1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản trong luật hình sự việt nam

108 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm định tội danh đối với tội tham ô tài sản Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, để có thể xác định được tội phạm cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự đúng pháp luật ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

định tội danh và quyết định hình phạt

đối với tội tham ô tài sản

Trong luật hình sự việt nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

định tội danh và quyết định hình phạt

đối với tội tham ô tài sản

Trong luật hình sự việt nam

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 6

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh đối với tội tham ô tài sản 6

1.1.2 Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản 16

1.2 KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC, CĂN CỨ CỦA QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 22

1.2.1 Khái niệm quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản 22

1.2.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản 23

1.2.3 Căn cứ quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản 26

1.3 NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO CHO VIỆC ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 33

1.3.1 Hệ thống pháp luật hình sự 33

1.3.2 Đạo đức nghề nghiệp của chủ thể định tội danh, quyết định hình phạt 34

1.3.3 Năng lực chuyên môn của chủ thể định tội danh, quyết định hình phạt 36

Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 38

2.1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 38

Trang 5

2.2 NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH ÁP

DỤNG QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ KHI ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM

Ô TÀI SẢN 53 2.2.1 Vướng mắc trong việc xác định chủ thể của tội tham ô tài sản 54 2.2.2 Vướng mắc trong việc xác định tài sản là đối tượng tác động của

tội tham ô tài sản 61 2.2.3 Vướng mắc trong việc xác định tình tiết "gây hậu quả nghiêm

trọng, gây hậu quả nghiêm trọng khác, gây hậu quả rất nghiêm trọng khác, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác" 65 2.2.4 Vướng mắc trong áp dụng tình tiết tăng nặng "xâm phạm tài sản

của nhà nước" 67 2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC

TRONG THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 70

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 73

3.1 HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH

SỰ LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM THAM Ô TÀI SẢN 73 3.2 KIẾN NGHỊ BAN HÀNH VĂN BẢN HƯỚNG DẪN 82 3.3 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ, ĐẠO

ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA CHỦ THỂ ĐỊNH TỘI DANH, QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 89 3.4 TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ĐẤU TRANH,

XỬ LÝ TỘI PHẠM THAM Ô TÀI SẢN 93

KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Bảng 2.1: Tương quan giữa tổng số vụ án tham nhũng đã phát hiện

khởi tố và tổng số vụ án tham ô tài sản đã phát hiện khởi tố

trên toàn quốc giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014

42

Bảng 2.2: Tương quan giữa tổng số bị can tham nhũng đã phát hiện

khởi tố và tổng số bị can tham ô tài sản đã phát hiện khởi tố

trên toàn quốc giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014

43

Bảng 2.3: Số liệu thống kê các vụ án tham ô tài sản đã xét xử sơ thẩm

trên địa bàn toàn quốc của Tòa án các cấp từ năm 2010 đến

năm 2014

44

Bảng 2.4: Số liệu thống kê các vụ án tham ô tài sản Cơ quan điều tra

các cấp đình chỉ, tạm đình chỉ trên địa bàn toàn quốc từ

năm 2010 đến năm 2014

45

Bảng 2.5: Số liệu các vụ án tham ô tài sản Viện kiểm sát nhân dân và

Tòa án nhân dân các cấp trả điều tra bổ sung trên địa bàn

toàn quốc từ năm 2010 đến năm 2014

46

Bảng 2.6: Số liệu về hình phạt áp dụng của Tòa án nhân dân các cấp

đối với tội phạm tham ô tài sản từ năm 2010 đến năm 2014 51

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, trong nhóm tội phạm tham nhũng, tội phạm tham ô tài sản

đã và đang là một vấn đề được quan tâm không chỉ bởi một quốc gia, một khu vực mà của cả thế giới Loại tội phạm này không chỉ đe dọa đến sự ổn định chính trị, kìm hãm sự phát triển kinh tế mà nó còn làm trầm trọng thêm những vấn đề tiêu cực xã hội, hủy hoại những giá trị tốt đẹp của dân tộc và xâm hại nghiêm trọng đến quyền con người Vì vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng nói chung và tội phạm tham ô tài sản nói riêng, trong đó có Việt Nam Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tội phạm tham ô tài sản cũng đang là một vấn nạn lớn của xã hội Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, Việt Nam thuộc nhóm những nước tham nhũng nghiêm trọng, trong đó các tội phạm tham ô tài sản chiếm tỉ lệ cao với nhiều thủ đoạn tinh vi Tội phạm tham ô tài sản ở Việt Nam vừa nghiêm trọng, vừa tinh vi, phức tạp, xảy ra phổ biến trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành với nhiều cấp độ khác nhau Đặc biệt, trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều vụ án tham ô phức tạp mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây ra những thiệt hại to lớn như: Vụ án Dương Chí Dũng

- nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải tham nhũng số tiền gần 400 tỷ đồng, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như - nguyên cán bộ Viettinbank chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bọn tham nhũng gây thiệt hại hơn 4.000 tỷ đồng,… Số tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là rất lớn như: vụ Lê Hoài Phương - cán bộ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Cầu Giấy (Hà Nội) tham ô 24

tỷ đồng; vụ Huỳnh Ngọc Sĩ - Giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông - Tây, Thành phố Hồ Chí Minh tham nhũng 260 nghìn USD;… Trước thực trạng như vậy, Việt Nam cần phải đấu tranh phòng chống một cách có hiệu quả loại tội phạm này Một trong những biện pháp đấu tranh có hiệu quả tội phạm

Trang 8

tham ô tài sản chính là việc áp dụng pháp luật hình sự Nhưng để có thể áp dụng luật hình sự hiệu quả thì các quy định trong luật hình sự phải được hoàn thiện, phải đầy đủ, chuẩn xác, phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn đời sống, làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của các chủ thể áp dụng pháp luật

Thực tiễn gần đây cho thấy những quy định của luật hình sự về tội phạm tham ô tài sản còn những hạn chế nhất định Do đó, tác giả lựa chọn đề

tài "Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản trong luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn chỉ ra

những bất cập của Bộ luật hình sự hiện hành, từ đó đề xuất những ý kiến cụ thể góp phần hoàn thiện Bộ luật hình sự quy định về tội phạm này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, những đề tài nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự có liên quan đến đề tài của tác giả gồm những công trình sau:

* Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ

- Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, của Trần Đăng Vinh (2012),

- Các tội phạm về tham nhũng trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ Luật học, của Nguyễn Văn Hải (2001)

- Tội tham ô tài sản trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, của Tạ Thu Thủy (2009)

* Các bài viết, tạp chí, đề tài khoa học:

- Các tội phạm về tham nhũng trong luật hình sự Việt Nam, của Trần

Công Phàn, Tạp chí Kiểm sát, số 06/2006

- Việc xác định tội tham ô tài sản trong cơ chế thị trường, của Đinh

Khắc Tiến, Tạp chí Kiểm sát, số 6/2006

- Bàn về chủ thể của tội tham ô tài sản trong Bộ luật hình sự năm

1999, của Trương Thị Hằng, Tạp chí Kiểm sát, số /2006

- Các tội phạm về tham nhũng có tính chất chiếm đoạt tài sản và đấu

Trang 9

tranh phòng chống các tội này ở Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế, Đề

tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008

- Tham nhũng ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của

Thái Thị Thu Hương, Tạp chí Cộng sản, số 4/2013

Các công trình trên chủ yếu quan tâm nghiên cứu tới tội phạm tham nhũng nói chung Số lượng công trình nghiên cứu tội phạm tham ô tài sản dưới góc độ toàn diện còn hạn chế Cho tới nay, chưa có công trình nào ở cấp

độ thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh đối với tội phạm tham ô tài sản để hoàn thiện hơn nữa quy định của Bộ luật hình sự về các tội này khi quy định

về vấn đề định tội danh, quyết định hình phạt và thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động này trong thực tiễn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Nghiên cứu các quy định cụ thể của Bộ luật hình sự về dấu hiệu định tội và các căn cứ quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản được quy định tại Mục A, chương XXI Bộ luật hình sự

- Đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm tham ô tài sản

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự quy định về dấu hiệu định tội và vấn đề quyết định hình phạt đối với các tội phạm tham ô tài sản, cũng như nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản trong thực tiễn

Trang 10

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tài được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và tác giả sẽ nghiên cứu trong phạm vi Bộ luật hình sự năm 1999 cũng như qua các số liệu giải quyết vụ án hình sự từ năm 2010 đến năm 2014 để phân tích, tìm ra những vấn đề lý luận và thực tiễn, những hạn chế, tồn tại liên quan đến định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản để kiến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm này

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, về chính sách hình sự

- Luận văn được tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp và phương pháp thống kê tình hình thực tiễn, áp dụng định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đánh giá tình hình và từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng quy định về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản

5 Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu

về vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về các quy định liên quan đến định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề chung về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, phân tích cụ thể các căn cứ

Trang 11

pháp lý của định tội danh và quyết định hình phạt đối với tôi tham ô tài sản dựa trên kết quả công tác giải quyết vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng trong những năm gần đây để đánh giá tồn tại, hạn chế của việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, từ đó tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế này để có giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn

Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu học tập và trong thực tiễn giải quyết vụ án tham ô tài sản

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về định tội danh và quyết định hình

phạt đối với tội tham ô tài sản

Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội

tham ô tài sản

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết

định hình phạt đối với tội tham ô tài sản

Trang 12

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH

VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI

THAM Ô TÀI SẢN

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh đối với tội tham ô tài sản

1.1.1.1 Khái niệm định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, để có thể xác định được tội phạm cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự đúng pháp luật người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải thực hiện hoạt động định tội danh Định tội danh đúng chính là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như cá thể hóa hình phạt có căn cứ và đúng pháp luật

Trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành không quy định cụ thể về định tội danh mà định tội danh được xem là một khái niệm của khoa học hình

sự Việt Nam Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm định tội danh đã được đưa ra, cụ thể:

Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm thì:

Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn

áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và, được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu,

so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu

Trang 13

của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định, hay nói cách khác là nhằm đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm

về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [7, tr 33]

Còn theo quan điểm của TS Dương Tuyết Miên:

Định tội danh là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người

có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã được thực hiện [20, tr 7]

ThS Đoàn Tất Minh cũng đưa ra quan điểm của mình về khái niệm định tội danh như sau:

Định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong

tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả (quy định) trong Luật hình sự để giải quyết án hình

sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật [22, tr 10] Các tác giả trên đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm định tội danh Tuy nhiên, nhìn chung các quan điểm trên đều thể hiện: định tội danh là quá trình áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, được tiến hành bởi các cơ quan tư pháp hình sự và một số cơ quan khác có thẩm quyền và việc định tội danh phải được thực hiện trên cơ sở các quy định của luật hình sự

Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm

như sau: Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp

Trang 14

luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực

tế của vụ án hình sự để nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể

đã được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự, từ đó xác định người đã thực hiện hành vi đó có phải là tội phạm hay không, và nếu có thì theo điều luật nào của Bộ luật hình sự

Đối với tội tham ô tài sản là một loại tội phạm cụ thể được quy định tại Điều 278 - Mục A "Các tội phạm về tham nhũng" - Chương XXI "Các tội phạm về chức vụ" Bộ luật hình sự năm 1999 Cụ thể, Khoản 1 Điều 278 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A chương này, nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm [28] Như vậy, tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lí có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội được quy định tại Mục A Chương Các tội phạm về chức vụ Bộ luật hình sự năm 1999, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Chủ thể của tội phạm này

là những người có chức vụ, quyền hạn, vì những lợi ích khác nhau đã lợi dụng

Trang 15

chức vụ, quyền hạn mà mình có để chiếm đoạt tài sản, qua đó xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức cũng như gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Từ cơ sở lý luận cũng như các quy định của Bộ luật hình sự có thể thấy định tội danh đối với tội tham ô tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng quy phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự Đây

là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả tại Điều 278 Bộ luật hình sự, tức là trên cơ sở các chứng cứ tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự cụ thể, các chủ thể có thẩm quyền xem xét, kiểm tra xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có thỏa mãn các dấu hiệu tương ứng của cấu thành tội phạm tội tham ô tài sản đã được quy định trong luật hình sự hay không, để trên cơ sở đó xác định vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Vậy tác giả đưa ra khái niệm như sau: Định tội danh đối với tội tham ô tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể đã được quy định trong Điều 278

Bộ luật hình sự, từ đó xác định người đã thực hiện hành vi đó có phạm tội tham ô tài sản hay không

1.1.1.2 Đặc điểm định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Từ nội dung của khái niệm và định nghĩa về định tội danh đối với tội

Trang 16

tham ô tài sản trên đây có thể thấy định tội danh đối với loại tội phạm này có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, định tội danh đối với tội tham ô tài sản là một quá trình

nhận thức lý luận có tính logic được thể hiện dưới hai khía cạnh: xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể do Điều 278 Bộ luật hình

sự quy định hay không Trên cơ sở đó, đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể xảy ra trong thực tế khách quan Về nguyên tắc, chỉ khi đối chiếu và nhận thấy sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi đã được thực hiện trong thực tiễn với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm với nhau thì mới có thể kết luận tội phạm

do người nào đó thực hiện có phải là tội tham ô tài sản được quy định tại Điều

278 Bộ luật hình sự hay không và từ đó có cơ sở để buộc người đó chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội tham ô tài sản mà họ đã thực hiện Tuy nhiên, trong thực tiễn định tội danh, cần phải nhận thức được rằng thực tiễn cuộc sống xảy ra rất sinh động và phong phú mà pháp luật không thể phản ánh hết từng trường hợp cụ thể được mà các quy phạm pháp luật mang tính phổ quát

Do vậy, trong quá trình thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật để định tội danh rất cần sự nhận thức đúng đắn, tư duy khoa học cũng như việc nắm vững tinh thần pháp luật của các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử

Thứ hai, định tội danh là một trong những dạng của hoạt động thực

tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được tiến hành bởi các cơ quan tư pháp hình sự - các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Đóng vai trò chính trong hoạt động định tội danh là các cơ quan tư pháp hình sự, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Các cơ quan này trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đã áp

Trang 17

dụng các quy định của pháp luật hình sự vào thực tế đời sống, tức là lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào đó đã được thực hiện trong thực tế Và từ đó, đưa

ra kết luận là hành được xem xét ấy có đủ các dấu hiệu của tội tham ô tài sản được quy định trong pháp luật hình sự thực định hay không [7, tr 34] Như vậy, chủ thể của hoạt động định tội danh đối với tội tham ô tài sản chính là các cơ quan tư pháp hình sự gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và một số cơ quan khác có thẩm quyền Các chủ thể này dựa trên các quy định pháp luật hình sự tiến hành việc định tội danh đối với tội phạm tham ô tài sản theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự, trên

cơ sở đó định tội danh đúng để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội

Thứ ba, định tội danh đối với tội tham ô tài sản được thực hiện trên cơ

sở áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự; đồng thời căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự

Khi tiến hành định tội danh, dù ở bất kì giai đoạn tố tụng nào, các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ đầy đủ, chính xác các quy định của cả luật hình sự (luật về nội dung) và luật tố tụng hình sự (luật về hình thức) Bởi lẽ định tội danh là hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các tình tiết thuộc về hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự và hoạt động đó được tiến hành trên cơ sở trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Không chỉ vậy, đối với từng vụ án cụ thể khác nhau, các chủ thể định tội danh còn phải căn cứ vào từng đặc điểm, tình tiết của từng vụ

án đó để có thể tiến hành định tội danh đúng

Thứ tư, định tội danh đối với tội tham ô tài sản với tính chất là một

dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành về cơ bản theo bốn bước:

Trang 18

- Xem xét và thiết lập đúng các tình tiết thực tế của vụ án trong sự phù hợp với hiện thực khách quan;

- Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự đang có hiệu lực thi hành đặc biệt là quy phạm pháp luật hình sự về tội tham ô tài sản quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự;

- So sánh, đối chiếu và kiểm tra các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội tham ô tài sản quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự

- Sau khi đã so sánh, đối chiếu và kiểm tra đầy đủ, chính xác, ra một văn bản áp dụng pháp luật mà trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự phù hợp của hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành tội phạm tham ô tài sản được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.1.1.3 Phân loại định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Căn cứ vào các chủ thể tương ứng thực hiện việc định tội danh, khoa học luật hình sự phân chia định tội danh làm hai dạng: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức [7, tr 35] Trên cơ sở đó, đối với tội tham ô tài sản có thể phân chia thành hai dạng định tội danh tương ứng là định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức

* Định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được nhà nước ủy quyền thực hiện [7, tr 35] Định tội danh chính thức đối với tội tham

ô tài sản có những đặc điểm sau:

- Các chủ thể định tội danh chính thức đối với tội tham ô tài sản phải là những người có thẩm quyền trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ

án hình sự cụ thể, đó là, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân và hội thẩm quân nhân [7, tr 35] Từng chủ thể trên sẽ tiến hành

Trang 19

định tội danh đối với tội tham ô tài sản trong các giai đoạn tố tụng khác nhau và tùy theo thẩm quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm được quy định trong

ra bản án kết tội

- Nếu người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì căn cứ vào Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, chỉ có tội danh cuối cùng trong bản án của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật mới được coi là tội danh chính thức mà người phạm tội

đã thực hiện [7, tr 36] Trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự, các chủ thể có thẩm quyền trong từng giai đoạn tiến hành hoạt động định tội danh và đây đều được coi là hoạt động định tội danh chính thức Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là đối tượng phải gánh chịu hậu quả của hoạt động định tội danh đó là người phạm tội tham ô tài sản Điều 9 Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 quy định: "không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [29] Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định "Người bị buộc tội được coi là không

có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết

tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [34] Như vậy, chỉ có trên cơ sở quá

Trang 20

trình xét xử công khai tại tòa, Tòa án ra bản án kết tội một người phạm tội tham ô tài sản và bản án đó có hiệu lực pháp luật thì người đã thực hiện đã thực hiện hành vi phạm tội trong thực tế mới bị coi là tội phạm tham ô tài sản

* Định tội danh không chính thức đối với tội tham ô tài sản là sự đánh giá không phải về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội tham ô tài sản cụ thể mà là sự đánh giá về hành vi phạm tội do các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, tác giả bài báo, tạp chí, công trình khoa học, sinh viên, học viên hay bất kì một người nào đó qua tâm nghiên cứu Định tội danh không chính thức đối với tội tham ô tài sản có những đặc điểm sau đây:

- Các chủ thể tiến hành định tội danh không chính thức đối với tội tham ô tài sản không nhất thiết phải là những người nhất định nào, họ không phải là những chủ thể có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng mà

có thể là bất kì ai, nhưng thông thường là các luật gia trong lĩnh vực tư pháp hình sự, cá tác giả của các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, những người đang quan tâm nghiên cứu luật hình sự

- Hậu quả của hoạt động định tội danh không chính thức đối với tội tham ô tài sản không làm phát sinh quyền hoặc nghĩa vụ trong các quan hệ pháp luật hình sự hay pháp luật tố tụng hình sự của các chủ thể tham gia các quan hệ đó mà chỉ là các quan điểm khoa học hay ý kiến riêng của các cá nhân đó [7, tr 36] Tuy nhiên, hoạt động này vẫn có những ý nghĩa thực tiễn nhất định khi nó là tài liệu tham khảo cho các chủ thể có thẩm quyền khi tiến hành hoạt động định tội danh chính thức, hạn chế thấp nhất các trường hợp định tội danh sai

1.1.1.4 Ý nghĩa của định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Trong quá trình giải quyết vụ án tham ô tài sản, việc định tội danh đối với tội phạm này có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể:

Trang 21

Thứ nhất, định tội danh đối với tội tham ô tài sản đúng là tiền đề cho

việc quyết định hình phạt chính xác, là cơ sở để áp dụng đúng các quy định tố tụng hình sự, đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội, từ đó bảo vệ được quyền hợp pháp và tự do của công dân Chỉ khi xác định đúng người đó đã phạm tội tham ô tài sản, các chủ thể có thẩm quyền mới có thể áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự, thẩm quyền điều tra, thẩm quyền xét xử,…

và bằng cách đó, góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ quyền và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự [7, tr 30]

Thứ hai, định tội danh đối với tội tham ô tài sản đúng thể hiện hoạt

động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật, trình độ chuyên môn của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, góp phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan này

Thứ ba, định tội danh đối với tội tham ô tài sản đúng sẽ giúp cho việc

điều tra, xử lý tội phạm tham ô tài sản có căn cứ, từ đó góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tham ô tài sản nói riêng và tội phạm tham nhũng nói chung Việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản sai

sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt không phù hợp, không tương xứng với tội phạm đã được thực hiện, làm giảm hiệu quả của hình phạt; truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng người đúng tội, thậm chí xâm phạm đến quyền và

tự do của công dân Định tội danh đối với tội tham ô tài sản sai sẽ không đảm bảo được tính có căn cứ của bản án, làm mất lòng tin của nhân dân vào tính đúng đắn và nghiêm minh của bản án từ đó làm giảm uy tín, hiệu lực của các

cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm tham ô tài sản

Trang 22

1.1.2 Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản

1.1.2.1 Những căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Căn cứ pháp lý của việc định tội danh, theo quan điểm của GS.TSKH

Lê Cảm, có thể được hiểu trên hai bình diện rộng và hẹp:

Trên bình diện rộng, thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là

cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm

Trên bình diện hẹp, thì những căn cứ pháp lý của việc định tội danh là chỉ có hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện

là tội phạm [7, tr 38]

Như vậy, theo quan điểm này, xét theo nghĩa hẹp thì chỉ có Bộ luật hình sự là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh, còn theo nghĩa rộng thì còn gồm cả Bộ luật tố tụng hình sự với tư cách là cơ sở pháp lý gián tiếp của việc định tội danh

TS Dương Tuyết Miên đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này như sau:

Hoạt động định tội danh suy cho cùng là việc so sánh, đối chiếu các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của cấu thành tội phạm cơ bản của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự Để có thể tiến hành

Trang 23

được việc định tội danh, nhà làm luật đã xây dựng những mẫu đặc thù riêng cho từng tội cụ thể mà dựa vào đó những người có thẩm quyền tiến hành việc định tội danh phải xác định có hay không có

sự phù hợp giữa các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được thực hiện trên thực tế với một trong những mẫu đặc thù được quy định trong Bộ luật hình sự, từ đó tìm ra tên tội cho hành

vi nguy hiểm đã thực hiện [20, tr 13]

Như vậy, quan điểm này cho rằng cơ sở pháp lý của việc định tội danh chính là các quy định trong Bộ luật hình sự

Trên cơ sở nghiên cứu hai quan điểm về cơ sở pháp lý của việc định tội danh nói chung, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về cơ sở pháp lý của

việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản như sau: Căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản là quy phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội phạm tham ô tài sản

1.1.2.2 Căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Định tội danh là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành

vi nguy hiểm cho xã hội nhất định nào đó đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định tại một quy phạm pháp luật

cụ thể trong Phần vác tội phạm Bộ luật hình sự Nếu hành vi đó thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nào trong Bộ luật hình sự thì hành vi đó được định tội danh theo cấu thành tội phạm đó Như vậy, việc định tội danh phải căn cứ vào cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, hay

có thể nói, cơ sở khoa học của việc định tội danh là cấu thành tội phạm

Theo GS.TSKH Lê Cảm thì cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu

Trang 24

hiệu pháp lý (khách quan và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm [8, tr 339] Cấu thành tội phạm gồm bốn yếu tố chính là các bộ phận hợp thành của cấu trúc trong cấu thành ấy, bao gồm một nhóm các dấu hiệu tương ứng với các phương diện của hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng

kể nhất định

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan

Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định

Mặc chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó (lỗi) [8, tr 343-344]

Từ các yếu tố cấu thành của tội phạm nói chung trên, chúng ta có thể thấy cơ sở khoa học của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản là cấu thành tội phạm tội tham ô tài sản - tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan

và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm tham ô tài sản Cụ thể:

Trang 25

* Chủ thể của tội tham ô tài sản: Tội tham ô tài sản là do người có chức

vụ, quyền hạn thực hiện và người phạm tội đã sử dụng chức vụ, quyền hạn đó của mình để thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, tội tham ô tài sản có chủ thể đặc biệt, hay nói cách khác, ngoài các yếu tố cần và đủ giống như các tội phạm khác như:độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12, Điều 13

Bộ luật hình sự; chủ thể của tội tham ô tài sản còn cần phải là người có chức vụ quyền hạn và có trách nhiệm đối với tài sản mà họ chiếm đoạt Nhưng điều này không có nghĩa là người không có chức vụ, quyền hạn không thể là chủ thể của tội tham ô tài sản bởi người không có chức vụ quyền hạn vẫn có thể là đồng phạm trong các vụ án tham ô tài sản Trong trường hợp đồng phạm, chỉ có người đồng phạm với vai trò là người thực hành đòi hỏi phải là người có chức

vụ, quyền hạn; những người đồng phạm khác trong vai trò người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thì họ không nhất thiết phải có yếu tố này Chủ thể của tội tham ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn quản lý tài sản, do họ đảm nhiệm những chức vụ hoặc chức trách nhất định mà họ được giao tài sản

để thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có thẩm quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đồng thời có trách nhiệm quản lý tài sản đó Trách nhiệm quản

lý tài sản có thể là trách nhiệm quản lý gián tiếp (Thủ trưởng cơ quan, Giám đốc doanh nghiệp, tổ chức), quản lý trên sổ sách chứng từ (kế toán) hoặc trách nhiệm quản lý trực tiếp (thủ kho, thủ quỹ) [13, tr 31]

* Khách thể của tội tham ô tài sản: Tội tham ô tài sản được quy định tại Chương Tội xâm phạm về chức vụ, do đó khách thể tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, của tổ chức Cụ thể ở đây, hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức bị xâm hại thông qua hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản được giao quản lý bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người được giao quản lý tài sản đó Do đó, nói cụ thể hơn, khách thể của tội tham ô tài sản gồm: Hoạt động đúng đắn của cơ quan, của tổ chức trong quá

Trang 26

trình thực hiện các quyền đối với tài sản thuộc sở hữu hoặc sự quản lý của mình và quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức

* Mặt khách quan của tội tham ô tài sản: Tội tham ô tài sản có cấu thành tội phạm hình thức do đó mặt khách quan của tội phạm này được Bộ luật hình sự quy định chỉ bằng các dấu hiệu của hành vi phạm tội, cụ thể là hành vi chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn Việc chiếm đoạt tài sản có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội mà nếu không có chức vụ, quyền hạn đó người phạm tội khó có thể chiếm đoạt được tài sản [25, tr 21] Chủ thể tội phạm đã có hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ chủ sở hữu thành tài sản của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm Đối tượng của hành vi chiếm đoạt là tài sản mà người phạm tội được giao quản

lý Hành vi này đã làm biến dạng, xuyên tạc tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức

Để chiếm đoạt được tài sản này, người phạm tội phải lợi dụng chức

vụ, quyền hạn của mình đối với tài sản Đây là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức năng, quyền hạn của bản thân, cố ý làm trái với nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tài sản có liên quan trực tiếp đến chức vụ quyền hạn của họ Điều đó có nghĩa là tội phạm tham ô tài sản bao giờ cũng được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với chức vụ, quyền hạn của người

có chức vụ quyền hạn đó Chính nhờ có chức vụ, quyền hạn mà họ đã có điều kiện, thuận lợi để dễ dàng chiếm đoạt tài sản Hay nói cách khác, trong mặt khách quan của tội phạm tham ô tài sản nhất thiết phải có dấu hiệu bắt buộc là lợi dụng chức vụ quyền hạn

Để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản, hành vi chiếm đoạt phải đối với tài sản có giá trị từ 2.000.000 (hai triệu đồng) đồng trở lên, còn nếu dưới hai triệu đồng thì phải có thêm một trong các điều kiện sau:

Trang 27

+ Gây hậu quả nghiêm trọng: hậu quả nghiêm trọng trong trường hợp này không phải là thiệt hại tài sản do người phạm tội chiếm đoạt mà có thể là những thiệt hại về vật chất hay tinh thần khác cho Nhà nước, tổ chức hay cá nhân như làm đình đốn hoạt động của tổ chức doanh nghiệp,…;

+ Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm: là trường hợp người tham ô tài sản đã từng bị áp dụng một trong các hình thức xử lý kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định trong Điều lệ của tổ chức về hành vi tham ô tài sản;

+ Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI

Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm: là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về một trong các tội nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, lạm quyền trong khi thi hành công vụ, lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi và tội giả mạo trong công tác, chưa được xóa án tích mà còn thực hiện hành vi tham ô tài sản

* Mặt chủ quan của tội phạm: Tội tham ô tài sản là tội phạm có tính chất chiếm đoạt, nên cũng giống như các tội phạm mang tính chất chiếm đoạt khác,người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp), tức là, người phạm tội nhận thức rõ tính chất trái pháp luật hình sự của hành

vi mà mình thực hiện, thấy trước khả năng gây nên hoặc tính tất yếu gây nên hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra Động cơ phạm tội của tội phạm tham ô tài sản là vì vụ lợi Động cơ vụ lợi đó được thể hiện trong việc người chủ thể của tội phạm thực hiện tội phạm vì lợi ích vật chất, bằng mọi cách để thu lợi bất chính cho bản thân Mục đích của người phạm tội làm chiếm đoạt được tài sản, mang lại lợi ích vật chất cho bản thân, người tội phạm quan tâm

Trang 28

1.2 KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC, CĂN CỨ CỦA QUYẾT ĐỊNH

HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN

1.2.1 Khái niệm quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản

Sau khi Tòa án xác định một hành vi phạm tội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội tham ô tài sản, Tòa án sẽ xác định biện pháp xử lý hình sự phù hợp đối với người phạm tội Định tội danh đối với tội tham ô tài sản là tiền đề, là cơ sở cho việc quyết định hình phạt đối với tội phạm này và quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét

xử của Tòa án sau khi đã xác định xong tội danh Cùng với định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản đúng có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự cũng như truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội

Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử lý tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện Nội dung của hoạt động quyết định hình phạt có thể là miễn trách nhiệm hình sự hoặc có thể

là miễn hình phạt (trường hợp này, hoạt động quyết định hình phạt chấm dứt ở đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì hoạt động quyết định hình phạt bao gồm việc xác định khung hình phạt và việc xác định hình phạt cụ thể trong phạm vi luật cho phép đối với bị cáo [20, tr 74]

Quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản là hoạt động thực tiễn của Tòa án nhằm lựa chọn khung hình phạt, mức và loại hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thực hiện Nếu Tòa án xét thấy người phạm tội tham ô tài sản có đủ các yếu tố để miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt theo quy định tương ứng của

Trang 29

Bộ luật hình sự thì có thể tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội Còn trong trường hợp người phạm tội tham ô tài sản không được miễn trách nhiệm hình sự hay hình phạt, thì Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung hình phạt nào trong bốn khung hình phạt của tội tham ô tài sản cũng như lựa chọn mức và loại hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự Khi quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, Tòa án phải tuân thủ các quy định chung

về quyết định hình phạt, nguyên tắc quyết định hình phạt và cụ thể là những quy định về khung, loại và mức hình phạt khác nhau được quy định tại Điều

278 Bộ luật hình sự

Như vậy, tác giả đưa ra khái niệm quyết định hình phạt đối với tội

tham ô tài sản như sau: Quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản là hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) sau khi đã xác định được bị cáo phạm tội tham ô tài sản nhằm định ra biện pháp xử lý tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luật hình sự

1.2.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản

Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án căn cứ vào đó quyết định hình phạt một cách công bằng, hợp lý, đúng pháp luật, đảm bảo mục đích của hình phạt đối với người phạm tội tham ô tài sản

Cụ thể, quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản phải dựa trên bốn nguyên tắc: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt

Trang 30

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc này đòi hỏi sự

tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức

và mọi công dân trong hoạt động của mình, có nghĩa là khi quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của luật hình sự có liên quan đến hình phạt và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện trước hết ở việc Tòa án chỉ được lựa chọn một hình phạt chính đối với người phạm tội trong số các hình phạt chính được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự, đó là: tù có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình Tức là sau khi đã xác định xong người bị kết

án phạm tội tham ô tài sản và xác định được khung hình phạt đối với người đó (một trong bốn khung hình phạt quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự), Tòa

án phải lựa chọn một hình phạt cụ thể với mức độ cụ thể trong giới hạn của khung hình phạt quy định Ngoài ra, Tòa án cũng có thể áp dụng kèm theo hình phạt chính đó các hình phạt bổ sung được quy định tại Khoản 5 Điều 278

Bộ luật hình sự Tòa án chỉ được lựa chọn trong các hình phạt chính và hình phạt bổ sung tại Điều 278 Bộ luật hình sự để áp dụng đối với tội phạm tham ô tài sản Khi quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, Tòa án phải tuân thủ triệt để quy định về mục đích hình phạt được quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự và các quy định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng các loại hình phạt cũng như các quy định về căn cứ quyết định hình phạt,…

Nguyên tắc nhân đạo: Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình

phạt đối với tội tham ô tài sản được thể hiện trong các quy định Phần chung

và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1999 Thực hiện nguyên tắc nhân đạo khi quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản đòi hỏi khi quyết định hình phạt, Tòa án phải đặt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội lên hàng đầu, cân nhắc đến những đặc điểm nhân thân của người phạm tội như: bị cáo là người có nhiều thành tích trong sản xuất, công tác, chiến đấu, bị cáo là thương

Trang 31

binh,… cũng như các đặc điểm về tâm sinh lý của họ để áp dụng các quy định của luật hình sự về hình phạt và quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc, đánh giá một cách hài hòa, hợp lý lợi ích nhà nước, xã hội và người phạm tội

Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự: Nội dung nguyên tắc này

khi quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản được thể hiện trong cả luật hình sự cũng như trong thực tiễn áp dụng luật hình sự Trong luật hình sự, nguyên tắc này thể hiện trong quy định về nguyên tắc xử lý tội phạm tại Điều

3 Bộ luật hình sự Cùng với đó, trong quy định về tội tham ô tài sản tại Điều

278 Bộ luật hình sự, nhà làm luật cũng chia tội phạm thành các khung hình phạt khác nhau, tương ứng với mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội khác nhau của tội phạm Phần chế tài đối với tội tham ô tài sản cũng là chế tài lựa chọn, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc lựa chọn loại và mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong áp dụng pháp luật hình sự, nguyên tắc cá thể hóa trong quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản để từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn mức và loại hình phạt phù hợp với người phạm tội

Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình

phạt đối với tội tham ô tài sản được thể hiện trong việc nhà làm luật quy định bốn khoản khác nhau tại Điều 278 Bộ luật hình sự với các loại và mức hình phạt khác nhau, cho thấy các hành vi khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm thì mức độ xử lý cũng khác nhau, nếu tội phạm càng nguy hiểm thì hình phạt được quy định càng nghiêm khắc, lần lượt từ tù có thời hạn cho tới tử hình Thêm nữa, trong mỗi khung hình phạt, nhà làm luật lại quy định chế tài lựa chọn để Tòa án tùy từng trường hợp cụ thể quyết định một mức hình phạt thực sự công bằng với hành vi phạm tội của bị cáo Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, Tòa án khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội tham ô tài

Trang 32

sản phải căn cứ vào tội phạm đã thực hiện, các tình tiết của từng trường hợp phạm tội cụ thể cũng như áp dụng thống nhất các quy định trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,…, không phân biệt giới tính, dân tộc, địa vị kinh tế, tôn giáo,… của người phạm tội

Như vậy, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội tham ô tài sản, Tòa án cần phải tuân thủ đầy đủ bốn nguyên tắc trên với tính chất là những tư tưởng, định hướng cho hoạt động của Tòa án để quyết định hình phạt đúng đắn đối với người phạm tội

1.2.3 Căn cứ quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản

Khi quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản, Tòa án dựa trên các cơ sở pháp lý nhất định nhằm đảm bảo hình phạt được tuyên đạt được mục đích của hình phạt Các căn cứ đó là: các quy định của Bộ luật hình sự, tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

* Các quy định của Bộ luật hình sự: Khi quyết định hình phạt đối với

tội tham ô tài sản, trước hết Tòa án phải dựa vào các quy định chung về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự như: quy định về nguyên tắc xử lý, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tái phạm…, sau đó là các quy định cụ thể về khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự Chỉ khi nào xác định được khung hình phạt đối với người phạm tội thuộc khung nào trong bốn khung quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự, Tòa án mới lựa chọn được mức hình phạt chính xác Ở mỗi khung hình phạt của tội tham ô tài sản, nhà làm luật đều quy định rõ loại và mức hình phạt cụ thể mà dựa vào đó Tòa án chỉ được lựa chọn loại và mức hình phạt theo từng khung tương ứng Các hình phạt bổ sung được áp dụng cũng phải được lựa chọn trong giới hạn được quy định tại Khoản 5 Điều 278

Bộ luật hình sự

Trang 33

- Quy định về dấu hiệu định khung của tội tham ô tài sản:

+ Có tổ chức: tham ô tài sản có tổ chức là trường hợp phạm tội tham ô

có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Người đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm có thể đóng vai trò là người tổ chức, người thực hành, người giúp sức hay người xúi giục Lẽ dĩ nhiên là không phải trường hợp nào cũng có đủ tất cả những loại người đồng phạm cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm như trên nhưng nhất thiết trong mọi trường hợp phải có người thực hành và người tổ chức nếu người phạm tội có tình tiết tăng nặng định khung này, trong đó người thực hành phải là người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trực tiếp chiếm đoạt tài sản mà mình

có trách nhiệm quản lý Sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia tội phạm làm cho mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên nhiều

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm: Là trường hợp người phạm tội

sử dụng mánh khóe tinh vi, cách thức phạm tội có tính gian dối cao cũng như tiềm ẩn gây ra những thiệt hại lớn cho các lợi ích hợp pháp được nhà nước bảo vệ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm cũng như che giấu tội phạm, gây khó khăn cho việc phát hiện và quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm

+ Phạm tội nhiều lần: tham ô tài sản nhiều lần là có từ hai lần tham ô

tài sản trở lên mà mỗi lần đều có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội tham ô tài sản và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời người phạm tội vẫn chưa bị xét xử hoặc xử lý bằng các hình thức khác (xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính) Trong trường hợp này, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên: Đây là

trường hợp mà giá trị tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt là từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm

Trang 34

trăm triệu đồng hoặc trên năm trăm triệu đồng Tương ứng với ba mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt này, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình

sự theo Khoản 2, Khoản 3 hoặc Khoản 4 Điều 278 Bộ luật hình sự

+ Tham ô tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác: Các mức độ hậu quả này không phải là dấu hiệu

định tội đối với người phạm tội Đây là sự thiệt hại cụ thể nhất định và đáng

kể về vật chất hoặc tinh thần cho các lợi ích hợp pháp của nhà nước, xã hội hoặc công dân Trong trường hợp hậu quả nghiêm trọng khác, hậu quả rất nghiêm trọng khác hay hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác là thiệt hại về tài sản thì việc xác định thiệt hại không căn cứ vào giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt (bởi giá trị tài sản bị chiếm đoạt đã quy định thành tình tiết định khung riêng biệt) mà phải dựa vào thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt [21, tr 68] Đối với trường hợp "Gây hậu quả nghiêm trọng khác" được quy định tại Khoản 2 Điều 278 thì hậu quả nghiêm trọng là

do hành vi tham ô tài sản có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, còn nếu dưới hai triệu đồng thì thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Các hậu quả đó còn có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hay là gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, an toàn xã hội hay các lợi ích hợp pháp khác của nhà nước, tổ chức và công dân Các thiệt hại được xem xét trong các trường hợp này có thể là những thiệt hại gián tiếp do việc phạm tội gây ra như: do tham ô tiền chi trả cho các đối tượng chính sách xã hội gây ra bức xúc, bất bình, mất ổn định trật tự xã hội… Trong thực tiễn điều tra, truy

tố, xét xử, để đánh giá được hậu quả do tội phạm gây ra thuộc trường hợp là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng khác thì các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng cần phải xem xét toàn diện các thiệt hại về cả vật chất và tinh thần của tội phạm tham ô tài sản trong từng trường hợp cụ thể, bởi tương ứng với các thiệt hại đó, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo ba khung hình phạt khác nhau [21, tr 69]

Trang 35

- Quy định về hình phạt áp dụng đối với tội tham ô tài sản:

Điều 278 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định bốn khung hình phạt đối với tội tham ô tài sản với các quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, khung cơ bản được quy định tại Khoản 1 Điều 278 quy định

hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng đối với các trường hợp phạm tội không có các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt

Thứ hai, khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại Khoản 2 Điều

278 với mức hình phạt được quy định là hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết sau: Có tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; Phạm tội nhiều lần; Chiếm đoạt tài sản có gí trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng khác

Thứ ba, khung tăng nặng thứ hai được quy định tại Khoản 3 Điều 278

có mức phạt tù từ mười lăm năm tù đến hai mươi năm được áp dụng cho những trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác

Thứ tư, khung tăng nặng thứ ba được quy định tại Khoản 4 Điều 278

có mức phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình được áp dụng đối với những trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác

Cũng tại Khoản 4 Điều 278, nhà làm luật quy định khung hình phạt này có ba mức phạt khác nhau là phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, do đó để áp dụng thống nhất pháp luật, ngày 15/3/2001, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của các Điều 139, 193, 194, 278, 279 và Điều 289 Bộ luật hình sự về nội dung này như sau [38]:

Trang 36

Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt như sau:

- Xử phạt hai mươi năm tù nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ;

- Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ một tỷ đồng đến dưới ba tỷ đồng;

- Xử phạt tử hình nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ ba tỷ đồng trở lên

Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn, đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nhẹ hơn mức án được hướng dẫn trên, cụ thể như sau:

- Xử phạt tù từ mười lăm năm đến dưới hai mươi năm nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng (trường hợp này phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự);

- Xử phạt hai mươi năm tù nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ một

Trang 37

người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nặng hơn mức án được hướng dẫn trên, cụ thể như sau:

- Xử phạt tù chung thân nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;

- Xử phạt tử hình nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ một tỷ đồng trở lên

Trong trường hợp theo hướng dẫn trên thì người phạm tội phải bị xử phạt tử hình, nhưng người phạm tội đã bồi thường được một phần đáng kể giá trị tài sản bị chiếm đoạt (hoặc người thân thích, ruột thịt của người phạm tội

đã bồi thường thay cho người phạm tội) thì có thể không xử phạt tử hình người phạm tội và tùy vào số tiền đã bồi thường được mà có thể xử phạt người phạm tội tù chung thân hoặc tù có thời hạn

Được coi là đã bồi thường được một phần đáng kể giá trị tài sản bị chiếm đoạt nếu:

- Đã bồi thường được ít nhất một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt;

- Đã bồi thường được từ một phần ba đến dưới một phần hai giá trị tài sản bị chiếm đoạt, nếu có căn cứ chứng minh rằng người phạm tội (hoặc người thân thích, ruột thịt của người phạm tội) đã thực hiện mọi biện pháp

để bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt (đã bán hết nhà ở, tài sản có giá trị;

cố gắng vay, mượn đến mức tối đa)

Thứ năm, ngoài các hình phạt chính nêu trên, người phạm tội tham ô

tài sản còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung sau: bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

* Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Để

thấy được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong tội tham ô tài sản, trước hết Tòa án cần xem xét đến hậu quả đã gây ra hoặc

Trang 38

đe dọa gây ra Đối với tội tham ô tài sản, tính chất và mức độ hậu quả của tội phạm được thể hiện ở mức độ ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức thông qua thiệt hại cụ thể về tài sản hay các hậu quả nghiêm trọng khác Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với tội tham ô tài sản còn thể hiện ở phương pháp, thủ đoạn phạm tội mà người phạm tội đã sử dụng

* Nhân thân người phạm tội tham ô tài sản: Cũng như khi quyết định

hình phạt đối với các tội phạm khác, để lựa chọn được loại và mức hình phạt phù hợp với tội phạm tham ô tài sản, Tòa án cần cân nhắc những đặc điểm về nhân thân người phạm tội tham ô tài sản có ảnh hưởng đến khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ Tòa án có thể căn

cứ vào các tình tiết thuộc về nhân thân đã được quy định rõ trong luật cũng như các tình tiết khác tuy chưa được ghi nhận trong Bộ luật hình sự nhưng khi xét về chính sách hình sự, Tòa án vẫn cần cân nhắc đến

* Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong từng

vụ án tham ô tài sản khác nhau, Tòa án xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự phù hợp với từng người phạm tội cụ thể Căn cứ vào các tình tiết này, Tòa án không chỉ đánh giá đúng được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội tham

ô tài sản để lựa chọn hình phạt phù hợp mà còn đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng các tình tiết đó trong phạm vi cả nước, qua đó làm cho công dân thấy rõ được sự quyết tâm, nghiêm trị trong chính sách của nhà nước đối với tội phạm tham ô tài sản để từ đó tích cực tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự được xem xét ở đây không phải là các tình tiết định tội hay định khung đối với tội tham ô tài sản đã được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự

Trang 39

1.3 NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO CHO VIỆC ĐỊNH TỘI DANH

VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN

Định tội danh và quyết định hình phạt là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó, để việc định tội danh và quyết định hình phạt hiệu quả, đúng pháp luật, cần phải có những yếu tố đảm bảo như năng lực chuyên môn của người định tội danh, quyết định hình phạt (người có thẩm quyền trong việc giải quyết các vụ án tham ô tài sản - Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán), đạo đức nghề nghiệp của người định tội danh và quyết định hình phạt cũng như sự hiện diện của một hệ thống pháp luật về tội phạm tham ô tài sản hoàn chỉnh

1.3.1 Hệ thống pháp luật hình sự

Để đảm bảo việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài sản đúng không thể thiếu một hệ thống pháp luật hình sự quy định về các vấn đề liên quan đến tội tham ô tài sản Chỉ trên cơ sở các quy phạm pháp luật hình sự đầy đủ, cụ thể và phù hợp, các Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán mới có căn cứ vững chắc để xác định tội đúng, lựa chọn hình phạt phù hợp với tội phạm tham ô tài sản cũng như phát huy được hết khả năng chuyên môn của bản thân để giải quyết vụ án nhanh chóng, đúng pháp luật

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X ngày 21/12/1999 Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình sự năm 1999 và sau đó là các văn bản hướng dẫn kèm theo, đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2000 Tội danh "Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa" quy định tại Điều 133, Chương "Các tội xâm phạm sở hữu" Bộ luật hình sự năm 1985 được thay bằng tội tham ô tài sản thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng quy định tại Điều 278, Chương "Các tội phạm về chức vụ" Bộ luật hình sự năm

1999 đã làm cho phạm vi áp dụng cũng như các dấu hiệu cấu thành tội phạm

Trang 40

này thay đổi Mức định lượng tài sản quy định là yếu tố định tội, một số các tình tiết định khung khác cũng như chức vụ quyền hạn của chủ thể tội tham ô, phạm vi tài sản bị chiếm đoạt,… đã được thay đổi cho phù hợp với thực tiễn xét xử, đáp ứng được những đòi hỏi của chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới, góp phần hữu hiệu vào công cuộc đấu tranh với loại tội phạm này

Có thể nói, các quy định về tội phạm tham ô tài sản trong Bộ luật hình sự

1999 có những bước tiến về trình độ lập pháp so với Bộ luật hình sự năm

1985, các qui định trở nên phù hợp hơn với thực tiễn

Đến Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009, cũng có những thay đổi nhất định Mức tài sản định lượng quy định là yếu tố định tội quy định tại khoản 1 Điều luật đã được nâng lên từ mức năm trăm nghìn đồng lên hai triệu đồng Mức quy định năm trăm nghìn đồng được quy định trong tình hình hiện nay đã không còn phù hợp nữa, giá trị này chưa phản ánh được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Do đó, việc nâng mức định lượng tài sản tối thiểu để xác định tội tham ô tài sản như trong Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 là phù hợp

Tuy nhiên hiện nay, các văn bản hướng dẫn đối với tội phạm tham ô tài sản còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn giải quyết án, đặc biệt là từ khi có Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, nhiều quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 còn chung chung, chưa cụ thể gây ra những cách hiểu không thống nhất, khó khăn trong việc áp dụng pháp luật Do đó, vẫn cần những sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn phù hợp của pháp luật về tội phạm này

1.3.2 Đạo đức nghề nghiệp của chủ thể định tội danh, quyết định hình phạt

Theo Pháp lệnh tổ chức điều tra án hình sự năm 2009, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Pháp lệnh Thẩm

Ngày đăng: 17/03/2021, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm