https tailieuluatkinhte com Câu hỏi ôn tập môn lý luận định tội danh và quyết định hình phạt (Lý thuyết và tình huống) – Luật hình sự 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH.Câu hỏi ôn tập môn lý luận định tội danh và quyết định hình phạt (Lý thuyết và tình huống) – Luật hình sự 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH ĐỊNH TỘI DANH ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ. CẠNH TRANH QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT 1. Định tội danh có bao nhiêu loại? 2. Định tội danh có ý nghĩa như thế nào? 3. Lý luận định tội danh có vị trí như thế nào trong hệ thống lý luận khoa học Luật hình sự? 4. Bộ luật hình sự có ý nghĩa như thế nào đối với định tội danh? 5. Khi định tội danh, các quy phạm pháp luật hình sự nào được áp dụng? 6. Định tội danh dựa vào mô hình pháp lý như thế nào? 7. Các giai đoạn của quá trình định tội danh là gì? 8. Phân tích định tội danh theo khách thể của tội phạm. 9. Phân tích định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm. 10. Phân tích định tội danh theo chủ thể của tội phạm. 11. Phân tích định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 1. Phân tích các nguyên tắc quyết định hình phạt. 2. Phân tích các căn cứ quyết định hình phạt 3. Quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt được tiến hành như thế nào? Nội dung môn học Chương I: Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh Chương II: Cơ sở pháp lý và các giai đoạn của quá trình định tội danh Chương III: Định tội danh theo yếu tố của cấu thành tội phạm Chương IV: Định tội danh hành vi phạm tội chưa hoàn thành Chương V: Cạnh tranh quy phạm pháp luật và định tội danh Chương VI: Định tội danh trong trường hợp có nhiều tội phạm Chương VII: Lý luận chung về quyết định hình phạt
Trang 1Câu hỏi ôn tập môn lý luận định tội danh và quyết định hình phạt (Lý thuyết
1. Định tội danh có bao nhiêu loại?
2. Định tội danh có ý nghĩa như thế nào?
3. Lý luận định tội danh có vị trí như thế nào trong hệ thống lý luận khoa họcLuật hình sự?
4. Bộ luật hình sự có ý nghĩa như thế nào đối với định tội danh?
5. Khi định tội danh, các quy phạm pháp luật hình sự nào được áp dụng?
6. Định tội danh dựa vào mô hình pháp lý như thế nào?
7. Các giai đoạn của quá trình định tội danh là gì?
8. Phân tích định tội danh theo khách thể của tội phạm
9. Phân tích định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm
10.Phân tích định tội danh theo chủ thể của tội phạm
11.Phân tích định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
1. Phân tích các nguyên tắc quyết định hình phạt
2. Phân tích các căn cứ quyết định hình phạt
3. Quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt được tiến hành nhưthế nào?
Nội dung môn học
Chương I: Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh
Chương II: Cơ sở pháp lý và các giai đoạn của quá trình định tội danh
Chương III: Định tội danh theo yếu tố của cấu thành tội phạm
Chương IV: Định tội danh hành vi phạm tội chưa hoàn thành
Chương V: Cạnh tranh quy phạm pháp luật và định tội danh
Chương VI: Định tội danh trong trường hợp có nhiều tội phạm
Chương VII: Lý luận chung về quyết định hình phạt
Chương I: Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh
I Khái niệm định tội danh
Trang 2Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác
giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã thực hiện với dấu hiệu của cấuthành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS)
II Đặc điểm của định tội danh
– Định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự bao gồm việc tiến hành đồng thời 3 quá trình:
Xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế vụ án;
Nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS;
Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để đối chiếu chính xác, đầy đủcác dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với cáctình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế
– Quá trình định tội danh bao gồm 3 giai đoạn cơ bản:
Làm sáng tỏ những dấu hiệu chung đặc trưng nhất của hành vi
Làm sáng tỏ hành vi phạm tội đó thuộc loại tội phạm nào và được quy định ởchương nào của BLHS
Chỉ rõ cấu thành tội phạm về tội cụ thể nào được áp dụng
III Phân loại định tội danh
Căn cứ vào chủ thể thực hiện việc định tội danh, khoa học luật hình sự chia địnhtội danh thành 2 nhóm:
a Định tội danh chính thức
Định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình
sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước uỷ quyền thựchiện Định tội danh chính thức có các đặc điểm sau:
Về chủ thể của định tội danh chính thức: Chỉ có thể là người tiến hành tố
tụng Bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
Về hậu quả pháp lý của định tội danh chính thức: Những đánh giá, những kết
luận của chủ thể của định tội danh chính thức là cơ sở pháp lý để khởi tố vụ
án, để áp dụng các biện pháp ngăn chặn Là cơ sở để ra bản kết luận điềutra, bản cáo trạng và ra bản án
b Định tội danh không chính thức
Định tội danh không chính thức là sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước
tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể Định tội danh khôngchính thức có các đặc điểm sau:
Trang 3 Về chủ thể của định tội danh không chính thức: Là ngoài nhóm chủ thể của
định tội danh chính thức Thông thường chủ thể của định tội danh khôngchính thức là những người làm công tác nghiên cứu thể hiện trong các côngtrình nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách giáo khoa, bài báo Hoặc là luậtgia, luật sư hay bất kỳ người nào quan tâm đến việc nghiên cứu một vụ ánhình sự cụ thể đưa ra những bình luận về vụ án đó về phương diện định tộidanh
Về hậu quả pháp lý của định tội danh không chính thức: Định tội danh không
chính thức không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên có liênquan trong vụ án mà chỉ là sự thể hiện ý kiến, quan điểm riêng của các chủthể này như là sự thể hiện phương pháp nhận thức PLHS
III Một số điều kiện đảm bảo hoạt động định tội danh đúng
Năng lực chuyên môn của người định tội danh
Đạo đức nghề nghiệp của người định tội danh
Hệ thống pháp luật hình sự hoàn chỉnh
IV Mối quan hệ giữa định tội danh và quyết định hình phạt
Định tội danh đúng => Định khung hình phạt đúng => Quyết định hình phạt đúng
V Ý nghĩa của định tội danh
Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo 2 xu hướng: Định tội danhđúng hoặc định tội danh sai
a Đối với hoạt động định tội danh đúng
Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể
hoá hình phạt một cách công minh có căn cứ pháp luật
Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến
bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, tráchnhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắccông minh nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm
Định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạmpháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, về thẩm quyền điều tra, xét xử qua đó gópphần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do dân chủ của công dân tronglĩnh vực tư pháp hình sự
b Đối với hoạt động định tội danh sai
Trang 4Định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảođược tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình
sự người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩmcác quyền tự do dân chủ của công dân là giá trị xã hội cao quý nhất được thừanhận trong Nhà nước
Định tội danh sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN,ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm
Nghị quyết 388/ UBTVQH ban hành ngày 17/03/2003 về bồi thường oan trong tốtụng hình sự Những vụ việc oan sai trong tố tụng hình sự
Những vụ việc oan sai chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ phiến diện,thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam, suy diễn chủ quan
Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Định tội danh có bao nhiêu loại?
2. Định tội danh có ý nghĩa như thế nào?
3. Lý luận định tội danh có vị trí như thế nào trong hệ thống lý luận khoa họcLuật hình sự?
Chương II: Cơ sở pháp lý và các giai đoạn của quá trình định tội danh
I Ý nghĩa của bộ luật hình sự đối với việc định tội danh
Như đã đề cập, định tội là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vinguy hiểm cho xã hội đã xảy ra với các dấu hiệu tương ứng trong quy phạm phápluật hình sự Quy phạm pháp luật hình sự chứa đựng những dấu hiệu đặc trưng,điển hình, bắt buộc không thể thiếu được của một loại tội phạm cụ thể Những dấuhiện đó sẽ trở thành khuôn mẫu pháp lý làm cơ sở cho người tiến hành tố tụng sosánh, đối chiếu với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra ngoài thế giới kháchquan, từ đó xác định được người phạm tội phạm tội gì, quy định tại điều, khoảnnào của Bộ luật hình sự Như vậy, pháp luật hình sự là cơ sở pháp lý của việc địnhtội
Điều 2 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Chỉ người nàophạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hìnhsự.” Luật hình sự Việt Nam hiện hành không cho phép áp dụng nguyên tắc tương
tự trong lĩnh vực hình sự
Bộ luật hình sự bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật được sắp xếp thành haiphần: phần chung và phần các tội phạm Trong đó, phần chung quy địnhcác nhiệm vụ, các nguyên tắc, các chế định cơ bản của luật hình sự Việt Nam.Còn khi xây dựng các quy phạm của phần tội phạm, nhà làm luật đã tìm và xácđịnh xem trong quá trình tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã hội, dấu hiệu
Trang 5nào là đặc trưng, cơ bản nhất và được lặp lại nhiều lần trong thực tế, để từ đó quyđịnh thành các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng.
Các quy phạm phần chung tuy không nêu lên hết các dấu hiệu cụ thể của bất kỳmột hành vi phạm tội nào, nhưng khi định tội, nhà làm luật phải đồng thời dựavào cả hai nhóm quy phạm hình sự này Bởi lẽ, quy phạm phần chung và quyphạm phần các tội phạm có mối liên hệ hữu cơ với nhau và định tội danh chính là
sự lựa chọn một quy phạm cụ thể đề cập đến một trường hợp cụ thể, vì thế việc ápdụng quy phạm phần các tội phạm phải dựa trên những quy phạm chung vànguyên tắc được quy định ở phần chung Bộ luật hình sự
Khi định tội, những quy phạm phần các tội phạm đề cập đến mô hình tội phạmmột cách chi tiết, trên cơ sở đó chúng ta xác định được hành vi nguy hiểm cho xãhội là hành vi phạm tội; còn các quy phạm hình sự tại phần chung quy định về cácdấu hiệu của cấu thành tội phạm, về các giai đoạn của tội phạm; về đồng phạm…
từ đó giúp người áp dụng pháp luật phân biệt được cấu thành tội phạm cơ bản; cấuthành tội phạm tăng nặng hay cấu thành giảm nhẹ, và xác định được hành vi phạmtội đó ở giai đoạn nào của việc thực hiện tội phạm: ở giai đoạn tội phạm hoànthành; giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay giai đoạn phạm tội chưa đạt Chẳng hạnnhư tại điều 17 quy định tại quy phạm phần chung đề cập đến vấn đề đồng phạm,những người trong đồng phạm và tuy điều luật này không thể hiện cụ thể tính chấtđồng phạm của hành vi phạm tội tại tất cả các điều luật quy định tại quy phạmphần các tội phạm, thế nhưng trên thực tế nếu hành vi phạm tội thể hiện dưới hìnhthức đồng phạm thì điều 17 quy phạm phần chung phải được áp dụng để xác định
rõ vai trò, vị trí của từng người trong đồng phạm, bên cạnh việc áp dụng điều luậttrong quy phạm phần các tội phạm
Trong quá trình áp dụng pháp luật, không một cơ quan nào có quyền xem cáchành vi khác không được quy định trong luật là tội phạm. Quốc hội là cơ quanduy nhất có quyền quy định tội phạm mới (tội phạm hoá) hoặc bỏ đi một tội phạm
đã được quy định trong Bộ luật hình sự (phi tội phạm hoá)
Hiện nay, việc giải thích chính thức Luật hình sự được Hiến pháp 2013 trao cho
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Giải thích này có giá trị bắt buộc đối với mọi cơquan, tổ chức, và cá nhân Việc giải thích Luật hình sự của Toà án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hay của Bộ Tư pháp chỉ có giá trị bắt buộctrong phạm vi ngành Tư pháp
Khi định tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào cả các quy định phầnchung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự Các quy định phần chung nêu lên cácnguyên tắc, nhiệm vụ của Luật hình sự, những vấn đề chung về tội phạm và hìnhphạt Quy định phần các tội phạm quy định những tội phạm cụ thể, loại và mứchình phạt có thể áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể Khi định tội, ngoài việcdựa vào các điều luật quy định hành vi phạm tội cụ thể, người tiến hành tố tụngcòn phải dựa vào những nguyên tắc, điều kiện đã quy định trong phần chung
Trang 6II Các quy phạm pháp luật được áp dụng khi định tội danh
Bộ luật hình sự gồm 2 phần: Phần chung và phần các tội phạm
Quy phạm pháp luật hình sự phần các tội phạm quy định trách nhiệm hình sựđối với mỗi hành vi phạm tội Những quy định này phải dựa trên nhữngnguyên tắc điều kiện được nêu ra trong các QPPL phần chung
QPPL phần các tội phạm nêu mô hình một cách cụ thể chi tiết giúp ta xácđịnh được hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trên thực tế là tội phạm
QPPL phần chung giúp chúng ta phát hiện các dấu hiệu cấu thành tội phạm cụthể
Cần lưu ý về hiệu lực về không gian và thời gian của điều khoản được việndẫn
III Cấu thành tội phạm – mô hình pháp lý của định tội danh
Cấu thành tội phạm (CTTP) là khái niệm pháp lý về hành vi phạm tội, là hệ thốngcác dấu hiệu cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong
Bộ luật hình sự Cấu thành tội phạm là một phạm trù chủ quan được xây dựng mộtcách khách quan dựa trên quy định của luật hình sự Chính vì thế, nó đã trở thành
cơ sở pháp lý để định tội Cấu thành tội phạm, nói một cách khách quan, khôngthể
hiện hết các yếu tố phong phú của tội phạm mà chỉ thể hiện các yếu tố cần và đủ(các dấu hiệu điển hình, đặc trưng nói lên bản chất của tội phạm ấy) cho việc địnhtội Chính vì thế, quá trình định tội cần giải quyết hai vấn đề: nhận thức đúng đắncác dấu hiệu Cấu thành tội phạm và xác định các tình tiết của hành vi phạm tộiđược thực hiện nhằm tìm ra sự đồng nhất giữa các yếu tố luật định và các tình tiếtkhách quan
Cấu thành tội phạm được xem là cơ sở pháp lý duy nhất để định tội, là mô hìnhpháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để xác định trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội Bởi vì, một trong những đặc điểm của tội phạm là được quy định trongLuật hình sự Luật hình sự quy định tội phạm bằng cách mô tả các dấu hiệu củahành vi phạm tội, từ cơ sở pháp lý đó, các nhà lý luận mới khái quát thành các dấuhiệu đặc trưng chung gọi là Cấu thành tội phạm Vì thế, các cán bộ tiến hành tốtụng cần nhận thức đúng đắn bản chất các dấu hiệu Cấu thành tội phạm trong quátrình định tội
Chú ý, khi xem xét các dấu hiệu Cấu thành tội phạm cần xem xét cả những quyđịnh phần chung và phần các tội phạm Bộ luật hình sự Làm sáng tỏ Cấu thành tộiphạm và những dấu hiệu của nó là đảm bảo quan trọng đối với việc định tội Địnhmột tội danh đúng đòi hỏi cán bộ tiến hành tố tụng phải có trình độ pháp luật, kiếnthức chuyên môn và nghiệp vụ tốt, có kinh nghiệm thực tiễn Đồng thời, Nhànước phải đảm bảo pháp luật đáp ứng được đời sống đa dạng, không ngừng hoàn
Trang 7thiện, đảm bảo giải thích, hướng dẫn luật kịp thời, tránh việc áp dụng luật mộtcách mâu thuẫn và giải thích tuỳ tiện.
IV Các giai đoạn của của quá trình định tội danh
Quá trình định tội danh là quá trình xác định sự đồng nhất của các tình tiết cơ bản,điển hình nhất của một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với cácdấu hiệu cấu thành tội phạm nào đó được quy định trong pháp luật hình sự
Bước 1: Xác định loại quy phạm pháp luật (QPPL)
Bước 2: Xác định các dấu hiệu cùng loại của hành vi phạm tội CTTP đượcnếu ở chương nào của Bộ luật hình sự (BLHS)
Bước 3: Đối chiếu và so sánh các loại dấu hiệu tội phạm (tội gì được quy định
ở khoản nào, điều nào?)
Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Bộ luật hình sự có ý nghĩa như thế nào đối với định tội danh?
2. Khi định tội danh, các quy phạm pháp luật hình sự nào được áp dụng?
3. Định tội danh dựa vào mô hình pháp lý như thế nào?
4. Các giai đoạn của quá trình định tội danh là gì?
Chương III: Định tội danh theo yếu tố của cấu thành tội phạm
I Định tội danh theo khách thể của tội phạm
a. Khách thể chung của tội phạm (Ví dụ: Khoản 1 Điều 8)
Căn cứ vào khách thể chung, người định tội danh xác định người thực hiện hành
vi có phạm tội hay không
b Khách thể loại (Ví dụ: các chương của phần thứ hai)
Căn cứ vào khách thể loại, người định tội danh xác định được hành vi phạm tộinào được hành vi phạm tội được quy định ở chương nào của Bộ luật hình sự đểlàm cơ sở xác định cấu thành tội phạm cụ thể cụ thể
c Khách thể trực tiếp
Căn cứ vào khách thể trực tiếp người định tội danh xác định được cấu thành tộiphạm cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội của người phạm tội
Giải quyết tình huống:
Tùng điều khiển xe ô tô chở dầu từ Bình Phước về thành phố Buôn
Mê Thuột, cùng đi có phụ lái là Trần Văn Loan Khi xe đến trạm thu
phí số 3 trên quốc lộ 14, Tùng cho xe dừng lại, Loan xuống xe đưa
50.000 đồng bằng tiền lẻ cho Lục (nhân viên bán vé), Lục cố tình
đếm lâu nên Loan chửi thề: ‘‘ĐM! Các anh làm ăn dở quá’’ Đông
Trang 8(nhân viên bán vé) chạy lại mở cửa xe Tùng và đấm vào chân Loan.
Loan đẩy Đông ra và đóng cửa xe lại Dù đã xé vé nhưng nhân viên
không mở barie yêu cầu Tùng và Loan phải xin lỗi Tùng liền điều
khiển xe tông barie chạy luôn với tốc độ 20km/h Đông đuổi xe máy
chạy theo yêu cầu Tùng dừng lại nhưng Tùng vẫn cho xe chạy đều
khoảng 20km/h và đâm thẳng vào xe của Đông Hậu quả Đông văng
ra giữa đường bị xe của Tùng cán chết.
Có 2 ý kiến về tội của Tùng:
1 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dựa vàokhách thể trực tiếp là quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
2 Tội giết người dựa vào khách thể trực tiếp là tính mạng của người khác
– Khi định tội danh cần phải xem xét đối tượng tác động của tội phạm Vì:
+ Đối tượng tác động của tội phạm là yếu tố có ý nghĩa định tội
Ví dụ: Các tình tiết tăng nặng TNHS ở Điều 52 BLHS như phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên…
II Định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm
a Những vấn đề chung
-Trong lý luận Luật hình sự, căn cứ vào ý nghĩa pháp lý, các dấu hiệu thuộc mặtkhách quan được phân chia thành những dấu hiệu bắt buộc và những dấu hiệukhông bắt buộc
– Những dấu hiệu bắt buộc của mặt khách quan luôn là dấu hiệu của cấu thành tộiphạm có ý nghĩa định tội, đó là:
Hành vi phạm tội
Hậu quả của tội phạm
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra (CTTP vậtchất)
b. Xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội trong quá trình định tội danh
Trang 9– Để định tội danh đúng, việc xác định, phân loại được các cấu thành tội phạm:cấu thành nào có hành vi chỉ là hành động, cấu thành nào có hành vi chỉ là khônghành động; cấu thành nào có cả hành động và không hành động có ý nghĩa rấtquan trọng.
– Người tiến hành định tội danh cần chú ý, hành động phạm tội có thể là một độngtác xảy ra một lần trong thời gian ngắn hoặc là tổng hợp các động tác
Nó có thể lặp đi lặp lại trong một thời gian kéo dài, có thể tác động trực tiếp đếnđối tượng của tội phạm, cũng có thể là tác động gián tiếp thông qua phương tiện
kỹ thuật, máy móc, súc vật…
Giải quyết tình huống:
M và Dũng rủ nhau vào rừng tràm quan hệ tình dục Hậu, Hùng và
Thắng (bạn của Dũng) đã kéo nhau rình xem Dũng phát hiện và rủ
cả bọn vào quan hệ với M Cả bọn đồng ý nhưng M không đồng ý
nên Dũng lấy quần của M và nói nếu không cho bạn mình quan hệ
thì sẽ mang quần đưa về cho chồng M M không nói gì Dũng ra bảo
bản mình vào với M Hậu vào trước thấy M không mặc quần áo
nhưng không giao cấu với M Thắng vào bị M đẩy ngã nhưng vẫn
giao cấu được với M Hùng cũng khai đã giao cấu được với M.
Có 2 quan điểm: 1 Tội hiếp dâm / 2 Tội cưỡng dâm
c Xác định hậu quả của tội phạm trong quá trình định tội danh
– Trong lý luận Luật hình sự, căn cứ vào ý nghĩa hậu quả của tội phạm đối vớiđịnh tội danh và hình thức cấu tạo của quy phạm pháp luật để phân chia cấu thànhtội phạm thành cấu thành vật chất và cấu thành hình thức
– Phân biệt 3 loại hậu quả của tội phạm với ý nghĩa pháp lý như sau:
Hậu quả được quy định là một yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm
Hậu quả của tội phạm tuy không có ý nghĩa định tội danh nhưng lại có ýnghĩa định khung
Hậu quả không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tộiphạm và cũng không có ý nghĩa định khung tăng nặng cũng có ý nghĩa rấtquan trọng đối với việc quyết định hình phạt
Nội dung thảo luận:
d Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra trong quá trình định tội danh
e Phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội và việc định tội danh
III Định tội danh theo chủ thể của tội phạm
Trang 10Các dấu hiệu pháp lý hình sự của chủ thể của tội phạm được xem xét trong quátrình định tội danh bao gồm: NLTNHS, tuổi, chủ thể đặc biệt.
IV Định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm
Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm được chia thành 2 nhóm: Các dấuhiệu bắt buộc (Lỗi) và dấu hiệu không bắt buộc (Động cơ, mục đích phạm tội)
Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Phân tích định tội danh theo khách thể của tội phạm
2. Phân tích định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm
3. Phân tích định tội danh theo chủ thể của tội phạm
4. Phân tích định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm
Chương IV: Định tội danh hành vi phạm tội chưa hoàn thành
I Xác định các giai đoạn pháp tội chưa hoàn thành và việc định tội danh phạm tội chưa hoàn thành.
Luật hình sự Việt Nam không chỉ xem hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu củacấu thành tội phạm cơ bản là tội phạm, mà còn xem cả hành vi chuẩn bị cho việcthực hiện tội phạm cố ý cũng như hành vi chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấuthành tội phạm của một tội cố ý vì nguyên nhân khách quan là tội phạm Và để có
cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, thì hành vi chuẩn bị phạm tội cũngnhư hành vi phạm tội chưa đạt cũng có những đặc điểm cấu thành riêng biệt: đó làcấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội và cấu thành tội phạm của phạm tộichưa đạt
Cấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt không được phản ánh trực tiếp tại từng tội danh cụ thể. Dấu hiệu của hành vi chuẩn bị
phạm tội và phạm tội chưa đạt được quy định trong các quy phạm thuộc phầnchung Bộ luật hình sự Đó là các dấu hiệu có tính chất chung cho tất cả các tộidanh nhưng chưa phải là cấu thành của chuẩn bị phạm tội và cấu thành của phạmtội chưa đạt của riêng một tội phạm cụ thể nào cả Cấu thành tội phạm chỉ đượchình thành trên cơ sở kết hợp cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể với quyđịnh chung về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Vì thế, nếu đối chiếu hành
vi chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt với riêng cấu thành cơ bản của một tội
cụ thể thì hành vi này hoặc không thỏa mãn, hoặc chưa thỏa mãn hết những dấuhiệu của cấu thành tội phạm cơ bản Nhưng nếu đặt cấu thành cơ bản trong mốiliên hệ với điều luật quy định về
các giai đoạn thực hiện tội phạm thì hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưađạt đều hoàn toàn thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản và củacác quy định về giai đoạn thực hiện tội phạm
Trang 11Khi định tội danh đối với hành vi phạm tội chưa hoàn thành, việc xác định đúng giai đoạn thực hiện tội phạm là một việc làm rất quan trọng, bởi vì với mỗi tội danh, nhà làm luật quy định thời điểm hoàn thành tội phạm không giống nhau. Ví dụ như trong “tội cướp tài sản” (điều 133) thì tội phạm hoàn
thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi tấn công (dùng vũ lực, đe doạ dùngngay tức khắc vũ lực hoặc các hành vi khác…) dù người phạm tội có chiếm đoạtđược tài sản hay chưa, nhưng đối với một số tội phạm khác thì thời điểm tội phạmhoàn thành là thời điểm người phạm tội lấy được tài sản khỏi nơi cất giữ, ví dụnhư “tội công nhiên chiếm đoạt tài sản” (điều 137) hoặc “tội cướp giật tài sản”(điều 136)…v.v…
Ngoài ra, những quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chỉ được thể hiện ở một số tội phạm nhất định. Có những tội danh mà do những
tính chất khách quan đặc thù nên nhà làm luật đã không quy định về các giai đoạnthực hiện tội phạm Thứ nhất, đối với trường hợp không hành động là tội phạm,như “tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng”(điều 102) hoặc “tội không tố giác tội phạm” (điều 314), đối với những tội phạm
đó thì không thể có giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt, bởi vìngười phạm tội hoàn toàn không dự đoán được việc xảy ra một tội phạm cụ thể,những tình tiết khách quan được mô tả trong những tội danh tương ứng diễn ratrước khi người phạm tội có hành vi “không hành động”, vì thế người phạm tộikhông hề có sự chuẩn bị trước sẽ làm như thế nào, và cũng chính vì không hề có ýđịnh phạm tội từ trước nên vấn
đề tội phạm được thực hiện đến giai đoạn nào cũng không được đặt ra, thế nêntrong những trường hợp không hành động chỉ đặt ra vấn đề là tội phạm đã hoànthành hoặc không có tội phạm mà thôi Thứ hai, đối với những tội phạm mà Bộluật hình sự quy định để thỏa mãn cấu thành tội phạm cơ bản cần có dấu hiệu “bị
xử phạt hành chính” hoặc “bị xử lý kỷ luật” thì khi hành vi được thực hiện cũngkhông bị coi là phạm tội chưa đạt Khi đó, người có hành vi sẽ bị xử phạt hànhchính hoặc bị xử lý kỷ luật thay vì bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn tộiphạm chưa hoàn thành Ví dụ, Điều 125 Bộ luật hình sự quy định: “Người nàochiếm đoạt thư, điện báo, telex…đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính vềhành vi này mà còn vi phạm…” Nếu người có hành vi chiếm đoạt thư, điện báo,telex…mà chưa bị
xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này thì không bị xem là phạm tộichưa đạt tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của ngườikhác mà chỉ bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính
II Định tội danh trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội
Trong luật hình sự Việt Nam, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một trong những chế định thể hiện tính nhận đạo của pháp luật Việt Nam. Hành vi nửa chừng tự ý chấm dứt việc phạm tội làm thay đổi một cách cơ
Trang 12bản mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện và mức độ nguy hiểmcho xã hội của bản thân người thực hiện hành vi Theo quy định tại điều 16 Bộluật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):
Điều 16 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện
tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Người tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định
phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của
một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Theo quy định này thì nếu như hành vi khách quan mà người phạm tội thực hiện trước khi tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm có dự tính
đã đủ dấu hiệu để cấu thành một tội độc lập khác thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ, A có ý định trục lợi riêng nên đã tiến hành sửa chữa,
làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu để tham ô, nhưng sau đó A đã tự ý nửachừng chấm dứt việc thực hiện tội tham ô, như vậy A sẽ được miễn trách nhiệmhình sự về “tội tham ô” (Điều 353), nhưng hành vi sửa chữa nội dung giấy tờ, tàiliệu của A đã có đủ dấu hiệu để cấu thành “tội giả mạo trong công tác” (Điều 359)
và A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
Khi xây dựng điều 16 về chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và vấn
đề miễn trách nhiệm hình sự, nhà làm luật có lẽ không hạn chế phạm vi áp dụngcủa điều luật Điều này có nghĩa là, pháp luật hình sự Việt Nam miễn trách nhiệmhình sự đối với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các giai đoạn củaviệc thực hiện tội phạm chưa hoàn thành, bao gồm cả giai đoạn chuẩn bị phạm tội,tội phạm chưa đạt chưa hoàn thành Riêng với giai đoạn phạm tội chưa đạt đãhoàn thành, đa số các quan điểm không thừa nhận xảy ra tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội trong giai đoạn này
Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nếu hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đáp ứng được hai điều kiện cơ bản sau đây:
Một là, việc chấm dứt thực hiện ý định hoặc hành vi phạm tội của ngườiphạm tội phải tự nguyện và dứt khoát, tức là người đó phải từ bỏ thực sự ýđịnh phạm tội hoặc hành vi phạm tội mà họ đã bắt đầu, chứ không phải tạmdừng chốc lát để chờ cơ hội, điều kiện thuận lợi để tiếp tục thực hiện tộiphạm
Hai là, việc chấm dứt việc thực hiện tội phạm phải do chính bản thân người
đó tự quyết định, mặc dù vào thời điểm thực tế quyết định việc chấm dứt việcthực hiện tội phạm, người phạm tội nhận thức được khả năng thực tế kháchquan vẫn cho phép tiếp tục thực hiện tội phạm
Nguồn: Định tội danh đối với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội
Trang 13Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Định tội danh đối với hành vi phạm tội chưa hoàn thành được tiến hành nhưthế nào?
2. Định tội danh trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đượctiến hành như thế nào?
Chương V: Cạnh tranh quy phạm pháp luật và định tội danh
I Vấn đề cạnh tranh quy phạm pháp luật hình sự về định tội
a Cạnh tranh quy phạm pháp luật hình sự trong định tội danh là gì?
Cạnh tranh quy phạm pháp luật hình sự trong định tội danh là trường hợp khi mộthành vi phạm tội cùng bao hàm một số điều luật hoặc một số khoản của điều luậtquy định các tội phạm cụ thể của BLHS
Cạnh tranh quy phạm pháp luật hình sự là một trong những nguyên nhân cơ bảnphát sinh thực tranh xung đột quan điểm trong việc định tội danh
b Phân loại (có 3 loại)
Cạnh tranh giữa các quy phạm pháp luật chung và quy phạm pháp luật riêng
Cạnh tranh giữa các quy phạm pháp luật riêng với nhau
Cạnh tranh giữa phần và toàn bộ
II Cạnh tranh quy phạm pháp luật chung và quy phạm pháp luật riêng
Khi định tội trong trường hợp có sự canh tranh giữa các QPPL chung và riêng thìQPPL riêng được ưu tiên áp dụng để định tội
III Cạnh tranh giữa các quy phạm pháp luật riêng với nhau
Đối với các trường hợp cạnh tranh giữa các QPPL riêng thì phức tạp hơn Mộttrong số các dạng cạnh tranh giữa các QPPL riêng thường gặp là cạnh tranh củacác QPPL với các tình tiết định khung tăng nặng và các tình tiết định tội
Trang 14Ví dụ: Trường hợp B giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều
126) nhưng người mà B giết lại là ‘‘cô giáo của mình’’ và đang là ‘‘phụ nữ màbiết là có thai’’ (các tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 1 Điều 123 – Tộigiết người)
=> Quy tắc là áp dụng QPPL có chứa tình tiết định tội để định tội cho hành
vi phạm tội. (Trong ví dụ trên áp dụng Điều 126)
Ví dụ: Trường hợp C cướp tài sản ‘‘có sử dụng vũ khí’’ và ‘‘tái phạm nguy
hiểm’’ (các tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 Điều 168) và tài sản mà Ccướp ‘‘có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên’’ (tình tiết tăng nặng tại Khoản 4 Điều168)
=> Quy tắc là ưu tiên áp dụng QPPL có chứa các tình tiết có giá trị tăng nặng cao nhất.
Ví dụ: Trường hợp phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142) có tình tiết
định khung tại khoản 3 là ‘‘Nhiều người hiếp một người’’ nhưng người bị hại ởđây lại là ‘‘người dưới 13 tuổi’’ (khoản 1)
=> Quy tắc là áp dụng QPPL có chứa các tình tiết cho giá trị tăng nặng cao nhất.
Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Trình bày hiểu biết về khái niệm và các loại cạnh tranh quy phạm pháp luậthình sự và ý nghĩa của việc hiểu biết về những vấn đề đó?
2. Nêu và phân tích các quy tắc áp dụng quy phạm pháp luật khi có cạnh tranhgiữa quy phạm chung và quy phạm riêng?
3. Nêu và phân tích các quy tắc áp dụng quy phạm pháp luật khi có cạnh tranhgiữa các quy phạm riêng với nhau
Chương VI: Định tội danh trong trường hợp có nhiều tội phạm
I Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội
a Các dấu hiệu cơ bản để xác định trường hợp phạm nhiều tội
Có lỗi trong việc thực hiện hai hay nhiều tội phạm
Các hành vi đó được quy định trong phần các tội phạm của BLHS
Người phạm tội chưa bị xét xử về một tội nào trong số các tội phạm đó
b Trong lý luận luật hình sự, cần phân biệt 2 dạng phạm nhiều tội là:
– Phạm nhiều tội thực tế: Là trường hợp khi một người thực hiện nhiều hành vi
nguy hiểm cho xã hội độc lập khác nhau và cách nhau một khoảng thời gian nhấtđịnh, những hành vi đó cấu thành hai hoặc nhiều tội phạm được quy định trongcác điều luật khác nhau hoặc trong những khoản khác nhau của điều luật thuộcphần các tội phạm của BLHS
Trang 15Ví dụ: A trộm cắp tài sản của nhà B lấy đi 200 triệu đồng, 2 ngày sau A lại cướp giật điện thoại Iphone X trị giá khoảng 30 triệu đồng.
* Lưu ý: Khác với “phạm tội 2 lần trở lên”, phạm nhiều tội thực tế bao gồm các tội phạm khác loại (Từng hành vi phạm tội có tính độc lập, chứa đựng cấu thành của một tội phạm riêng biệt)
– Phạm tội tư tưởng: Là trường hợp khi một người thực hiện một hành vi nguy
hiểm cho xã hội và hành vi đó cấu thành hai hoặc nhiều tội phạm được quy địnhtrong các điều luật khác nhau hoặc trong những khoản khác nhau của điều luậtthuộc phần các tội phạm của BLHS
Ví dụ: Hành vi giết người khi thực hiện hành vi cướp tài sản là dạng phạm nhiều tội tư tưởng.
a Định tội danh trong trường hợp phạm tội hai lần trở lên
– Phạm tội 2 lần trở lên là trường hợp một người phạm tội từ 2 lần trở lên Các
tội phạm mà người đó thực hiện cũng có thể là giống nhau hoặc khác nhau (cùngloại hoặc khác loại) Mỗi hành vi phạm tội phải có tính độc lập
-> Cần phân biệt “phạm tội 2 lần trở lên” với phạm tội liên tục, phạm tội kéo dài Trường hợp phạm tội liên tục và phạm tội kéo dài cần được coi như một tội phạm độc lập đơn nhất.
– Tình tiết phạm tội 2 lần trở lên trong BLHS được nhà làm luật quy định với hai
ý nghĩa khác nhau:
Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Là tình tiết định khung tăng nặng đối với một số loại tội phạm nhất định
– Để xác định một trường hợp nào đó là phạm tội 2 lần trở lên, thì ít nhất phải cóhai hành vi bị xem là tội phạm Vì thế không thể xem là phạm tội nhiều lần trongtrường hợp một người thực hiện hai hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng trong
đó chỉ có một hành vi bị xem là tội phạm, còn hành vi khác tuy có dấu hiệu củamột tội phạm được quy định, nhưng do mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Trang 16đó không đáng kể, nên được xếp vào loại các hành vi vi phạm hành chính, hoặccác dạng vi phạm pháp luật khác.
Ví dụ: A có hành vi vượt đèn đỏ và gây tai nạn cho B làm B bị
thương nặng Trong trường hợp, A không phải phạm tội nhiều lần,
mà A chỉ phạm một tội, đó là “tội vi phạm quy định về điều khiển
giao thông đường bộ” (Điều 260 BLHS), còn hành vi vượt đèn đỏ
của A không phải là tội phạm, mà chỉlà hành vi vi phạm hành chính
thông thường.
– Phạm tội 2 lần trở lên bao gồm cả trường hơp khi một người thực hiện các tộiphạm đã hoàn thành lẫn các tội phạm chưa hoàn thành
Ví dụ: Một người đã thực hiện hai hành vi trộm cắp tài sản, trong đó
hành vi phạm tội thứ nhất là tội phạm chưa hoàn thành và hành vi
phạm tội thứ hai là tội phạm đã hoàn thành, thì vẫn áp dụng là
“phạm tội 2 lần trở lên”.
-> Phạm tội có tính chất chuyên nghiêp cũng là một dạng của phạm tội 2 lần trởlên được nhà làm luật quy định với 2 ý nghĩa: Tình tiết định khung tăng nặng
và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
-> Để định tội danh theo tình tiết này, cần xác định bị cáo thực hiện các tội phạmcùng tội danh 2 lần trở lên và hoạt động phạm tội là nguồn sống chính hoặc nguồnsống bổ sung thường xuyên của bị cáo
b Định tội danh trong trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm
Tình tiết tái phạm được quy định tại điều 53 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ
sung 2017) với ý nghĩa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Ngoài ra, táiphạm nguy hiểm còn có ý nghĩa là tình tiết định khung tăng nặng đối với một sốtội phạm nhất định như: khoản 2 điểm h điều 168 tội cướp tài sản; điểm g khoản 2điều 178 tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; hoặc điểm m khoản 2 điều
192 tội sản xuất, buôn bán hàng giả…
Khoản 1 điều 53 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Tái phạm là trường hợp đã
bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.”.
Theo quy định này, thì một người bị coi là tái phạm khi có đầy đủ những điềukiện sau đây:
– Một là, người đó đã bị kết án Người đã bị kết án là người có bản án kết tội củaToà án mà không phụ thuộc vào việc bản án đó có hiệu lực pháp luật hay chưa Vìvậy, ngay từ khi tuyên án kết tội thứ nhất đối với một người mà người đó lại phạmtội mới theo quy định tại khoản 1 điều 53 thì được coi là tái phạm (quy định nàykhông áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội)
Trang 17– Hai là, người bị kết án chưa được xoá án tích Điều này có nghĩa là điều kiện bắtbuộc là việc kết án đó phải phát sinh án tích và án tích chưa được xoá, mà người
đó lại phạm tội mới thì mới xem là tái phạm
– Ba là, phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do
vô ý Để xác định tái phạm, luật hình sự quy định tội phạm mới được thực hiệnphải thuộc một số trường hợp phạm tội nhất định như phạm tội mới do cố ý, hoặctội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, thể hiện nhân thân của ngườiphạm tội không chịu tiếp thu các biện pháp cải tạo giáo dục của pháp luật
Khoản 2 điều 53 Bộ luật hình sự 2015 quy định:
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành
vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi
phạm tội do cố ý.
Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đặc biệt của tái phạm nên vẫn đòi hỏi những
dấu hiệu cần và đủ như đối với trường hợp tái phạm Tuy nhiên, vì là một trườnghợp đặc biệt của tái phạm, nên tái phạm nguy hiểm cũng có những điều kiện riêngkhi áp dụng Đó là khi định tội danh đối với trường hợp tái phạm nguy hiểm, cầnphải xác định rõ trạng thái án tích của người phạm tội, tức là phải xác định được,ngoài những điều kiện quy định tại điều 53, thì bị cáo đã bị xét xử về tội đầu và ántích của tội đó vẫn chưa được xoá
Tái phạm nguy hiểm được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đượcquy định tại điểm h khoản 1 điều 52 và đồng thời là dấu hiệu định khung tăngnặng đối với một số tội phạm nhất định, như tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tàisản (điều 169 khoản 1 điểm i); tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều
175 khoản 2 điểm g); hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biêngiới (điều 189 khoản 2 điểm g)…
Một cơ sở pháp lý khác để xác định hành vi nguy hiểm của một người là tái phạmnguy hiểm, đó là chúng ta phải xác định được trước đó bị cáo đã bị Toà án coi làtái phạm, có nghĩa là các điểm, khoản quy định về dấu hiệu tái phạm nguy hiểm làtình tiết định khung tăng nặng chỉ được áp dụng trong trường hợp người đó đã bịToà án xem là tái phạm trước khi người đó phạm tội mới
Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội được tiến hành như thế nào?
2. Định tội danh trong trường hợp phạm tội 2 lần trở lên, tái phạm, tái phạmnguy hiểm được tiến hành như thế nào?
Trang 18Chương VII: Lý luận chung về quyết định hình phạt
I Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quyết định hình phạt
a Khái niệm
Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của tòa án thực hiện sau khi xác
định tội danh để đưa ra các biện pháp xử lý tương ứng với tính chất, mức độ nguyhiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện
b Đặc điểm của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một hoạt động thực tiễn có tính đặc thù của Toà án
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Dựa vào các quy định của pháp luật hình
sự, hoạt động quyết định hình phạt nhằm giải quyết vấn đề TNHS của người phạmtội trong các trường hợp phạm tội cụ thể Trên cơ sở đó, hình phạt được quyếtđịnh một cách công bằng, bình đẳng, đảm bảo sự kết hợp giữa trừng trị với giáodục người phạm tội và phòng ngừa chung Qua đó, có thể thấy quyết định hìnhphạt có những đặc điểm sau:
– Quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sựcủa Hội đồng xét xử
Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hình sự là những quan hệ xã hội tiêu cựcphát sinh giữa một bên là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi làtội phạm với bên kia là Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quan hệ xã hội, trong đó
có quan hệ pháp luật hình sự Trong quan hệ pháp luật hình sự đó, nghĩa vụ vàTNHS của người phạm tội không mặc nhiên phát sinh nếu không có hoạt động xét
xử của cơ quan Toà án được tiến hành trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt những quytrình, thủ tục tố tụng do BLTTHS quy định để chứng minh người đó phạm tội và
áp dụng các biện pháp chế tài của luật hình sự đối với họ Do đó, quyết định hìnhphạt luôn luôn là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Thẩmphán, Hội thẩm nhân dân tiến hành trên cơ sở căn cứ vào các quy định của BLHS
về quyết định hình phạt đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể Các quy địnhcủa BLHS là những quy phạm pháp luật hình sự có tính khái quát cao và khôngphải để áp dụng riêng cho một tội phạm cụ thể nào nên quyết định hình phạtkhông thể mang tính tự động, dập khuôn mà ngược lại luôn đòi hỏi Thẩm phán vàHội thẩm nhân dân phải có tính sáng tạo Tức là, sau khi đã thực hiện việc định tộidanh, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải cân nhắc, đánh giá, lựa chọn các quyphạm của BLHS (cả phần chung và phần các tội phạm) trên cơ sở nhận thức đúngnội dung, yêu cầu, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội để quyết định một hìnhphạt tương xứng Chỉ khi lựa chọn chính xác các quy phạm của BLHS mới có thểquyết định hình phạt đúng Do đó, quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức vàvận dụng các quy phạm pháp luật hình sự một cách sáng tạo của Thẩm phán và
Trang 19Hội thẩm nhân dân để hình phạt được tuyên không những đảm bảo tính pháp
lý, chính trị – xã hội mà còn là phương án tối ưu để đạt được các mục đích củahình phạt Điều này hoàn toàn đúng như Mác đã viết: “Nếu như luật pháp tự nóvận dụng được thì Toà án sẽ là thừa”
– Đối tượng của Quyết định hình phạt là cá nhân người phạm tội
Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay chỉ thừa nhận chủ thể của tội phạm là conngười cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và cólỗi trong điều kiện hoàn toàn có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định tạithời điểm thực hiện tội phạm Trường hợp, người bị coi là phạm tội (bị cáo) đượcđưa ra xét xử nhưng qua quá trình xét xử lại không có tội và được ghi nhận bằngbản án tuyên vô tội của Toà án thì đương nhiên việc quyết định hình phạt sẽkhông diễn ra Điều này đã cho thấy, quyết định hình phạt chỉ diễn ra khi ngườiphạm tội qua quá trình xét xử bị khẳng định là có tội bằng bản án kết kết tội củaToà án có thẩm quyền và phải chịu hình phạt theo quy định của BLHS Do đó, đốitượng của quyết định hình phạt chỉ là người phạm tội bị kết án và chính người này
sẽ phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên chứ không ai có thể chấp hànhthay, cho dù là tự nguyện Có như vậy, hình phạt mới phát huy được tác dụngtrừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội Đối với pháp nhân phạm tội, việcquyết định hình phạt cũng được thực hiện đối với từng cá nhân người phạm tộitrên cơ sở hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, lỗi và TNHS của họ thì hìnhphạt mới đạt được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội
– Phạm vi của quyết định hình phạt bao gồm các nội dung:
Về lý luận cũng như thực tiễn, quyết định hình phạt chỉ diễn ra sau khi Toà án đãtiến hành hoạt động định tội danh và chỉ trong trường hợp người phạm tội bịkhẳng định là có tội Đây chính là kết quả của hoạt động chứng minh tội phạm doToà án thực hiện dựa trên các tài liệu, chứng cứ do cơ quan Điều tra, Viện kiểmsát thu thập và qua hoạt động xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà mà Toà án có đượctheo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định…
c Ý nghĩa của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một hoạt động tố tụng hình sự, thể hiện ở việc Toà án
tuân thủ các quy định của BLHS và BLTTHS để tuyên một hình phạt đảm bảotính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật đối với người phạm tội bị kết án.Qua đó, góp phần tích cực vào việc bảo vệ các quyền con người và công tác đấutranh phòng, chống tội phạm nói chung Vì vậy, quyết định hình phạt có những ýnghĩa quan trọng sau:
Quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hìnhphạt
Quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đảm bảo và nâng cao hiệu quả củahình phạt
Trang 20 Quyết định hình phạt đúng là điều kiện đảm bảo tính khả thi của hệ thốnghình phạt.
Quyết định hình phạt đúng góp phần bảo đảm pháp chế trong Nhà nướcCHXHCN Việt Nam
II Các nguyên tắc quyết định hình phạt
Nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc nhân đạo Xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc cá thể hóa
Nguyên tắc công bằng
III Các căn cứ cứ quyết định hình phạt
Các quy định của BLHS
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Nhân thân người phạm tội
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
IV Quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt
a. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS
Điều 54 BLHS quy định như sau:
– Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạtđược áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khingười phạm tội có ít nhất 2 TTGN quy định tại Khoản 1 Điều 51
– Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạtđược áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơncủa điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồngphạm nhưng có vai trò không đáng kể
– Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 54nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khunghình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhấtcủa khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
BÀI TẬP
A phạm tội quy định tại khoản 2 điều 169 BLHS Trong hành vi phạm
tội của A có 2 TTGN được quy định tại K1Đ51 BLHS nên toà án áp
dụng Điều 54 BLHS Quyết định nào sau đây của TA là đúng với
trường hợp này?
Trang 21a. 36 tháng tù ⇐
b. 18 tháng tù
c. 9 tháng tù
d. 3 năm cải tạo không giam giữ
b. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 55 BLHS)
c Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 55 BLSH)
– Trường hợp 1: Đang phải chấp hành bản án lại bị đưa ra xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này.
Tổng hợp với hình phạt của bản án trước thành hình phạt chung
Phần hình phạt đã chấp hành của bản án trước được trừ vào thời gian chấphành hình phạt chung
A (30 tuổi) đã bị tòa xử phạt 16 năm tù về tội cướp tài sản Chấp
hành được 4 năm, A lại bị xét xử về tội đã thực hiện trước đó – tội cố
ý gây thương tích cho người khác với mức án là 19 năm tù Như vậy,
hình phạt chung mà bị cáo A phải chấp hành là bao nhiêu?
– Trường hợp 2: Đang phải chấp hành bản lại lại bị đưa ra xét xử về tội đã phạm sau khi có bản án này.
Quyết định hình phạt đối với tội mới
Trang 22 Tổng hợp với phần còn lại chưa chấp hành của bản án trước thành hình phạtchung
Bị cáo E bị tuyên phạt 12 năm tù về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài
sản theo khoản 2 Điều 169 Chấp hành án được 1 năm, E lại phạm
tội mới – tội giết người và bị tuyên phạt 20 năm tù Trường hợp này,
hình phạt chung mà bị cáo tiếp tục phải chấp hành là bao nhiêu?
d Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 57 BLSH)
Căn cứ vào:
Các điều của BLHS về các tội phạm tương ứng
Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Mức độ thực hiện ý định phạm tội
Những tình tiết khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng
– Chuẩn bị phạm tội: Hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt
được quy định trong các điều luật cụ thể
– Phạm tội chưa đạt:
CT, TH => HP <20 năm tù
Tù có thời hạn: HP <3/4
e Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
Tòa án còn phải tuân theo căn cứ:
Tính chất đồng phạm
Tính chất và mức độ tham gia của những người đồng phạm
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự… chỉ áp dụng đối vớingười có tình tiết đó
Câu hỏi hướng dẫn nghiên cứu:
1. Phân tích các nguyên tắc quyết định hình phạt
2. Phân tích các căn cứ quyết định hình phạt
3. Quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt được tiến hành nhưthế nào?
BÀI TẬP ĐỊNH TỘI DANH TRONG LUẬT HÌNH SỰ
Bài tập số 1:
Trang 23Tối 20/5/2001 Nguyễn Công A (20 tuổi) cùng với Lê Thị Hoài V (18 tuổi) đến vũtrường Rex để giải trí Trong lúc A ra ngoài gọi điện thoại thì Đoàn Văn K đếnmời V nhảy nhưng bị từ chối K đã có lời nói miệt thị và đe dọa V Khi A vào, V
đã kể lại sự việc và nói: “Anh phải cho nó một bài học nhớ đời” A không nói
gì, vì sợ lại phải sa vào con đường tù tội, bởi vì ngày 4/2/1997 A đã bị Tòa
án nhân dân phạt 2 năm tù về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 109
Bộ luật hình sự 1985
Khoảng 21 giờ đêm, A và V ra về thì gặp K trước cửa vũ trường, V nói: “Thằng lúc nãy đó, anh cho nó một trận đi…” Thấy A không có phản ứng gì, V giận dỗi nói tiếp: “Sao anh hèn nhát vậy, nếu anh không ra tay để bảo vệ danh dự cho em, thì từ nay chúng ta vĩnh viễn chia tay nhau”.
Thấy V nói vậy, A chỉ tay vào mặt K và nói: “Tại sao lúc nãy mày chửi người yêu tao” Sau đó A đấm liên tiếp vào mặt, vào người K Bị đánh bất ngờ K không kịp phản ứng, ngã xuống đất A tiếp tục dùng chân đá, đạp vào người đến khi K ngất xỉu Sau đó A và V gọi taxi về nhà.
K được mọi người đưa vào bệnh viện cứu chữa, một tháng sau mới xuất viện.Kết luận giám định pháp y ghi rõ: “Trên người bệnh nhân có nhiều vết thươngtrầy da, ở vùng trán có vết thương sâu dài 6 cm để lại sẹo to Thương tích ở mắtphải làm giảm thị lực xuống còn 4% Tỷ lệ thương tật bệnh nhân phải gánh chịu là25%”
Hỏi: Anh (chị) hãy giải quyết vụ án về phương diện định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với A và V?
Lời giải
Bước 1: Tóm tắt hành vi của từng người trong vụ án
* Đối với A:
Trang 24– 20 tuổi, 4/2/1997 đã bị Tòa án nhân dân phạt 2 năm tù giam về tội cố ý gâythương tích theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985.
– 21 giờ ngày 20/5/2001 đã liên tiếp đấm vào mặt, vào người K Mặc dù K ngãxuống đất nhưng vẫn đá liên tiếp làm K ngất xỉu K phải điều trị tại bệnh viện 1tháng Trên người K có nhiều vết thương trầy da, ở vùng trán có vết thương sâudài 6 cm để lại sẹo to, xấu Thương tích ở mắt phải làm giảm thị lực xuống còn4% Tỷ lệ thương tật bệnh nhân phải gánh chịu là 25%”
* Đối với V
18 tuổi, trước khi xảy ra vụ án V đã có những lời nói đối với A: “Anh phải cho nómột bài học nhớ đời”; “Thằng lúc nãy đó, anh đánh cho nó một trận”; “sao anhhèn nhát vậy, nếu anh không ra tay để bảo vệ danh dự của em, thì từ nay chúng tachia tay nhau” làm cho A bị kích động sau đó mới gây ra xử sự như trên
Bước 2: Xác định hướng xâm hại (khách thể bị xâm hại) và các quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra
* Đối với A:
Hành vi của A đã xâm hại tới sức khỏe của người khác Các quy phạm pháp luậthình sự cần kiểm tra: Khoản 1 và 2, Điều 134 BLHS 2015
* Đối với V:
Hành vi của V xâm hại tới sức khỏe của người khác Các quy phạm pháp luật hình
sự cần kiểm tra: Khoản 1, 2 Điều 134 BLHS 2015
Bước 3: Kiểm tra các quy phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn
1) Đối với hành vi của A
* Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
Điều luật quy định 2 tội: tội cố ý gây thương tích cho người khác và tội cố ý gâytổn hại cho sức khỏe của người khác
– Khách thể của tội phạm.
Trang 25Khách thể trực tiếp của hai tội phạm này là quyền được tôn trọng và bảo vệ sứckhỏe của người khác.
Hành vi của A đấm, đá, đạp vào người K đã trực tiếp xâm hại tới quyền được tôntrọng và bảo vệ sức khỏe của K được Điều 134 Bộ luật hình sự bảo vệ
– Mặt khách quan của tội phạm.
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác Người phạm tội đã dùng bạo lực về thể chất tácđộng vào cơ thể người khác gây tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể hoặcgây tổn hại hay làm mất chức năng của một cơ quan nào đó trong cơ thể conngười Thương tích hoặc tổn hại sức khỏe có thể do chính người phạm tội trựctiếp gây ra hoặc do người phạm tội bắt người bị hại gây ra
Mức độ thương tích hoặc mức độ tổn hại sức khỏe cho người khác là từ 11% trởlên là tỉ lệ thương tích có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu mức độ đó là từdưới 11% thì phải có một trong những tình tiết sau mới cấu thành tội phạm này,
đó là tình tiết: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại chonhiều người; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng mộtngười hoặc đối với nhiều người; đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, ngườigià yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đối với ông, bà, cha,
mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; có tổ chức; trong thời gianđang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáodục; thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; có tính chất côn đồ hoặc táiphạm nguy hiểm; để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạnnhân
Giữa hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội nói trên với hậu quả thương tíchhoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác phải có mối quan hệ nhân quả. Tộiphạm hoàn thành từ khi gây ra vết thương hoặc làm tổn hại sức khỏe của ngườikhác
Trang 26Còn các dấu hiệu khác như: công cụ, phương tiện phạm tội, phương pháp, thủđoạn thực hiện tội phạm, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội không phải làdấu hiệu bắt buộc của tội phạm được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng thuộc mặt khách quan củatội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nêu trên
và so sánh, đối chiếu với các tình tiết khách quan trong vụ án cho thấy A đã thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho sức khoẻ của K A đã liên tiếp đấm vào người, vào mặt K và đến khi K đã ngã xuống đất hắn vẫn tiếp tục dùng chân
đá vào người cho đến khi bất tỉnh Hành vi trên của A rất nguy hiểm, trực tiếp xâm hại tới sức khỏe của K và chính hành vi đó đã làm cho K gánh chịu nhiều vết thương trầy da, ở vùng trán có vết thương sâu dài 6 cm để lại sẹo
to Thương tích ở mắt phải làm giảm thị lực xuống còn 4% Tỷ lệ thương tật
K phải gánh chịu là 25% Giữa thương tích mà K phải gánh chịu với hành vi của A có mối quan hệ nhân quả Hành vi của A đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
– Chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm qui định tại Điều 104 là chủ thể thường, tức là bất cứ ai đủtuổi chịu trách nhiệm hình sự có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể thựchiện tội phạm này
A khi thực hiện hành vi gây thương tích cho K đã 20 tuổi, có đủ năng lực nhậnthức và năng lực điều khiển hành vi của mình Như vậy A đã thỏa mãn các điềukiện của chủ thể của tội cố ý gây thương tích… theo Điều 104 Bộ luật hình sự
– Mặt chủ quan của tội phạm.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thựchiện bằng lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Động cơ và mục đích phạm tộikhông phải là dấu hiệu bắt buộc
Trang 27A có đủ điều kiện chủ quan về tuổi, về năng lực trách nhiệm hình sự Khi thựchiện hành vi gây thương tích cho K, A đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm A cũng nhận thấy được hậu quả của hành vi đó
là sẽ gây thương tích và gây tổn hại cho sức khoẻ cho K Mặc dù nhận thức đượcnhư vậy nhưng A vẫn đánh K và mong muốn cho K bị thương nhằm thỏa mãn yêucầu của người yêu A thực hiện tội phạm bằng lỗi cố ý trực tiếp
Từ những phân tích trên, so sánh với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cố ýgây thương tích được qui định trong Bộ luật hình sự có đủ cơ sở kết luận A đãphạm tội cố ý gây thương tích cho người khác theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hìnhsự
* Khoản 2 Điều 104, khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự
Để xác định khung hình phạt áp dụng đối với A, cần kiểm tra khoản 2 Điều 104
và khoản 2 Điều 49
– Kết luận giám định pháp y cho biết A đã gây cho K tỷ lệ thương tích là 25%.Với tỷ lệ thương tích này, về nguyên tắc A chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theokhoản 1 Điều 104 Tuy nhiên, theo kết luận của Hội đồng giám định pháp y thì Kphải chịu một vết thương tích ở trán dài 6 cm, sau khi chữa khỏi để lại vết sẹo to
và xấu, đồng thời mắt phải của K cũng bị tổn thương thị lực giảm xuống chỉ còn 4
% Theo Mục I.1 Nghị quyết 02 ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, thươngtích trên được coi là gây cố tật nhẹ cho nạn nhân Khoản 2 Điều 104 quy định nếuphạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ nạn nhân từ 31 % đến 60
% thì sẽ áp dụng khung hình phạt tăng nặng này Thế nhưng cũng theo quy địnhtại Khoản 2 Điều 104, trong trường hợp phạm tội gây thương tích cho nạn nhân từ11% đến 30 % mà có tình tiết gây cố tật nhẹ cho nạn nhân thì khung hình phạttăng nặng này cũng được áp dụng với người phạm tội Vì thế, A phải chịu tráchnhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự
Trang 28Về khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự.
Ngày 4/2/1997 A bị phạt 2 năm tù về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều
109. Căn cứ khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội phạm ở khoản 2Điều 109 là tội nghiêm trọng và theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thìđây cũng là tội phạm nghiêm trọng Theo điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sựnăm 1999 thì bản án cũ này chưa được xóa
Căn cứ vào khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 thì trường hợp A đã bị kết
án về một tội nghiêm trọng do cố ý chưa được xoá án tích mà lại phạm tội nghiêmtrọng do cố ý là trường hợp tái phạm chứ không phải là tái phạm nguy hiểm, chonên nó không phải là tình tiết định khung tăng nặng
Tóm lại: Căn cứ vào các tình tiết của vụ án và đối chiếu, so sánh với Điều 104 Bộ
luật hình sự có đủ cơ sở kết luận A phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác.Tội danh và hình phạt được qui định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự
2) Đối với hành vi của V
V đã 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự Mặc dù V không trực tiếpthực hiện hành vi gây thương tích cho K nhưng đã có hành vi kích động, thúc đẩy
A thực hiện tội phạm V chính là người chủ động về tinh thần gây ra tội phạm Angay từ đầu đã không có ý định phạm tội Nhưng V bằng lời nói nhiều lần thúcđẩy, yêu cầu A đánh K để cho K một bài học V nói: “Anh phải cho nó một bàihọc nhớ đời” “Thằng lúc nãy chửi em đó, anh đến đánh cho nó một trận” Thấy Achưa hành động thì V lại kích động, thúc đẩy A phạm tội: “Anh hèn vậy, nếu anhkhông ra tay bảo vệ danh dự cho em thì từ nay chúng ta chia tay nhau”
Chính những lời nói đó của V đã tác động mạnh vào tinh thần, tâm lý của A làmcho A từ chỗ không có ý định phạm tội, dẫn tới có ý định và thực hiện tội phạm,gây thương tích nặng cho K Rõ ràng các tình tiết vụ án cho thấy ở đây có sự liênhiệp hành động giữa A và V Hành vi của chúng có mối quan hệ qua lại, hỗ trợnhau, qui định lẫn nhau Trong đó hành vi của A là hành vi trực tiếp thực hiện tội
Trang 29phạm, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả phạm tội chung, đó là K bị nhiềuvết thương trượt da, ở vùng trán có vết thương sâu dài 6 cm để lại sẹo to Thươngtích ở mắt phải làm giảm thị lực xuống còn 4%. Tỷ lệ thương tật K phải gánhchịu là 25% Hành vi của V thông qua hành vi của A dẫn đến hậu quả trên cho K.
V và A cùng cố ý thực hiện tội cố ý gây thương cho K theo khoản 2 Điều 104 Bộluật hình sự V nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, đồng thờicũng nhận thức được hành vi của A gây thương tích cho K là hành vi bị pháp luậthình sự cấm, nhận thức được hậu quả phạm tội chung Tuy biết như thế nhưng Vvẫn kích động, thúc đẩy và mong muốn A thực hiện tội phạm, gây thương tích cho
K để cho K một bài học cảnh cáo
Tóm lại: Từ những sự phân tích trên có đủ cơ sở kết luận V đồng phạm với A
với vai trò xúi giục về tội cố ý gây thương tích cho người khác Tội danh và hìnhphạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 và khoản 2 Điều 19 Bộ luật hình sự
là Q Mỗi khi về nhà K còn thường xuyên nhiếc mắng, đánh đập, hắt hủi L L
Trang 30nhiều lần khuyên nhủ nhưng K vẫn không nghe L rất ghen tức nên có ý định giết
K và Q
Ngày 24/4/2003, biết đôi tình nhân hẹn gặp nhau ở nhà trọ của Q, L lấy khẩu súngK54 K để ở nhà (khẩu súng này K được giao khi làm nhiệm vụ) đến đó phục 23giờ cùng ngày, thấy K đi cùng với Q và một tiếp viên khác về nhà trọ, L dùngsúng bắn K nhưng K chỉ bị thương, L lại dùng súng bắn Q, không ngờ Q lạikhông việc gì, mà cô tiếp viên đi bên cạnh là H bị trúng đạn chết
Hỏi: Anh (Chị) hãy xác định tội danh do L thực hiện ?
Lời giải
1 Tóm tắt và phân tích hành vi của Lê Thị L
Với ý định giết K và Q, 23 giờ ngày 24/4/2003, L lấy khẩu súng K54 của K đếnphục trước nhà trọ của Q (nơi K và Q hẹn nhau) Khi thấy K đi cùng với Q và mộttiếp viên khác về, L dùng súng bắn K nhưng K chỉ bị thương, L lại dùng súng bắn
Q, nhưng Q không việc gì, mà H đi bên cạnh bị trúng đạn chết
2 Xác định hướng xâm hại và quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra.
Hành vi bắn K, Q, H xâm phạm vào quyền nhân thân của con người. Quy phạmpháp luật hình sự cần kiểm tra là khoản 1, 2 Điều 93 và Điều 18 Bộ luật hình sự
3 Kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn
* Khoản 1 và 2 Điều 93 Bộ luật hình sự
Khoản 2 Điều 93 BLHS quy dịnh cấu thành cơ bản của tội giết người
Mặc dù điều luật này không có mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội giếtngười, nhưng từ thực tiễn xét xử đã được thừa nhận có thể đưa ra định nghĩa: giếtngười là hành vi cố ý tước đoạt sự sống của người khác một cách trái pháp luật
– Khách thể của tội giết người là quyền sống của con người. Đối tượng tác động
của nó là con người đang sống đang tồn tại
Trang 31Hành vi của L đã xâm hại tới quyền sống của K, Q, H Đối tượng tác độngcủa hành vi phạm tội của L chính là K, Q, H.
– Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi khách quan tước đoạt
quyền sống của người khác, tức là hành vi có khả năng trực tiếp gây ra cái chếtcủa nạn nhân, chấm dứt sự sống của họ Hành vi tước đoạt tính mạng (quyềnsống) của người khác trong mặt khách quan của tội giết người phải là hành vi tráipháp luật
Hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc (dấu hiệu định tội) của tộinày, mà nó chỉ là dấu hiệu để xác định tội phạm hoàn thành Nếu hậu quả chếtngười không xảy ra vì do nguyên nhân chủ quan thì hành vi phạm tội được coi làgiết người chưa đạt
Trong trường hợp hậu quả chết người xảy ra người định tội danh cần phải kiểmtra mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả đó để từ đó xác địnhmức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp việc xác định mối quan hệ nhân quả nàyhết sức phức tạp, nên theo hướng dẫn của Toà án tối cao cần thiết phải có kết luậncủa Hội đồng giám định pháp y
Căn cứ vào các tình tiết của vụ án cho thấy hành vi dùng súng K54 bắn vào K và
Q là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm hại đến quyền sống của K và Q.Đây là hành vi tước đoạt sự sống của K và Q một cách trái phép, bị pháp luật cấm.Tuy nhiên, nó chưa gây ra cái chết cho nạn nhân nên theo Điều 18 BLHS thì đây
là trường hợp giết người chưa đạt Còn cái chết của chị H được coi là hậu quả củahành vi giết người chưa đạt này gây ra
– Chủ thể của tội giết người là bất cứ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt từ
đủ 14 tuỏi trở lên Theo sự mô tả trong vụ án, L đã xây dựng gia đình với K đượcnhiều năm và không có biểu hiện gì của người mất hoặc hạn chế năng lực trách
Trang 32nhiệm hình sự Như vậy, L là người đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện của chủ thểtội giết người
– Mặt chủ quan của tội giết người thể hiện ở dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián
tiếp Dấu hiệu mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc.Các tình tiết của vụ án cho thấy L có ý định giết K và Q Biết hai người này hẹn
hò nhau tại nhà trọ của Q nên L đã lấy súng K54 phục trước nhà trọ của Q, sau đóbắn hai người này Với các tình tiết của sự việc cho thấy L thực hiện hành viphạm tội bằng lỗi cố ý trực tiếp, L biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội
bị pháp luật cấm nhưng vẫn cứ thực hiện, bởi L mong muốn tước đoạt tính mạngcủa K và Q nhằm thoả mãn sự ghen tuông của cá nhân
So sánh, đối chiếu với các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo khoản 2 Điều
93 và Điều 18 Bộ luật hình sự cho thấy L phạm tội giết người chưa đạt
Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết của vụ án cho thấy L có ý định giết K và Q Dovậy, L phạm tội trong trường hợp giết nhiều người được quy định tại điểm akhoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự với tư cách là một tình tiết tăng nặng định khung
Tóm lại: Lê Thị L phạm tội giết người chưa đạt Tội danh và hình phạt được quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 93 và Điều 18 Bộ luật hình sự
Chú ý: Khi giải quyết vụ án này có thể có quan điểm cho rằng cần phải truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với L thêm tội vô ý làm chết người Nhưng theo chúng tôiviệc can phạm làm chết chị H không phải là kết quả của một hành vi vô ý thôngthường, hay nói cách khác nó không phải là hành vi vô ý độc lập mà là kết quảcủa hành vi cố ý giết người Nếu định tội là vô ý làm chết người thì sẽ đánh giá saitính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó Cho nên không cầnđịnh thêm tội vô ý làm chết người, chỉ cần định một tội là tội giết người (chưa đạt)
và coi việc làm chết chị H là một hậu quả của hành vi giết người (chưa đạt) nóitrên Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi giết người chưa
Trang 33đạt mà gây ra hậu quả làm chết người khác này có thể coi không khác gì trườnghợp giết người đã hoàn thành.
* Khoản 1 và 2 Điều 230 Bộ luật hình sự
Khoản 1 Điều 230 quy định cấu thành cơ bản của tội sử dụng vũ khí quân dụngtrái phép Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệmhình sự thực hiện bằng lỗi cố ý xâm phạm các quy định của Nhà nước về antoàn công cộng liên quan tới vũ khí quân dụng
Khách thể bị tội phạm xâm hại là các quy định của Nhà nước về an toàn côngcộng liên quan tới vũ khí quân dụng
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi sử dụng trái phép vũ khíquân dụng Đây là tội có cấu thành hình thức Tội phạm được coi là hoàn thànhkhi người phạm tội thực hiện hành vi khách quan sử dụng trái phép vũ khí quândụng Hậu quả phạm tội không có ý nghĩa cho việc định tội danh
Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện bằng dấu hiệu lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố
ý gián tiếp) Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trongmặt chủ quan của tội phạm này
Chủ thể của tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là những người có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt từ 16 tuổi trở lên nếu phạm tội theo ở khoản 1 và từ đủ
14 tuổi trở lên nếu phạm tội theo khoản 2, 3 và 4 Điều 230 Bộ luật hình sự
Dựa trên cơ sở phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng nêu trên và căn cứ vào các tình tiết diễn biến của vụ án chothấy: Hành vi của L dùng súng K54 để bắn K và Q, H là hành vi sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng Nó đã xâm phạm trực tiếp những quy định của Nhà nước về antoàn công cộng liên quan tới vũ khí quân dụng (Điều 3 Quy chế quản lý vũ khí …được ban hành theo Nghị định 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ. Hành vi nàyđược L thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp Nó đã gây ra hậu quả nghiêm trọng làlàm K bị thương và làm chết H
Trang 34Hành vi phạm tội này của L đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội sử dụng tráiphép vũ khí quân dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự.
4 Kết luận
Lê Thị L phạm tội giết người chưa đạt và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 93 và Điều 18;điểm a khoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự
Bài tập số 3:
Chiều ngày 11/6/2001 Phạm Văn D đi lang thang thấy một người đang sửa xeCub 70 đời 82-89 ở ven đường nên đứng lại xem Người chủ xe máy chữa xe mãikhông được nên nhờ D chữa giúp D nhận lời Sau khi chữa xe xong, D ngồi lên
xe khởi động máy, máy nổ. Lợi dụng chủ xe đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe
D đã cài số phóng xe đi thẳng Ngày hôm sau D đem xe đến một cửa hàng cầm đồ
để bán thì bị Công an hình sự bắt giữ Chiếc xe máy được Cơ quan công an giaotrả cho người chủ xe tên là Trần Quang B
Qua đấu tranh khai thác, Cơ quan công an còn được biết đêm ngày 14/7/1995, lợidụng mọi người trong gia đình nhà ông Lê Quốc L (ở làng lân cận) đi vắng, D đãdùng kìm cộng lực cắt khoá cửa vào nhà lấy chiếc xe Dream II ông L mới muavới giá 5 lượng vàng mang lên thành phố Hồ Chí Minh bán tiêu sài Nhưng trongquá trình điều tra, Cơ quan điều tra không phát hiện ra D là thủ phạm và trongthời gian từ đó cho đến khi bị bắt về vụ án ngày 11/6/2001 D vẫn làm ăn sinhsống bình thường ở nhà
Hỏi: Hãy xác định trách nhiệm hình sự của D?
Lời giải
1 Tóm tắt và phân tích hành vi phạm tội của D
– Đêm ngày 14/7/1995 lợi dụng gia đình ông L đi vắng D đã dùng kìm cộng lựccắt khoá vào nhà lấy chiếc xe Dream II giá trị 5 cây vàng Trong quá trình điều
Trang 35tra, Cơ quan điều tra không phát hiện ra D là thủ phạm và trong thời gian từ đócho đến khi bị bắt về vụ án ngày 11/6/2001 D vẫn làm ăn sinh sống bình thường ởnhà.
– 11/6/2001 B nhờ D chữa xe Sau khi chữa xe xong D ngồi lên xe khởi động máy
nổ Lợi dụng B đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe D đã cài số phóng xe đithẳng Ngày hôm sau khi D đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì bị Công
an hình sự bắt giữ
2 Hướng xâm hại của hành vi và lựa chọn quy phạm pháp luật cần kiểm tra
– Hành vi D thực hiện đêm ngày 14/7/1995 đã xâm hại tới quan hệ sở hữu tàisản của công dân Các qui phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra: Khoản 1, 2 Điều
155, khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự 1985 và khoản 1 Điều 138;khoản 3 Điều 7; khoản 2, 3 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999
– Hành vi D thực hiện ngày 11/6/2001 đã xâm hại tới quan hệ sở hữu tài sản củacông dân Quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra: Khoản 1 Điều 136, Bộ luậthình sự năm 1999
3 Kiểm tra các quy phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn
* Khoản 1, 2 Điều 155 khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm
1985 liên quan tới hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy
* Khoản 1, 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985
Khoản 1 Điều 155 quy định cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản của côngdân
– Khách thể bị tội phạm xâm hại là quan hệ sở hữu tài sản của công dân Đối
tượng tác động của nó là tài sản của công dân
Hành vi lấy chiếc xe máy Dream II của D đã trực tiếp xâm hại tới quan hệ sở hữutài sản của anh L Ông L đã mất quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt chiếc xemáy của mình
Trang 36– Mặt khách quan của tội phạm
Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản của công dân gồm cóhành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút, bí mật; hậu quả nguy hiểm cho
xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm đoạt tài sản và hậu quả nguyhiểm cho xã hội Tội phạm hoàn thành khi hậu quả phạm tội xảy ra
Các tình tiết của vụ án cho thấy D lợi dụng mọi người trong gia đình nhà Ông LêQuốc L (ở làng lân cận) đi vắng, đã dùng kìm cộng lực cắt khoá cửa vào nhà lấychiếc xe Dream II Như vậy, D đã thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe Dream IIcủa ông L bằng thủ đoạn lén lút, bí mật che giấu tính chất phạm pháp của hành vicủa mình đối với ông L- chủ sở hữu tài sản Tội phạm hoàn thành kể từ khi Dchiếm đoạt được chiếc xe Dream II trị giá 5 lượng vàng
– Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi cố ý trực tiếp, động cơ tư lợi.
Các tình tiết của vụ án cho thấy D đã nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểmcho xã hội của hành vi của mình, biết được việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tàisản của ông L là hành vi bị pháp luật cấm Tuy nhận thức được rất rõ như vậynhưng D vẫn thực hiện hành vi phạm tội với động cơ tư lợi
Chủ thể của tội phạm đòi hỏi người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt từ đủ
16 tuổi trở lên ở khoản 1 và từ đủ 14 tuổi trở lên ở khoản 2 và 3 Điều 155 Bộ luậthình sự năm 1985 D đã thoả mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm này
Tóm lại: Đối chiếu với các dấu hiệu đặc trưng pháp lý của tội trộm cắp tài sản của
công dân theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 thì hành vi của D đãthoả mãn các dấu hiệu của tội phạm này Tuy nhiên, tài sản của ông L là chiếc xeDream II với giá trị 5 lượng vàng Theo Nghị quyết số 01/89/HĐTP ngày19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì “khoảng 5 tấngạo, 5 tấn xăng dầu, phân đạm, 5 tạ mỳ chính, 2 tấn đường trắng loại 1, hai lượngvàng, đối với tiền hoặc các loại tài sản hàng hoá, vật tư khác quy ra trị giá tươngđương với 5 tấn gạo- được coi là số lượng tài sản, hàng hoá, vật tư có giá trị lớn
Trang 37hoặc thu lợi bất chính lớn Khi trị giá gấp 3 lần các mức nêu trên thì được coi làgiá trị rất lớn hoặc có số lượng rất lớn, thu lợi bất chính rất lớn”.
Như vậy, Phạm Văn D đã phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn theo điểm c khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình
sự năm 1985.
* Khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985
Do hành vi trộm cắp tài sản của công dân xảy ra từ ngày 14/7/1995, nhưng chođến ngày 11/6/2001 Cơ quan công an mới phát hiện ra nên cần phải kiểm tra đểxác định hành vi phạm tội này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chưa
và D có được hưởng thời hiệu không
Theo khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985, tội trộm cắp tài sản của công dântheo khoản 2 Điều 155 là tội nghiêm trọng (khung hình phạt từ 2 đến 10 năm tù).Điểm c khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định thời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sự đối với tội này là 15 năm Kể từ khi D phạm tội trộm cắp tàisản của công dân (14/7/1995) đến ngày phạm tội mới (11/6/2001) chưa đến 6 nămcho nên D vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản củamình
Nhưng do hành vi phạm tội này lại được phát hiện và xử lý sau khi Bộ luật hình
sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật, nên cần phải vận dụng những điều luật có lợicho D theo quy định khoản 3 Điều 7 Bộ luật này
Hai tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 132 và Điều 155 Bộ luật hình sựnăm 1985 được Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sáp nhập thành một tội
Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người nào trộm cắp tàisản của người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng… thì bịphạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.Như vậy, so với quy định về tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985
Trang 38cho thấy nhà làm luật không chỉ phi tội phạm hoá mà còn phi hình sự hoá mộtphần loại tội phạm này.
Đối chiếu với hành vi trộm cắp chiếc xe máy Dream II (giá trị 5 lượng vàng –dưới 50 triệu đồng) của D chúng ta thấy nó chỉ thoả mãn các dấu hiệu cấu thành
cơ bản của tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Theo khoản 3 Điều 7 Bộluật hình sự năm 1999 thì khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này được áp dụng vớihành vi phạm tội trên của D (áp dụng theo hướng có lợi cho D) Cũng theo khoản
3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, tội trộm cắp tài sản do D thực hiện là tội ítnghiêm trọng và căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 thìthời hiệu truy cứu trách nhiệm đối với loại tội này là 5 năm
Theo các tình tiết của vụ án thì từ khi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân(14/7/1995) đến ngày phạm tội mới (11/6/2001) đã qua gần 6 năm Trong thờigian này D vẫn làm ăn sinh sống bình thường ở nhà, không trốn tránh và cũngkhông có lệnh truy nã của Cơ quan công an Căn cứ vào các quy định tại khoản 2
và 3 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 thì D không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội trộm cắp tài sản nữa
* Khoản 1 Điều 136, Bộ luật hình sự năm 1999 liên quan tới hành vi D thực hiện ngày 11/6/2001
Khoản 1 Điều 136 quy định cấu thành tội cướp giật tài sản
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này thể hiện ở chỗ tội phạm xâm phạm tớiquan hệ sở hữu tài sản Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi nhanhchóng chiếm đoạt tài sản của nạn nhân rồi nhanh chóng tẩu thoát Tội phạm hoànthành khi chiếm đoạt được tài sản. Tội cướp giật tài sản được người có năng lựctrách nhiệm hình sự và đạt đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện bằng lỗi cố
ý trực tiếp với động cơ tư lợi
So sánh, đối chiếu các dấu hiệu cấu thành của tội cướp giật tài sản quy định tạikhoản 1 Điều 136 như đã trình bày ở trên với các tình tiết khách quan và chủ quan
Trang 39của vụ án cho thấy hành vi của D đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản củacông dân được pháp luật hình sự bảo vệ D đã có hành vi lợi dụng chủ xe đang lúihúi buộc hành lý vào sau xe đã nhanh chóng nổ máy cài số phóng xe đi thẳng Sau
đó mang xe đến hiệu cầm đồ để bán Hành vi này rõ ràng là hành vi cố ý chiếmđoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt rồi tẩu thoát.Đây là dấu hiệu của tội cướp giật chứ không phải là dấu hiệu đặc trưng của tộicông nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự D có
đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đượchành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhận thực được hậu quả của hành vi đónhững vẫn có ý thức chiếm đoạt bằng được tài sản của nạn nhân để thoả mãnđộng cơ tư lợi
Dựa vào những phân tích trên đây cho thấy hành vi của D đã thoả mãn đầy đủ cácdấu hiệu của tội cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự
4 Kết luận:
Phạm Văn D chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản của công dân.Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự
Bài tập số 4:
A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị
B cùng với hai người bạn nằm bên đường Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằngvàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng Gần sáng cơn say hết, chị
B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an
Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:
Trang 40Lời giải
BƯỚC 1 XÁC ĐỊNH QPPL ĐƯỢC ÁP DỤNG
Trong tình huống trên hành vi của H đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu của chị B,( cụ thể trong lúc chị C say nằm ngủ ở dọc đường H và Q đã lấy đi số trang sức trịgiá 10 triệu đồng của chị) đây là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Nên trong tình huông này quy phạm pháp luật hình sự sẽ được áp dụng
BƯỚC 2 XÁC ĐỊNH CÁC DÂU HIỆU CÙNG LOẠI CỦA HÀNH VI VI PHẠM
1 Ý kiến H và Q phạm tội cướp tài sản: Ý kiến này là sai, vì các tình tiết của
vụ án không đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản
Khoản 1 Điều 168 BLHS 2018 quy định về tội cướp tài sản như sau: “Người nào
dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.”.
Tội cướp tài sản là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành
vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự đượcnhắm chiếm đoạt tài sản
Dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội cướp tài sản)
* Khách thể của tội phạm:
Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Bằng hành vi phạm tội của mình,người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, đến tự do của conngười để qua đó có thể xâm phạm được sở hữu
Trong tình huống trên, H và Q thấy chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường, lại thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng nên H và Q lấy đi toàn
bộ tài sản của chị B trị giá 10 triệu đồng Như vậy, trong tình huống này, H và Q