bài tập lý luận định tội tại đại học luật tp hcm BÀI TẬP 1A làm nghề chăn bò thuê, khoảng 15h ngày 922018, trong lúc đang chăn bò, A thấy một con bò đực không rõ của ai đến ăn chung với bò của A, đến chiều không thấy chủ bò đến lùa về, nên A đã đưa con bò này về cột ở trại của A. Đến ngày 1222018, A dẫn bò đi giấu ở nơi khác và đến ngày 1722018, A thuê xe vận chuyển con bò đó đi tiêu thụ. Trên đường đi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện. Tài sản bị thiệt hại là con bò đực được định giá 25.500.000đ.Câu hỏi:1. Để xác định đúng tội danh trong vụ án này, cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước.2. Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?922018, A chăn bò thì thấy con bò đực khác đến ăn chung với bò của mình, A không biết con bò đực đó là của ai. A đã đợi chủ nhân của con bò đực đến dắt bò về. Không thấy chủ của con bò đực đến, A cột con bò đực ở trại của mình. 1222018. A dẫn bò đi giấu ở nơi khác.1722018, A thuê xe vận chuyển con bò đó đi tiêu thụ nhưng c hưa tiêu thụ được con bò đực thì A đã bị cơ quan chức năng phát hiện.
Trang 1BÀI TẬP 3
A làm nghề chăn bò thuê, khoảng 15h ngày 9/2/2018, trong lúc đang chăn bò,
A thấy một con bò đực không rõ của ai đến ăn chung với bò của A, đến chiều không thấy chủ bò đến lùa về, nên A đã đưa con bò này về cột ở trại của A Đến ngày 12/2/2018, A dẫn bò đi giấu ở nơi khác và đến ngày 17/2/2018, A thuê xe vận chuyển con bò đó đi tiêu thụ Trên đường đi chưa kịp tiêu thụ thì
bị phát hiện Tài sản bị thiệt hại là con bò đực được định giá 25.500.000đ.
Câu hỏi:
1 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này, cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước.
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
- 9/2/2018, A chăn bò thì thấy con bò đực khác đến ăn chung với bò của mình,
A không biết con bò đực đó là của ai A đã đợi chủ nhân của con bò đực đến dắt bò về Không thấy chủ của con bò đực đến, A cột con bò đực ở trại của mình
- 12/2/2018 A dẫn bò đi giấu ở nơi khác.
- 17/2/2018, A thuê xe vận chuyển con bò đó đi tiêu thụ nhưng c hưa tiêu thụ được con bò đực thì A đã bị cơ quan chức năng phát hiện.
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành
tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của
A trong vụ án này.
Dự kiến tội danh đối với A:
- Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015): A có hành vi lén lút giấu con
bò đi lạc và không thông báo cho người khác cũng như các cơ quan chức năng.
- Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015): A có hành vi
chiếm giữ con bò đực đi lạc, cột con bò ở trại của mình
- Không phạm tội
Trường hợp này không dự kiến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì đã dự kiến tội trộm cắp tài sản mà dự kiến công nhiên thì gây mâu thuẫn nhau Công
Trang 2nhiên là lấy tài sản trước sự chứng kiến của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, còn trộm cắp là lén lút lấy bò không để họ phát hiện Đặc trưng của trộm cắp tài sản là lén lút chiếm đoạt đối với tài sản phải đang có người quản lý chứ không phải tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý nên loại bỏ Tội trộm cắp Chiếm giữ trái phép tài sản là ngẫu nhiên có được và không giao trả cho người chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu, còn nếu như trong trường hợp ngẫu nhiên có được nhưng không ai yêu cầu trả lại thì chưa phạm tội Trong trưng hợp trên A không nhận được yêu cầu giao trả tài sản của ai nên A chưa phạm tội.
=> A không phạm tội.
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án.
● Ý kiến thứ nhất: A phạm tội trộm cắp tài sản
● Ý kiến thứ hai: A phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
● Ý kiến thứ ba: A phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản
Trong trường hợp này không xử A theo tội trộm cắp vì xét về đối tượng tác động của tội trộm cắp là tài sản đang nằm trong sự quản lý của người khác mà
trường hợp trên là con bò tự đi đến chỗ A đang cho bò mình ăn có nghĩa là đã thoát
ly khỏi sự quản lý hoặc xét về hành vi khách quan của tội trộm cắp là lén lút
chiếm đoạt tài sản đang nằm trong sự quản lý của người khác thành của mình nhưng A không có hành vi chiếm đoạt này Không xử A theo tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản vì xét về đối tượng tác động thì con bò không nằm trong sự quản lý
của người khác mà thoát ly ra khỏi sự quản lý và tự đi đến chỗ A đang cho bò ăn,
nếu xét về hành vi khách quan thì A không công khai chiếm đoạt con bò trước
mặt người quản lý con bò A không phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản vì trong thời gian A giữ con bò thì chủ sở hữu, người quản lý hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền không yêu cầu A trả lại con bò
=> A không phạm tội.
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A.
Trong vụ án trên có sự tranh chấp tội danh giữa Tội trộm cắp tài sản
(Điều 173 BLHS 2015), Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS
2015) và trường hợp không phạm tội là định tội danh theo mặt khách quan
của tội phạm và định tội danh theo đối tượng tác động của tội phạm
Trang 3Bài tập 6 :
Sau nhiều lần gửi xe để vào chợ huyện mua sắm, A nhận thấy việc giữ xe tại bãi này rất lỏng lẻo, lúc đông đúc có nhiều người lấy xe ra nhưng người giữ xe không soát vé Cho rằng có thể lợi dụng tình hình này để “làm tiền” bãi xe nên A
đã hành động.
Đầu năm 2021, A đến gửi xe vào bãi Chờ đến khi người ra vào lộn xộn, A lẳng lặng dắt xe ra mà không ai phát hiện để soát vé Ra khỏi bãi, A nổ máy phóng về nhà Sau khi cất giấu xe máy, A chậm rãi quay trở lại bãi xe Giả vờ như vừa từ trong chợ ra, A đi đi lại lại để tìm xe Một người giữ xe chạy đến hỏi,
A bảo rằng xe gửi đây nhưng giờ không thấy Cả bãi dò thẻ xe của A rồi nháo nhào tìm Một hồi, chủ bãi xe thừa nhận: Xe máy của A đã mất A yêu cầu chủ bãi giữ xe phải bồi thường cho mình 5 triệu đồng Tưởng là yêu cầu của mình sẽ nhanh chóng được thực hiện nhưng A không ngờ chủ bãi xe dùng dằng: “Chuyện này phải báo công an rồi mới tính”.
Sự việc được đến Công an huyện T Sau khi ghi nhận diễn biến sự việc và tiến hành điều tra, cơ quan điều tra mời A lên làm việc Ban đầu A quanh co chối cãi, nhưng trước những chứng cứ của cơ quan điều tra đưa ra, A đã phải khai ra toàn bộ sự thật như nêu trên.
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
- A đến gửi xe vào bãi, chờ đến khi người ra vào lộn xộn A lẳng lặng dắt xe ra để không ai phát hiện soát vé mình.
- Sau khi đem xe về nhà cất thì A quay lại giả vờ bị mất xe.
- Sau khi bãi giữ thừa nhận xe A mất thì A đòi bồi thường cho mình 5 triệu đồng.
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến áp dụng khi định tội danh trong vụ án này
Các tội danh dự kiến bao gồm:
- Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS 2015: A lợi dụng tình hình đang
đông đúng không ai để ý thì lén lút dắt xe của mình ra khỏi bãi để không ai soát vé.
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS 2015: A đưa ra thông tin
gian dối làm nạn nhân tin tưởng để đưa tiền bồi thường là 5 triệu đồng.
- A không phạm tội và không bị truy cứu TNHS: vì A chưa lấy được 5 triệu
đồng từ người giữ xe.
4) Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án trên?
Trang 4- A phạm tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 vì A đã trộm được chiếc xe từ người quản lý là người giữ xe, A không phạm tội lừa đảo vì A vẫn chưa nhận được số tiền 5 triệu đồng từ người giữ xe dù đã đưa ra thông tin gian dối.
5) Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A trong vụ án trên:
Trong vụ án trên có sự tranh chấp tội danh giữa Trộm cắp tài sản (Điều
173 BLHS 2015), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS 2015) và không phạm tội.
- Giữa trộm cắp tài sản với Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: dùng lý thuyết định tội
danh theo mặt khách quan gồm: hành vi khách quan (hai tội này giống nhau
về chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, chỉ khác nhau về hành vi) và hậu quả A
lấy được chiếc xe từ người quản lý tài sản nhưng chưa lấy được 5 triệu từ họ.
Bài tập 11:
Biết nhà ông M trong xã có cây lộc vừng rất có giá trị, A rủ B, C, D đi lấy trộm Khi tới nhà ông M, A giao hẹn với cả bọn: "Chúng mày cứ lấy, 15 phút t lại cho xe chạy qua một lần, nếu lấy được thì chở đi luôn" Nói xong A phóng xe đi
B nói D đứng ngoài canh gác để cho B và C vào trong nhà lấy tài sản Do cây lộc vừng quá nặng và quá lớn nên B và C phải đào đất, xén bớt cành lá và rễ của cây để khiêng ra ngoài Trong khi đang đào rễ thì bị chủ nhà phát hiện nên
cả bọn chạy thoát.
Khoảng 2 tuần sau, A lại cùng A, B, C, D quay lại nhà ông M lấy cây lộc vừng Để có thể lấy được tài sản, chúng mang theo kìm cộng lực, dây thừng, kìm điện và bút thử điện A chở cả bọn bằng xe máy đến tập trung tại ngôi nhà bỏ hoang (gần nhà ông M) B và C cùng vào lấy cây lộc vừng, những người khác đứng ngoài canh chừng và có nhiệm vụ buộc chặt cánh cửa cổng nhà ông M, chờ tín hiệu của B và C để cùng khiêng cây lộc vừng ra ngoài Khoảng nửa tiếng sau, khi đang khiêng cây lộc vừng ra ngoài thì bọn chúng lại bị phát hiện B và C bị bắt quả tang cùng tang vật, những người còn lại chạy thoát
Hội đồng giám định tài sản kết luận: Cây lộc vừng khi chưa bị xén cành, lá,
rễ có giá trị 140 triệu đồng Sau lần lấy trộm thứ nhất, giá trị của cây lộc vừng này còn 30 triệu đồng
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội ?
- Lần 1:
+ A rủ B, C, D đi lấy trộm cây lộc vừng nhà ông M.
+ Khi tới nhà ông M, A giao hẹn với cả bọn, để B, C và D vào lấy trộm cây lộc vừng còn A phụ trách chạy xe đến chờ sau mỗi 15 phút.
Trang 5+ D được phân công đứng ngoài canh gác, B và C vào trong nhà lấy tài sản Do cây lộc vừng quá nặng và quá lớn nên B và C phải đào đất, xén bớt cành lá và rễ của cây để khiêng ra ngoài.
+ Trộm không thành vì chủ nhà phát hiện, cả bọn chạy thoát.
- Lần 2 (khoảng 2 tuần sau lần 1):
+ A lại cùng B, C , D quay lại nhà ông M lấy cây lộc vừng.
+ B và C vào lấy cây lộc vừng, những người còn lại đứng ngoài canh chừng và có nhiệm vụ buộc chặt cánh cửa cổng nhà ông M và chờ tín hiệu từ B và C.
+ Công cụ được bọn chúng đem theo: kìm cộng lực, dây thừng, kìm điện, bút thử điện.
+ Khoảng 30 phút sau, bị chủ nhà phát hiện, B và C bị bắt quả tang cùng tang vật, những người còn lại chạy thoát.
+ Hội đồng giám định tài sản kết luận: Cây lộc vừng khi chưa bị xén cành,
lá, rễ có giá trị 140 triệu đồng Sau lần lấy trộm thứ nhất, giá trị của cây lộc vừng này chỉ còn 30 triệu đồng.
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Dự kiến tội danh đối với A, B, C, D:
- Tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BL15: Các đối tượng biết nhà ông M
có cây lộc vừng nên nảy sinh ý định trộm cắp Họ có hành vi lén lút, bí mật, không muốn để bị phát hiện
- Tội hủy hoại tài sản quy định tại Điều 178 BLHS 2015: cây lộc vừng khi chưa
bị cắt xén cành, lá rễ có giá trị 140 triệu đồng, sau khi bị A,B,C và D tác động đến làm thay đổi mất đi giá trị ban đầu của cây lộc vừng thì chỉ còn 30 triệu đồng.
- Tội cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 BLHS 2015: Tình huống trên
trong quá trình chiếm đoạt tài sản, B và C đã cố ý làm hư hỏng đáng kể tài sản là cây lộc vừng, cụ thể đã cắt xén lá và rễ của cây lộc vừng.
4 Về việc định tội danh đối với hành vi của A, B, C, D trong vụ án trên có 3
ý kiến như sau:
- Ý kiến thứ nhất: A, B, C, D phạm tội trộm cắp tài sản
- Ý kiến thứ hai: A, B, C, D phạm tội trộm cắp tài sản và tội hủy hoại tài sản
- Ý kiến thứ ba: A, B, C, D phạm tội trộm cắp tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản
Trả lời:
Ý kiến thứ ba hợp lý nhất.
- Trường hợp này vẫn có thể chọn ý kiến 1 vì mục đích tỉa cành lá rễ là để vận chuyển dễ dàng và bản chất cây lộc vừng vẫn có thể phục hồi sau một thời gian chăm sóc nên chỉ xử theo Tội trộm cắp (Điều 173).
Trang 6- Nhưng nếu so về hậu quả trong trường hợp này thì tội cố ý làm hư hỏng tài sản gây thiệt hại lớn hơn so với tội trộm cắp tài sản Ban đầu cây lộc vừng có trị giá
140 triệu nhưng sau khi bị cắt tỉa thì chỉ còn 30 triệu vậy thiệt hại là 110 triệu (hậu quả của cố ý làm hư hỏng tài sản là 110 triệu), còn nếu là trộm cắp thì chỉ là trộm cắp cây lộc vừng trị giá 30 triệu Mặt khác, theo nguyên tắc có bao nhiêu tội cứ xử bấy nhiêu trừ khi nó mâu thuẫn nhau Trong trường hợp này hai hành vi khác nhau nên có thể xử hai tội Vậy có thể xử theo hai tội là trộm cắp và cố ý làm hư hỏng tài sản.
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A, B, C, D trong vụ án trên?
- Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh A, B, C, D theo cả hai tội danh thì lý thuyết được dùng là tổng hợp tội phạm thực tế.
Bài tập 19: A (20 tuổi) là đối tượng sống lang thang, không nghề nghiệp Ngày 30/4, quan sát thấy ông N để xe ở khu đất trống (chìa khóa xe đang cắm ở cổ xe) trèo lên cột điện để nối dây điện bị đứt nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của ông N A đi lại chỗ cột điện đạp đổ chiếc thang mà ông N dùng để trèo lên cột điện rồi ngang nhiên ngồi lên chiếc xe máy (trị giá 25 triệu đồng) của ông N nổ máy phóng đi Ông N mặc dù biết A lấy chiếc xe của mình nhưng do chiếc thang đã bị A đạp đổ nên không thể xuống để ngăn cản hành
vi của A Vụ việc sau đó bị phát giác
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội đối với hành vi của A?
Tình tiết thực tế trong vụ án có giá trị định tội đối với hành vi của A là:
- A thấy ông N lúc trèo lên cột điện đã đi lại chỗ cột điện đạp đổ chiếc thang mà ông N dùng để trèo lên cột điện rồi ngồi lên chiếc xe máy (trị giá 25 triệu đồng) của ông N nổ máy phóng đi.
- Ông N mặc dù thấy A lấy chiếc xe của mình nhưng do chiếc thang đã bị A đạp
đổ nên không thể xuống để ngăn cản.
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành
tố tụng cần dự kiến áp dụng trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của A trong vụ án này?
Các tội danh dự kiến đối với A:
- Tội cướp tài sản (Điều 168): A có hành vi đạp đổ cái thang khiến cho ông N lâm
vào tình trạng không thể chống cự được và công khai chiếm đoạt tài sản của ông N (hành vi khác làm cho nạn nhân lầm vào tình trạng không thể kháng cự được);
- Tội cướp giật tài sản (Điều 171): A công khai chiếm đoạt tài sản của ông N.
Trang 7- Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172): với hành vi A chiếm đoạt chiếc
xe máy trị giá 25 triệu đồng của ông N một cách công khai, ngang nhiên và ông N mặc dù biết A lấy chiếc xe của mình nhưng do chiếc thang đã bị A đạp đổ nên không thể xuống để ngăn cản hành vi của A
Note: Đối với công nhiên thì tình huống không thể ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản là do nạn nhân tự tạo ra chứ không phải do người phạm tội tạo ra
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án này?
A không phạm tội cướp giật vì A không chiếm đoạt tài sản một cách công khai nhanh chóng (đặc trưng của tội cướp giật), trong tội cướp có thể xâm hại hai quyền là quyền sở hữu và quyền nhân thân của nạn nhân nên cần phải xem trong trường hợp này có hành vi có thể gây thiệt hại đến quyền nhân thân của nạn nhân hay không (cướp không nhất thiết cứ phải tác động lên thân thể mà tác động lên đâu có thể gây thiệt hại đến quyền nhân thân của nạn nhân), trường hợp này hành vi của A là lấy cái thang không có gây thiệt hại cho sức khỏe, tính mạng của ông N, như vậy không thỏa mãn về khách thể của tội cướp, cướp không xử được nên quay lại xử vào tội công nhiên
Note: Nếu có hai tội lập lửng thì nên chọn tội nào có lợi cho người phạm tội Trong tội cướp không nhất thiết cứ phải tác động lên thân thể mà tác động lên đâu có thể gây thiệt hại đến quyền nhân thân của nạn nhân
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi phạm tội của A.
Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh giữa Tội cướp tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản dựa vào hành vi khách quan.
Bài tập 20: Ông N thuê T và H mang máy đến nhà mình xay xát cà phê khô lấy cà phê nhân Buổi sáng, sau khi xay xát hết 6 bao cà phê thì T và H xin ông N cho nghỉ và kéo máy về nhà mình Đầu giờ chiều, T và H lại kéo máy trở lại làm tiếp Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, do sợ trời tối, đường xa, T và H lại xin nghỉ sớm, kéo máy về và hẹn hôm sau lại đến Việc T và H bỏ công kéo máy đi và
về rất vất vả, cộng với số lượng cà phê nhân thu được ít hơn bình thường làm ông N sinh nghi nên đã kiên quyết giữ máy lại, tháo thùng ra thì thấy 38kg (trị giá khoảng 1.520.000 đồng) cà phê nhân trong một ngăn bí mật dưới đáy thùng.
Chuyện bại lộ, T khai buổi sáng hôm đó đã lấy được của ông N 80kg (3.200.000 đồng) cà phê nhân đang cất giữ ở nhà và năn nỉ xin chủ nhà tha thứ T
bỏ máy lại, về nhà chở toàn bộ số cà phê lấy được buổi sáng trả cho ông N Tại công an xã, T khai H chỉ là người làm thuê cho mình và không biết về việc T lén bớt xén cà phê xay được của khách hàng (Biết rằng tại thời điểm T thực hiện hành vi trên, giá cà phê nhân là 40.000/kg).
Trang 82 Nêu các tình tiết thực tế trong vụ án có giá trị định tội danh đối với hành
vi của T?
- Ông N thuê T và H mang máy đến nhà mình xay xát cà phê khô lấy cà phê nhân.
- Thấy T bỏ công kéo máy đi và về rất vất vả, cộng với số lượng cà phê nhân thu được ít hơn bình thường;
- Ông N giữ máy lại, tháo thùng ra thì thấy 38kg cà phê nhân giấu trong một ngăn bí mật dưới đáy thùng.
- Chuyện bại lộ, T khai buổi sáng hôm đó đã lấy được của ông N 80kg cà phê nhân đang cất giữ ở nhà.
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến áp dụng trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của T trong vụ án này?
Dự kiến tội danh đối với T:
- Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS 2015: T có hành vi lén lút giấu số
cà phê nhân ở ngăn bí mật trong máy kéo của mình.
- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS 2015: với
hành vi được giao xay xát số cà phê thông qua hợp đồng gia công của ông N vs T Sau
đó, bằng thủ đoạn gian dối là làm 1 ngăn bí mật trong thùng máy để giấu cà phê của ông N hòng chiếm đoạt.
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T trong vụ án trên và giải thích vì sao?
- A không phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì trong trường hợp này giữa ông N và T có hợp đồng thuê khoán xay xát cà phê, việc T đem máy đến nhà ông N xay xát cà phê là ông N chỉ thuê T xay xát cà phê thôi còn cà phê vẫn còn đang nằm trong sự quản lý của ông N nên không thỏa mãn dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì đối tượng tác động của tội này phải là tài sản đã được người quản lý giao cho người phạm tội quyền quản lý.
- A phạm tội trộm cắp vì lén lút để cà phê vào trong ngăn kéo bí mật của máy xay xát không cho ông N biết.
Note: đặc thù của tội lạm dụng tín nhiệm là có được tài sản một cách hợp pháp sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt, sau khi nảy sinh ý định chiếm đoạt rồi mới dùng các thủ đoạn khác nhau chiếm đoạt tài sản đó.
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của T.
Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản là dựa vào đối tượng tác động, trong trường hợp này ông N vẫn chưa giao cho A sự quản lý đối với số cà phê và đối với hành vi trộm thì không thể xử theo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 9Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp giữa tội trộm và tội lừa đảo thì dựa vào hành vi khách quan, tội trộm là lén lút chuyển dịch tài sản một cách bất hợp pháp còn lừa đảo là đưa ra thông tin gian dối làm cho nạn nhân tin tưởng giao tài sản
mà A không có hành vi đưa ra thông tin gian dối.
Bài tập 21:
Chiều ngày 17/1/2020, A gặp anh B ngoài bến xe, thấy anh B giữ chiếc túi
du lịch khá cẩn thận nên A đã đoán được trong đó có tài sản Sau khi bắt chuyện, nhận đồng hương và biết anh B cần chỗ nghỉ để sáng mai đi tiếp, A mời anh B về phòng trọ mà A mới thuê nghỉ qua đêm Về phòng trọ, A rủ anh B uống rượu mừng tái ngộ và hai người cùng uống hết gần 1 lít rượu trắng Nửa đêm, A cho rằng anh B đã ngủ say, A lẻn dậy lấy túi du lịch của anh B và bỏ trốn, khi B kiểm tra túi của A thì trong túi có 50 triệu đồng Sáng hôm sau B công an trình báo và
A bị bắt ngay sau đó
Tại trụ sở công an anh B còn khai thêm: Khi A lẻn dậy lấy chiếc túi du lịch của mình, mặc dù anh B có biết nhưng do quá say nên anh không có biện pháp kháng cự
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội đối với hành vi của A?
- Biết anh B cần chỗ nghỉ nên A mời B về phòng trọ A mới thuê nghỉ qua đêm
- Về phòng, A rủ B uống rượu.
- Nửa đêm, A thấy B đã ngủ say nên lẻn dậy lấy túi của B và bỏ trốn, trong túi có
50 triệu đồng.
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến áp dụng trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của A trong vụ án này?
Các tội danh dự kiến đối với A:
- Tội cướp tài sản (Điều 168): A cố tình chuốc rượu để B ngủ say (hành vi khác
làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được) nhằm chiếm đoạt tài sản
- Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015): Khi B đã ngủ say, A lẻn dậy lấy
túi du lịch của anh B và bỏ trốn, khi B kiểm tra túi của A thì trong túi có 50 triệu đồng
Lưu ý: Khi đã dự kiến trộm cắp thì không dự kiến công nhiên.
Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự được trong tội cướp tài sản có thể là cho uống thuốc mê, thuốc độc (cho uống nhưng nạn nhân không biết) chứ còn uống rượu thì nạn nhân đã biết đó là rượu rồi nạn nhân tự nguyện uống chứ không ai ép thì không xử cướp.
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án này?
Trang 10A không phạm tội cướp tài sản vì tình trạng say sỉn không thể kháng cự được là do B tự tạo nên (hành vi khác làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể kháng cự được), B biết đó là rượu uống sẽ say mà vẫn uống chứ không phải do A ép B uống Mặt khác A có hành vi lén lút lấy túi của B chứ không hề biết B còn nhận thức (định tội danh theo ý chí chủ quan của người phạm tội) nên A phạm tội trộm cắp (Điều 173).
Lưu ý: Trường hợp này không dự kiến tội lừa đảo vì nạn nhân không có hành vi giao tài sản cho người phạm tội, tội lừa đảo là khi nào nạn nhân đưa tin tưởng về thông tin gian dối của người phạm tội đưa ra mà giao tài sản.
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi phạm tội của A.
Trong vụ án trên có sự tranh chấp tội danh giữa Tội cướp tài sản (Điều
168 BLHS 2015) và Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), cơ sở lý thuyết giải
quyết tranh chấp hai tội danh này là dựa vào hành vi khách quan và ý chỉ chủ quan của người phạm tội.
Bài tập 22: Khoảng 11 giờ ngày 20/11, A chở B đến bãi giữ xe khu du lịch
X chiếm đoạt xe máy Quan sát thấy bãi giữ xe máy dùng phấn ghi số trên xe khách, cả hai bàn nhau đem xe máy của A vào bãi gửi, sau đó thấy xe nào xịn hơn thì xoá số ghi trên xe đó rồi dùng phấn ghi số lại giống với số thẻ xe mình để lấy xe đem ra ngoài.
A chạy xe máy của mình đến gửi tại bãi giữ xe và nhận thẻ giữ xe số 3219 rồi đưa cho B Khoảng 15 phút sau, B quay lại bãi giữ xe xoá số 3371 trên một xe máy hiệu Yamaha (trị giá mười năm triệu đồng) của anh D, ghi lại số 3219 giống như số thẻ xe mà B cầm Tiếp đó, B ung dung trình thẻ cho nhân viên giữ xe và dắt xe ra, đến tiệm sửa khóa làm lại chìa khóa xe, rồi cùng A đem xe đi bán Xong xuôi, A quay lại bãi giữ xe và báo với người giữ xe là bị mất thẻ xe và đề nghị người này cho lấy lại xe gắn máy Vụ việc sau đó bị phát giác.
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án này có giá trị định tội đối với hành vi của A và B?
Những tình tiết có giá trị định tội:
+ A chở B đến bãi giữ xe khu du lịch X, cả hai bàn nhau đem xe máy của A vào bãi gửi, sau đó thấy xe nào xịn hơn thì xoá số ghi trên xe đó rồi dùng phấn ghi số lại giống với số thẻ xe của mình để lấy xe đem ra ngoài
+ A chạy xe của mình đến bãi giữ xe và nhận thẻ giữ xe số 3219 rồi đưa cho B để B xoá số 3371 trên một xe máy khác có giá là mười năm triệu của anh
D rồi ghi lại số 3219 cho giống thẻ xe mà B cầm B dắt xe ra rồi đến tiệm sửa khóa làm lại chìa mới và cùng A đem xe đi bán