xác địnhhành vi phạm tội này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chưa và D cóđược hưởng thời hiệu không.
Theo khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985, tội trộm cắp tài sản của công dântheo khoản 2 Điều 155 là tội nghiêm trọng (khung hình phạt từ 2 đến 10 năm tù).Điểm c khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với tội này là 15 năm Kể từ khi D phạm tội trộm cắp tài sản củacông dân (14/7/1995) đến ngày phạm tội mới (11/6/2001) chưa đến 6 năm cho nên
D vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản của mình
Nhưng do hành vi phạm tội này lại được phát hiện và xử lý sau khi Bộ luật hình sựnăm 1999 có hiệu lực pháp luật, nên cần phải vận dụng những điều luật có lợi cho Dtheo quy định khoản 3 Điều 7 Bộ luật này
Hai tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 132 và Điều 155 Bộ luật hình sự năm
1985 được Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sáp nhập thành một tội
Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người nào trộm cắp tài sảncủa người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng… thì bị phạt cảitạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm” Như vậy, sovới quy định về tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985 cho thấynhà làm luật không chỉ phi tội phạm hoá mà còn phi hình sự hoá một phần loại tộiphạm này
Đối chiếu với hành vi trộm cắp chiếc xe máy Dream II (giá trị 5 lượng vàng – dưới 50triệu đồng) của D chúng ta thấy nó chỉ thoả mãn các dấu hiệu cấu thành cơ bản củatội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sựnăm 1999 thì khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này được áp dụng với hành vi phạm tộitrên của D (áp dụng theo hướng có lợi cho D) Cũng theo khoản 3 Điều 8 Bộ luậthình sự năm 1999, tội trộm cắp tài sản do D thực hiện là tội ít nghiêm trọng và căn
cứ vào điểm a khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 thì thời hiệu truy cứutrách nhiệm đối với loại tội này là 5 năm
Theo các tình tiết của vụ án thì từ khi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân(14/7/1995) đến ngày phạm tội mới (11/6/2001) đã qua gần 6 năm Trong thời giannày D vẫn làm ăn sinh sống bình thường ở nhà, không trốn tránh và cũng không cólệnh truy nã của Cơ quan công an Căn cứ vào các quy định tại khoản 2 và 3 Điều
23 Bộ luật hình sự năm 1999 thì D không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộmcắp tài sản nữa
* Khoản 1 Điều 136, Bộ luật hình sự năm 1999 liên quan tới hành
vi D thực hiện ngày 11/6/2001
Khoản 1 Điều 136 quy định cấu thành tội cướp giật tài sản
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này thể hiện ở chỗ tội phạm xâm phạm tớiquan hệ sở hữu tài sản Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi nhanhchóng chiếm đoạt tài sản của nạn nhân rồi nhanh chóng tẩu thoát Tội phạm hoànthành khi chiếm đoạt được tài sản Tội cướp giật tài sản được người có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt đủ tuỏi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện bằng lỗi cố ýtrực tiếp với động cơ tư lợi
So sánh, đối chiếu các dấu hiệu cấu thành của tội cướp giật tài sản quy định tạikhoản 1 Điều 136 như đã trình bày ở trên với các tình tiết khách quan và chủ quancủa vụ án cho thấy hành vi của D đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản củacông dân được pháp luật hình sự bảo vệ D đã có hành vi lợi dụng chủ xe đang lúi
Trang 10húi buộc hành lý vào sau xe đã nhanh chóng nổ máy cài số phóng xe đi thẳng Sau
đó mang xe đến hiệu cầm đồ để bán Hành vi này rõ ràng là hành vi cố ý chiếm đoạttài sản của công dân bằng thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt rồi tẩu thoát Đây làdấu hiệu của tội cưopứp giật chứ không phải là dấu hiệu đặc trưng của tội côngnhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự D có đủ nănglực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vicủa rmình là nguy hiểm cho xã hội nhận thực được hậu quả của hành vi đó nhữngvẫn có ý thức chiếm đoạt bằng được tài sản của nạn nhân để thoả mãn động cơ tưlợi
Dựa vào những phân tích trên đây cho thấy hành vi của D đã thoả mãn đầy đủ cácdấu hiệu của tội cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự
Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:
1. H và Q phạm tội cướp tài sản;
2 H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;
3 H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.
Câu hỏi: Hành vi của H, Q cấu thành tội gì? Tại sao?
Lời giải
BƯỚC 1 XÁC ĐỊNH QPPL ĐƯỢC ÁP DỤNG
Trong tình huống trên hành vi của H đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu của chị B,( cụ thể trong lúc chị C say nằm ngủ ở dọc đường H và Q đã lấy đi số trang sức trịgiá 10 triệu đồng của chị) đây là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Nên trong tình huông này quy phạm pháp luật hình sự sẽ được áp dụng
BƯỚC 2 XÁC ĐỊNH CÁC DÂU HIỆU CÙNG LOẠI CỦA HÀNH VI VI PHẠM
1 Ý kiến H và Q phạm tội cướp tài sản: Ý kiến này là sai, vì các tình tiết của vụ án không đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản
Khoản 1 Điều 168 BLHS 2018 quy định về tội cướp tài sản như sau: “Người
nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.”.
Tội cướp tài sản là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vikhác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhắmchiếm đoạt tài sản
Dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội cướp tài sản)
Trang 11* Khách thể của tội phạm:
Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Bằng hành vi phạm tội của mình,người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, đến tự do của conngười để qua đó có thể xâm phạm được sở hữu
Trong tình huống trên, H và Q thấy chị B và hai người bạn say rượu nằm
mê mệt bên đường, lại thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng nên H và
Q lấy đi toàn bộ tài sản của chị B trị giá 10 triệu đồng Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến thân thể, đến tự do của chị B và hai người bạn hay nói cách khác là không xâm phạm đến quan hệ nhân thân.
H và Q chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B.
* Mặt khách quan:
Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vikhách quan của tội cướp tài sản Đó là: Hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũlực ngay tức khắc; hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thểchống cự được để nhằm chiếm đoạt tài sản
Hành vi dùng vũ lực là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thểcủa nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm chém… Hay có thể nói một cáchkhái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm chiếm đoạt tài sản
Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành độngnhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay
Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể sẽ nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng
có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa Để xácđịnh dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, ta thấy ngay tức khắc là ngay lậptức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sảncho người phạm tội Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động củangười phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội Đe dọa dùng
vũ lực ngay tức khắc cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặckhông để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện
Hành vi khác làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được làhành vi không phải dùng vũ lực, cũng không phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tứckhắc nhưng lại làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cựđược Để xác định hành vi này, trước hết xuất phát từ phía người bị hại phải làngười bị tấn công, nhưng không phải bị tấn công bởi hành vi dùng vũ lực hoặc đedọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị tấn công bởi hành vi khác Như vậy, hành vikhác mà nhà làm luật quy định trong cấu thành trước hết nó phải là hành vi tấn côngngười bị hại, mức độ tấn công tới mức người bị hại không thể chống cự được Ví dụnhư bỏ thuốc ngủ vào cốc nước cho người bị hại uống làm cho người đó ngủ say, bị
mê mệt không biết gì sau đó mới chiếm đoạt tài sản của người bị hại…
Trong tình huống trên, H và Q không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực hay có hành vi nào khác làm cho chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được Chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được là do uống quá nhiều rượu nên say, việc chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không nhận thức, không chống
cự được không có lỗi của H và Q Vì vậy, trong tình huống này H và Q chỉ chiếm đoạt tài sản của chị B.
Trang 12=> Từ phân tích về khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H
và Q không thỏa mãn dấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS Như vậy ý kiến cho rằng H và Q phạm tội cướp tài sản là sai.
2 Ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: ý kiến này cũng sai vì các tình tiết không cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 BLHS 2015 Qua thựctiễn xét xử có thể hiểu: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng chủ tài
sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ.
Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội ngangnhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ không làm gì được (không
có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt của người phạm tội hoặc nếu
có thì biện pháp đó cũng không đem lại hiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy
đi một cách công khai) Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiênchiếm đoạt tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu giếm hành vi phạm tộicủa mình , trước, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản, người bị thiệt hại biết ngayngười lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được)
Do đặc điểm riêng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ cómột hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thứccông khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vàohoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh… Mặc dù tội công nhiênchiếm đoạt tài sản là tội phạm chưa được các nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứunhiều, nhưng qua thực tiễn xét xử chúng ta có thể thấy một số trường hợp côngnhiên chiếm đoạt tài sản như sau:
Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản đểcông nhiên chiếm đoạt tài sản của họ;
Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn,
bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản Những hoàn cảnh cụ thểnày không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho
họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấyngười phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được
Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B Trong trường hợp nếu chị B và hai người bạn không hẳn bị mê mệt mà vẫn có thể nhìn thấy hành vi chiếm đoạt tài sản của H và Q nhưng do quá say nên họ không thể ngăn cản hành vi của H và Q thì H và Q có thể bị cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Nhưng trong tình huống có ghi rõ
“… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…”, như vậy trong khi H và
Q đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị B và hai người bạn không
hề biết và nhìn thấy hành vi của H và Q, phải đến sáng hôm sau chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an Như vậy, hành vi của
H và Q không thể là công nhiên mà có hành vi lén lút, hành vi của H và Q chỉ có thể bị coi là công nhiên khi chị B hoặc hai người bạn của chị B tỉnh giấc nhận thấy chị B bị chiếm đoạt tài sản nhưng do quá say nên không có
Trang 13khả năng chống cự và H và Q vẫn công khai, trắng trợn lấy số nữ trang trên người chị B Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan, nhưng nó lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể có những thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếm đoạt, người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.
=> Từ những phân tích trên, ta thấy H và Q không có đủ các dấu hiệu cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 172 BLHS
2015 Như vậy, ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là sai.
3 Ý kiến H và Q phạm tội trộm cắp tài sản: ý kiến này đúng, vì đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS Điều 173 không mô tả nhữngdấu hiệu của tội trộm cắp tài sản mà chỉ nêu tội danh Qua thực tiễn xét xử có thểhiểu: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người
khác.
Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tàisản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉsau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản
* Mặt khách quan:
Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi kháchquan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủđoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩnthận hoặc lợi dụng vào hoàn cành khách quan khác như chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếpcận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết
Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạmkhác gần kề, chúng ta có thể có một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặcthù như sau:
Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi cóđiều kiện sẽ lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tàisản;
Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn xô đẩy để chiếm đoạt tàisản của người khác;
Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sảnhoặc người tài sản không trực tiếp quản lý nên đã chiếm đoạt Đặc trưng hành
vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu lén lút Lén lút là dấu hiệu cónội dung trái ngược với dấu hiệu công khai ở các tội xâm phạm sở hữu khác,dấu hiệu này vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý
Trang 14thức chủ quan của người thực hiện hành đó Hành vi chiếm đoạt có đặc điểmkhách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút.Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức màhình thức đó đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếmđoạt khi có hành vi này xảy ra Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lútnếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che giấu hành
vi đang thực hiện của mình Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản, đốivới những người khác, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản vẫn làcông khai Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người phạm tội trongphần lớn vẫn là lén lút, che giấu đối với người khác
Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B Ta thấy trong tình huống có ghi rõ: “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…” Để xác định hành vi phạm tội của H và Q trong tình huống này ta cần xác định “tại thời điểm mất tài sản, chủ tài sản có biết hay không” là vấn đề cần thiết phải làm rõ, bởi nó liên quan đến bản chất của hành vi chiếm đoạt Trong tình huống này, chị B là chủ tài sản, do bị say rượu nằm
mê mệt bên đường nên trong khi bị H và Q chiếm đoạt tài sản không hề biết mình bị chiếm đoạt tài sản Phải đến sáng hôm sau tỉnh giấc chị B mới biết mình bị mất tài sản Như vậy, dấu hiệu “thời điểm mất tài sản” là mốc thời gian, xác định việc tài sản đã bị chiếm đoạt và không nằm trong vòng kiểm soát của chủ tài sản nữa Tại thời điểm này, chủ tài sản (chị B) không biết việc mình bị mất tài sản và đây chính là hệ quả của hành vi
“lén lút” Bởi chỉ có “lén lút” mới làm chủ tài sản không biết mình bị mất tài sản Mặt khác trị giá tài sản bị các đối tượng chiếm đoạt là 10 triệu đồng, thỏa mãn dấu hiệu được nêu trong Điều 173 BLHS (từ hai triệu đồng trở lên ) Hành vi của H và Q được thực hiện do lỗi cố ý Mục đích cuối cùng của H và Q là mong muốn chiếm đoạt tài sản của trị B, cụ thể là số
nữ trang bằng vàng trên người của chị B.
Với sự liên hệ qua lại giữa các dấu hiệu này, giúp chúng ta dễ dàng tìm ra điểm đặctrưng của tội “Trộm cắp tài sản”, từ đó ta có cơ sở để quyết định H và Q phạm tộitrộm cắp tài sản
BƯỚC 3 ĐỐI CHIẾU HÀNH VI PHẠM TỘI NẰM Ở KHOẢN NÀO ĐIỀU NÀO.
Căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tộiphạm ta thấy, H và Q có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội trộm cắp tài sản đượcquy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015
Bài tập số 5:
Nguyễn Phi Hùng sinh ngày 14/09/1993 có hộ khẩu thường trí tại xã Nghĩa Lạc,
huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An và Trần Mạnh Dũng sinh ngày 28/08/1991 có hộkhẩu thường trú tại xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An Hùng và Dũng
Trang 15là đôi bạn thân, sống cùng phòng trọ tại ngõ 3, đường Nguyễn Kiệm, thành phốVinh, tỉnh Nghệ An Dũng và Hùng là hai thanh niên lười lao động, nghiện chơi game
và hay rượu chè Trong đó Dũng là người từng có một tiền án về tội cố ý gây thươngtích
Ngày 15/5/2017 trong lúc hết tiền, Dũng rủ Hùng đi cướp tài sản, sau khi bàn bạchai người đã làm ngay Dũng dùng xe máy chở Hùng đi vòng thành phố để tìm mồi,
cả hai nhắm được anh Trần Văn Linh đang đi xe máy SH mang biển kiểm soát
37 – H7 8513 chạy cùng chiều với họ, sau một hồi bám theo chờ thời cơ thấy anhLinh đi vào quãng đường vắng, Dũng lập tức tăng tốc áp sát từ phía sau còn Hùngvới tay giật chiếc cặp xách anh Linh đang treo trên xe, do di chuyển tốc độ cao vàbất ngờ nên cả hai xe đều ngã, khi Hùng đứng dậy thì anh Linh lao đến, lập tứcHùng bèn giơ tay đấm vào mặt và đá mạnh vào khuỷa chân làm Linh té dúi xuốngđất Sau đó, Hùng và Dũng leo lên xe bỏ chạy, nhưng ngay lập tức hai đối tượng bịmột số người dân đi đường quay bắt và gọi công an đến giải quyết Tài sản trongcặp xách gồm có: 1 điện thoại Sam sung galaxy J7, 1 laptop hiệu Leveno và giấy tờtùy thân của Linh, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định là 35 triệu đồng.Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện chiếc điện thoại Samsung galaxy J7 mà Hùng và Dũng chiếm đoạt là tang vật của một vụ án khác, đó là
vụ án do Trần Văn Linh thực hiện trước đó 5 ngày tại cửa hàng điện thoại di độngÁnh Ngân, theo đó nội dung sự việc như sau:
Ngày 10/05/2017, Linh (5/4/1994) có đến của hàng di động trên để mua điện thoại
do điện thoại của mình hơi cũ Đến nơi Linh gặp chị Trần Mai Hoa là nhânviên của hàng và hỏi giá điện thoại Sam sung galaxy J7 (có giá 6.999.000 đồng)nhưng do giá quá cao không đủ tiền, Linh đã đề nghị chị Hoa đổi chiếc điện thoạinày với chiếc điện thoại Iphone 7 của mình Tuy nhiên chị Hoa cho biết theo quyđịnh không đổi được
Sau đó Linh mang điện thoại ra quầy kỹ thuật gặp anh Từ Bá Công là nhân viên
kỹ thuật và tiếp tục đề nghị nhưng không được anh Công đồng ý Lúc sau chị Hoađến hỏi Linh để lấy lại chiếc điện thoại mà Linh đã hỏi, để cất vào tủ trưng bàynhưng Linh đã giấu chiếc điện thoại vào túi quần và trả lời: “Em Không cầm” vàchỉ tay về phía quầy kỹ thuật với ý là đã đưa máy cho anh Công Khi chị Hoa đi raphía quầy kỹ thuật quay lại thì thấy Thắng chạy nhanh ra phía ngoài cửa hàng nênchị Hoa đã hô hoán và cùng bảo vệ đuổi theo nhưng không kịp nên đã trình báo với
cơ quan công an
Hãy định tội danh trong tình huống này?
Lời giải
Văn bản quy phạm pháp luật mà nhóm sử dụng là Bộ luật hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm
2015 (Viết tắt: BLHS 2015)
Trên cơ sở nội dung vụ án hình sự nêu trên, có thể thấy đây thực chất là hỗn hợphai vụ án có liên quan với nhau về một số tình tiết, có thể tách ra thành hai vụ án đểxét xử độc lập tại phiên tòa mà bị cáo trong vụ án thứ nhất là Nguyễn Phi Hùng vàTrần Mạnh Dũng, bị cáo trong vụ án thứ hai là Trần Văn Linh
1 Vụ án thứ nhất: Theo quan điểm của nhóm 7 thì Nguyễn Phi Hùng và Trần Mạnh Dũng đã phạm tội cướp giật tài sản được quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 171 BLHS 2015.
Điều 171 Tội cướp giật tài sản
1 Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
Trang 162 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổnthương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người giàyếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm
a, Các yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản
– Khách thể: xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.
Cụ thể: Nguyễn Phi Hùng và Trần Mạnh Dũng đã chiếm đoạt chiếc cặp xách củaTrần Văn Linh
– Mặt khách quan: Hùng và Mạnh đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của Linh Cụ
thể, sau khi Hùng và Dũng đi vòng thành phố để tìm mồi, cả hai nhắm được anhTrần Văn Linh đang đi xe máy SH mang biển kiểm soát 37 – H7 8513 chạy cùngchiều với họ, sau một hồi bám theo chờ thời cơ thấy anh Linh đi vào quãng đườngvắng, Dũng lập tức tăng tốc áp sát từ phía sau còn Hùng với tay giật chiếc cặp xáchanh Linh đang treo trên xe
– Mặt chủ quan: Nguyễn Phi Hùng và Trần Mạnh Dũng đã thực hiện hành vi phạm
tội với lỗi cố ý trực tiếp với mục đích là chiếm đoạt tài sản
– Chủ thể: Nguyễn Phi Hùng và Trần Mạnh Dũng đều có năng lực trách nhiệm hình
sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
b, Quan điểm định tội danh và quyết định hình phạt
– Về định tội danh:
Trong vụ án này, Hùng và Dũng đã có hành vi giật chiếc cắp xách của anh Linh đangtreo trên xe, hành vi được thực hiện một cách bất ngờ, công khai và nhanh chóngkhiến cho người bị hại là anh Linh không kịp ứng phó Tuy nhiên, do di chuyển tốc
độ cao và bất ngờ nên cả hai xe đều ngã, khi Hùng đứng dậy thì anh Linh lao đến,lập tức Hùng bèn giơ tay đấm vào mặt và đá mạnh vào khuỷa chân làm Linh té dúixuống đất, lúc này Hùng và Dũng vẫn đang cầm túi sách của Linh vội leo lên xe bỏchạy, nhưng ngay lập tức hai đối tượng bị một số người dân đi đường quay bắt vàgọi công an đến giải quyết Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện các yếu tố cấuthành tội cướp giật tài sản, xét thấy hành vi của Hùng và Dũng đủ yếu tố cấu thànhtội này Vậy nên, việc xác định Hùng và Dũng phạm tội cướp giật tài sản theo quyđịnh của BLHS 2015 là hoàn toàn có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.– Về quyết định hình phạt
Hành vi của Hùng và Dũng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữutài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã
Trang 17hội Hùng và Dũng phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì tính ham chơi, lười lao động nên họ thực hiệnhành vi phạm tội Trên cơ sở xem xét tình tiết vụ án, xét thấy Hùng và Dũng đã đùngthủ đoạn nguy hiểm để thực hiện hành vi cướp giật tài sản (Hùng và Dũng đã dùng
xe máy chạy với tốc độ cao để áp sát và cướp giật túi sách của Linh treo trên xe)cùng với đó là tình tiết hành hung để tẩu thoát (do di chuyển tốc độ cao và bất ngờnên cả hai xe đều ngã, khi Hùng đứng dậy thì anh Linh lao đến, lập tức Hùng bèngiơ tay đấm vào mặt và đá mạnh vào khuỷa chân làm Linh té dúi xuống đất rồi Hùng
và Dũng leo lên xe bỏ chạy) Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhânthân của bị cáo Xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo
ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt
và răng đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội Việc phạt Nguyễn PhiHùng và Trần Mạnh Dũng 5 năm về tội cướp giật tài sản quy định tại điểm d, đkhoản 2, điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàntoàn có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật
2 Vụ án thứ hai: Theo quan điểm của nhóm 7 thì Trần Văn Linh đã phạm trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.
Điều 173 Tội trộm cắp tài sản
1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợpsau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến
03 năm:
a, Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản
– Khách thể: xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.
Cụ thể: Trần Văn Linh đã chiếm đoạt chiếc điện thoại Sam sung galaxy J7 (có giá6.999.000 đồng) của cửa hàng điện thoại di động Ánh Ngân
– Mặt khách quan: Linh đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của cửa hàng điện thoại
di động Ánh Ngân Cụ thể, trong vụ việc này, lợi dụng sự sơ hở quản lý tài sản củachị Hoa, Trần Văn Linh đã lén lút nhét chiếc điện thoại đó vào túi, khi chị Hoa đếnhỏi Linh để lấy lại chiếc điện thoại mà Linh đã hỏi, để cất vào tủ trưng bày thì Linhtrả lời: “Em Không cầm” và chỉ tay về phía quầy kỹ thuật với ý là đã đưa máy choanh Công sau đó thoát khỏi sự quản lý tài sản của chị Hoa
– Mặt chủ quan: Trần Văn Linh đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp
với mục đích là chiếm đoạt tài sản
– Chủ thể: Trần Văn Linh có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
Trang 18quy định của pháp luật, trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút, bí mật chuyểndịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
– Về quyết định hình phạt
Hành vi của Trần Văn Linh nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản củangười khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung.Linh có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi củamình gây ra nhưng do mục đích tư lợi và xem thường pháp luật, Linh vẫn thực hiệnhành vi phạm tội nêu trên Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy địnhcủa pháp luật Trên cơ sở xem xét giá trị tài sản mà Linh đã chiếm đoạt được làchiếc điện thoại Sam sung galaxy J7 có giá 6.999.000 đồng, Linh phạm tội lần đầu
và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Xét thấy việc phạt Trần Văn Linh 06 tháng tù
về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ và đúng với quy định của phápluật
Tình huống không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài
sản nhưng vẫn là đồng phạm
A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H Theo sự phân công của nhóm, C mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa Chúng hẹn nhau 10 giờ đêm tập kết ở địa điểm X Đến giờhẹn, C đem thanh sắt đến địa điểm X như đã thỏa thuận nhưng chờ mãi không thấy A và B đến nên bỏ về nhà ngủ A và B đến chỗ hẹn quá muộn nên không gặp được C, nhưng
vẫn quyết định đi lấy tài sản theo kế hoạch và đã lấy được tài sản giá trị 80 triệu đồng Do không đi lấy tài sản nên C chỉ được A và B chia cho 5 triệu đồng, C chê ít không lấy và cũng không nói gì về vụ trộm với bất cứ ai Sau một tháng vụ việc bị phát hiện
4 Giả sử A, B và C mới tròn 15 tuổi thì A, B và C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? (2 điểm)