1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định tội danh với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật)

89 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Tội Danh Với Tội In, Phát Hành, Mua Bán Trái Phép Hóa Đơn, Chứng Từ Thu Nộp Ngân Sách Nhà Nước Theo Luật Hình Sự Việt Nam (Trên Cơ Sở Thực Tiễn Địa Bàn Thành Phố Hải Phòng)
Tác giả Dương Đình An
Người hướng dẫn GS.TS Bùi Minh Thanh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 21,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, quy định xử lý tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN trong luật hình sự hiện hành đang tồn tại nhiều bất cập cả về mặt lý luận và thực tiễn áp dụ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG ĐÌNH AN

ĐỊNH TỘI DANH VỚI TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP

HÓA ĐƠN, CHÚNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ Nước

THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM (trên cơ sỏ thực tiễn địa bàn Thành phô Hải Phòng)

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 8380101.03

LUẬN• • • • VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Nguôi hướng dân khoa học: GS.TS BUI MINH THANH

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập thực sự của cả nhản tỏi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu

lý thuyết, kiến thức của bản thân, kết hợp nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy GS.TS Bùi Minh Thanh Các kết quả, sổ liệu trong luận văn là trung thực Các trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác.

Tác giả Luận văn

Dương Đình An

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biêt ơn sâu săc đên Thây giáo GS.TS Bùi Minh Thanh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn về phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cách làm việc khoa học đề tôi có thể hoàn thành được Luận văn Thạc sĩ của mình

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ quý báu của các cán bộ, giảng viên Khoa Luật Đại học Quốc gia Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ đang công tác tại các cơ quan Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng và đặc biệt là Sở Kế hoạch đầu tư, Cục Thuế thành phố Hải Phòng và các một số Doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hải Phòng đã cung cấp số liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, ủng hộ nhiệt tình đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của mình Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 9 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của định tội danh đối vói tội in, phát

hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 9

1.1.1 Khái niệm định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái

phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 91.1.2 Đặc điểm của định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán

trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 131.1.3 Ý nghĩa của định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái

phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 14

1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh đối vói tội in, phát hành,

mua bán trái phép hóa đo’n, chứng từ’ thu nộp Ngân sách Nhà nước 16

1.2.1 Bộ luật Hình sự 161.2.2 Bộ luật Tố tụng hình sự 181.2.3 Cấu thành tội phạm của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa

đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 18

Trang 5

1.3 Các giai đoạn của quá trình định tội danh đôi với tội in, phát

hành, mua bán trái phép hóa đon, chứng tù’ thu nộp Ngân sách Nhà nước 22 Tiểu kết Chương 1 27

CHUÔNG 2: THỤC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI IN,

PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG

TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 28

2.1 Thực tiễn định tội danh đối vói tội in, phát hành, mua bán

trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước tại thành phố Hải Phòng 282.1.1 Các kết quả đạt được trong định tội danh đối với tội in, phát

hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước tại thành phố Hải Phòng 282.1.2 Thực tiễn định tội danh theo cấu thành cơ bản của tội in, phát

hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách

nhà nước 31

r

2.1.3 Thực tiên định tội danh theo câu thành tăng nặng của tội in,

phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngânsách nhà nước 38

2.2 Những bât cập, hạn chê và nguyên nhân dân đên vướng măc

khi định tội danh đối vó’i tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đo’n, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước tại thành phố Hải Phòng 40

2.2.1 Một số hạn chế, bất cập 40

2.2.2 Nguyên nhân dân đên những hạn chê trong việc định tội danh đôi

với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thunộp Ngân sách Nhà nước 46

Tiểu kết Chuưng 2 56

Trang 6

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SÓ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỊNH TỘI DANH ĐÓI VỚI TỘI

IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ THU Nộp NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 57 Định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu

qua định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 57Hoàn thiện căn cứ pháp lý về tội in, phát hành, mua bán trái phép

hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước sẽ tạo điều kiện

xử lý hành vi phạm tội một cách triệt để và hiệu quả hơn 57Hướng tới môi trường kinh doanh thông thoáng và minh bạch hơn 58Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong

lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp, thuế nhà nước 59Góp phần giáo dục, nâng cao ý thức người dân và doanh nghiệp

trong việc chấp hành pháp luật của nhà nước 60

Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa don, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nưó’c 60

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quă định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 66

Ban hành các án lệ mẫu làm cơ sở tham khảo thống nhất cho định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 66Nâng cao trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng trong

định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 68

3.2.

3.3.

3.3.1

3.3.2

Trang 7

3.3.3 Tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành nhằm phối hợp

hiệu quả giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ

thu nộp Ngân sách Nhà nước 70

3.3.4 Tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 72

Tiểu kết Chương 3 74

KÉT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 80

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bô luât hình sư• • •

CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng

DWT: Deadweight tonnage/Trọng tải toàn phần

GTGT: Giá trị gia tăng

Trang 9

MỞ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Trong nền kinh tế thị trường, ngày càng nhiều các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau được thành lập và hoạt động, tạo nên “bức tranh” sôi động về kinh tể của Việt Nam, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (NSNN) Theo số liệu thống kê, hiện

cả nước có hơn 767.737 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, trong

đó khoảng 97% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ [321 Tuy nhiên, đi cùng với đó là mặt trái của kinh tế thị trường, là sự xuống cấp về đạo đức doanh nghiệp, khiến không ít doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, vì mục tiêu có được lợi nhuận đã và đang bằng mọi giá, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Trong số những hành vi phạm tội mà các tổ chức kinh tế có thể vi phạm, nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN đang ngày một gia tăng, đáng báo động về số lượng, tinh vi về phương thức thủ đoạn, trở thành loại tội phạm gây nhức nhối trong xã hội

Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 đã có quy định về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại Điều 164a và tiếp tục được kế thừa tại Điều 203 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) kèm theo nhiều văn bản quy phạm dưới luật hướng dẫn thi thành Đây là cơ sở pháp lý cho hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm này Tuy nhiên, quy định xử lý tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN trong luật hình sự hiện hành đang tồn tại nhiều bất cập cả về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng, không chỉ tạo kẽ hở cho các đối tượng phạm tội lợi dụng trục lợi mà còn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong

1

Trang 10

khởi tô, điêu tra, truy tô, xét xử, đặc biệt trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt Định tội danh và quyết định hình phạt không đúng người đúng tội, có thể dẫn đến một bản án oan sai người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, từ đó làm giảm hoặc mất đi ý nghĩa, tác dụng cùa hình phạt.

Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương, là “cửa ngõ” ra biển cùa các tỉnh, thành phố phía Bắc Với vị thế quan trọng như vậy, hàng năm, thành phổ Hải Phòng là một trong những địa phương có nguồn thu nộp NSNN đứng vào hàng đầu trên toàn quốc (sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) mà một trong những nguồn đóng góp chính vào NSNN chính là nguồn thu từ hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tính đến ngày 20/4/2020, Hài Phòng có 20.071 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 8,3% khu vực Đồng bằng sông Hồng, chiếm 2,6% cả nước) [27], Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, tội phạm in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN cũng diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều phương thức thủ đoạn đa dạng, tinh vi Đặc biệt trong thời gian gần đây, cơ quan tiến hành tố tụng Hải Phòng đã phát hiện, điều tra khởi tố, khởi tố nhiều vụ án hình sự liên quan đến hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ, với số lượng lớn, chiếm đoạt NSNN hàng trăm tỷ đồng

Thực tiễn xét xử tội phạm in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian qua

đã cho thấy hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Toà án là đúng pháp luật Tuy nhiên, từ những bất cập, vướng mắc, chưa có cách hiểu thống nhất của BLHS về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp NSNN, từ trình độ của người tiến hành tố tụng còn hạn chế và các yếu tố tác động khác làm cho quá trình định tội danh và quyết định hình phạt còn có sai sót nhất định, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi dẫn đến nhiều bản án chưa đúng người đúng tội, làm cho án bị sửa, bị hủy còn

2

Trang 11

nhiêu Ngoài ra, có nhiêu vụ án khó phát hiện, hoặc nhiêu vụ án được phát hiện thì chậm việc điều tra, truy tố, nhiều vụ án bị đình chỉ điều tra, thậm chí

có các vụ án đã được khởi tố nhưng còn chưa thống nhất, gây tranh cãi về định tội danh và hình phạt

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại địa bàn thành phố Hải Phòng để từ đó đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện là cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

Nhận thức được tầm quan trọng đó, tác giả đã chọn đề tài “Định tội

danh đoi với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng) ” để làm luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành Luật hình sự

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN được sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu, có thể chia thành các nhóm công trình nghiên cứu sau:

2.1 Các nhóm công trình nghiên cứu nhũng vấn đề lý luận về định tội danh

Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như cuốn: "Định tội danh và

QĐHP” của tác giả Dương Tuyết Miên do NXB Lao động - Xã hội xuất bản

2007, sách "Định tội danh và QĐHP trong Luật hình sự Việt Nam ” của TS

Lê Văn Đệ do NXB Công an nhân dân xuất bản năm 2010, "Giáo trình luật

hình sự" (Phần chung), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2019 do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; "Giáo trình luật hình sự" (Phần chung), Nxb ĐHQGHN,

Hà Nội, 2019 do PGS TSKH Lê Văn Cảm chủ biên, giáo trình "Định tội

danh và áp dụng hình phạt” của PGS TS Trần Văn Độ, Học viện Tòa án,

3

Trang 12

NXB Công an nhân dân năm 2019 Các công trình nghiên cứu này đã đê cập tới những vấn đề lý luận về định tội danh cũng như những quy định của BLHS về

hệ thống hình phạt, định tội danh và các căn cứ quyết định hình phạt

Bên cạnh đó, còn có các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín như Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật hoặc các bài nghiên cứu trong các hội nghị, hội thảo, các số chuyên đề Đây là nguồn tài liệu phong phú nghiên cứu về định tội danh, quyết hình phạt đối với tội phạm nói chung trong đó có tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

Ngoài ra còn có các luận văn, có thể kể đến: Nguyễn Thanh Dung, (2012)

“Định tội danh đối với các tội phạm về ma túy ” Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật,

Đại học Quốc gia Hà nội; Nguyễn Hữu Biên (2015) “Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành pho hà nội) ” Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật,

Đại học Quốc gia Hà nội; Bùi Kim Châu Nghĩa (2017) “Định tội danh tội giết người theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tình Bình Định", Viện Khoa

học xã hội Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Nhìn chung, các công trình này tập trung vào những vấn đề lý luận và pháp lý về định tội danh đối với một nhóm tội phạm cụ thể, có liên hệ với thực tiễn trên một địa bàn nhất định, từ đó• X • • ' • • • • • '

đề xuất nhóm các giải pháp hoàn thiện

2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chúng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

Có khả nhiều các luận văn nghiên cứu về nội dung này, tiêu biểu có thể kể đến: (1) Luận văn: “Đặc điểm hình sự của tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT và giải pháp phòng ngừa ” của tác già Ngô Thị Thu Thủy, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2003, (2) Luận văn thạc sĩ “Tội in, phát hành,

4

Trang 13

mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Phan Văn Hoàn, Học viện Khoa học xã hội, 2013; (3) Luận văn thạc sĩ "Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ ” của tác giả Chu Ngọc Quang, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2017; (4) Luận văn thạc sĩ

"Hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn và các biện pháp phòng, chống” của tác giả Trần Hương Thủy, Trường Đại Học cần Thơ, 2016

Bên cạnh đó, còn có các bài báo đăng trên một số tạp chí có uy tín như (1)

Bài viết "Thành lập 8 Công ty "ma” để mua bán hóa đơn hàng trăm tỷ đồng”

của tác giả Ngọc Diệp, Doanh nhân và pháp luật, số 33 (308), trang 14-14; (2) Bài viết "Cần hướng dẫn giải thích một sổ quy định của Bộ luật hình sự về các tội liên quan đến hóa đơn giá trị gia tăng” của tác giả Hoàng Thị Liên, Kiềm

sát, 2013, số 4, trang 42- 44; (3) Bài viết "Người bán hóa đơn phạm tội gì” của

tác giả Hà Đăng, Nguyễn Thùy Linh, Tóa án nhân dân, 2005, số 11, trang 17-19; (4) Bài viết "Bán hóa đơn giá trị gia tăng (VAT) đê người mua họp thức hỏa đầu

vào và kê khai khấu trừ thuế: người bán hỏa đơn phạm tội gì?" của tác giả Trần

Thanh Phong, Tòa án nhân dân, 2005, số 7, trang 27-31; (5) Bài viết "Hành vi

mua và bản hóa đon thuế giá trị gia tăng phạm tội gì” của tác giả Phạm Dương

Thu, Dương Tuyết Miên, Tòa án nhân dân, 2005, số 13, trang 23-28; (6) Bài viết

"Tội phạm mua bán, sử dụng trái phép hóa đon” của tác giá Bùi Minh Thanh, Tạp chí Dân Chủ và Pháp luật, 2003, số 8, trang 24-27 Các công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

Từ những phân tích tình hình nghiên cứu nói trên, tác giả có thể đi đến kết luận rằng hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về định tội danh, hoặc nghiên cứu một vài góc độ có liên quan đến đề tài Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán

5

Trang 14

trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, đặt trong môi liên hệ với thực tiễn xảy ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng Do đó, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này, không có sự trùng lặp với bất kỳ một công trình nghiên cứu nào trước đó.

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và những của quy định của pháp luật về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN cùng với sự tổng kết thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải phòng, luận văn đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự cũng như nâng cao hiệu quả định tội danh đối với tội

in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ đặt ra đối với Luận văn như sau:

- Phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

- Đánh giá thực tiễn định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN xảy ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong đó đề cập tới những kết quả đạt được cũng như chỉ ra những hạn chế tồn tại và nguyên nhân

- Đe xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN xảy ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng

6

Trang 15

3.2 Phạm vi nghiên cún

Phạm vi về nội dùng'. Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn ở những vấn đề lý luận và pháp lý định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN được quy định trong luật hình

sự Việt Nam

Phạm vi về thời gian: Khảo sát thực tiễn việc định tội danh đối với tội• C7 • • • • •

in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN từ năm 2015-2020

về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát, nghiên cứu thông qua các bản án trên

địa bàn thành phố Hãi Phòng

4 Phương pháp nghiên cứu cùa đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp và phòng chống tội phạm, đế thực hiện Luận văn, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh và đối chiếu; phương pháp thống kê, nghiên cứu các văn bản pháp luật cũng như số liệu thống kê trong các báo cáo của tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng và khảo sát thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt các vụ án in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN điển hình trên địa bàn thành phố Hải Phòng đe giải quyết các nhiệm vụ đặt ra của luận văn

5 Những đóng góp mói của đề tài

Trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam cùa dân, do dân và vì dân hiện nay, việc nghiên cứu đế làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN trên địa bàn thành phố Hải Phòng sẽ góp phần bổ sung hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về định tội danh

7

Trang 16

đôi với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đon, chứng từ thu nộp NSNN Luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận cụ thể:

Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cũng như nghiên cứu, bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Trên cơ sờ đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại địa bàn Thành phố Hải Phòng, chỉ ra các bất cập, tồn tại, nguyên nhân đề từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện

về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu cho các nhà lập pháp cân nhắc, xem xét để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định cùa pháp luật về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Đây cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt đối tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Luận văn còn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu giảng dạy, học viên, sinh viên các cơ sở đào tạo luật quan tâm đến lình vực này

6 Ket cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 3 chương chính:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

Chương 2 Thực tiễn định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại thành phố Hải Phòng

Chương 3. Đe xuất một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

8

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÈ ĐỊNH TỘI DANH

ĐÓI VỚI TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN,

CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Khái niệm, ý nghĩa của định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

1.1.1 Khái niệm định tội danh đoi với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm tội ìn, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp Ngăn sách Nhà nước

Trước khi đề cập đến khái niệm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước, thì cần làm sáng tổ khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

Trong quá trình xuất kinh doanh và phân phối phẩm hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân, hóa đơn xuất hiện phổ biến như một bằng chứng chứng minh giao dịch mua bán cũng như đàm bảo quyền lợi của các bên trong giao dịch Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “Hóa đơn là giấy người bán

đưa cho người mua hàng đê là bằng chứng đã trả tiền ” [25, tr 472] mà cụ

thể hơn đó là “giấy ghi các chỉ so như: tên người mua hàng, loại hàng bán ra, giá tiền đê làm chứng từ’’ [2, tr 818],

Dưới góc độ pháp lý chuyên ngành, hóa đơn được hiểu là:

Chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé

có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đối, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ [7, Điều 3, Khoản 1],

9

Trang 18

Tuy nhiên, đê phản ánh đúng hơn vê bản chât của hóa đơn trong nên kinh tế thị trường thì khái niệm về hóa đơn đã có sự thay đổi, theo đó "Hóa

đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bản hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật” [8, Điều 3, Khoản 1] Hiện nay, khái niệm về hóa đơn theo quy định pháp luật về thuế có sửa đối như sau: "Hóa đơn là

chứng từ kế toán do tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng hỏa, cung Cấp dịch vụ theo quy định của luật kế toán ” [3, Điều 3, Khoản 1].

Hóa đơn có liên quan đến chứng từ thu nộp thuế nói riêng và chứng từ thu nộp NSNN nói chung Chứng từ thu nộp NSNN có thể hiểu là ‘"các chứng

từ liên quan đến toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường họp được khoán chi phí hoạt động thì được khẩu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tô chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương” Hóa đơn là chứng từ,

chứng từ thu nộp NSNN nói chung, chứng từ thu nộp thuế nói riêng cũng là chứng từ được in, phát hành, quản lý, sử dụng theo quy định của Luật thuế, Luật quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác dùng để quản lý thu thuế cho NSNN Hóa đơn vừa là chứng từ dùng làm cơ sở ban đầu cho việc kê khai, khấu trừ, hạch toán chi phí, xác định chi phí thuế, hoàn thuế vừa

là cơ sở cho viện thanh tra, kiểm tra của Cơ quan thuế đối với tình hình hoạt động xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm xác định chính xác nghĩa

vụ thuế đối với Nhà nước, qua đó kịp thời phát hiện ra những trường hợp gian lận thuế, trốn thuế, chiếm đoạt thuế của các đối tượng liên quan bằng cách lợi dụng những chính sách này đế thực hiện các hành vi in, phát hành, mua bán

10

Trang 19

trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN bao gồm:

Hóa đơn xuất khẩu dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hóa đơn giá trị gia tăng; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tố chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng; các hoá đơn khác gồm: tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm, và phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng; Lệnh thu nộp NSNN, giấy nộp tiền vào NSNN, bảng kê nộp thuế, biên lai thu NSNN và chứng từ phục hồi trong quản lý thu NSNN [4, Điều 2, Khoản 1]

Hiện này tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp NSNN được quy định tại Điều 203 BLHS năm 2015, qua đó, tác giả nhận thức được khái niệm về tội này như sau:

Tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp NSNN được hiêu là hành vi in, phát hành, mua bản hóa đơn, chứng

từ thu nộp NSNN ở dạng phô từ 50 so đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 so đến dưới 30 so hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách cố ý bởi cá nhân hoặc pháp nhân thương mại trong, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, thế hiện bằng việc in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ, thu nộp NSNN được quy định trong Bộ luật Hình sự mà theo quy định phải bị xử lý hình sự

1.1.1.2 Khái niệm định tội danh đổi với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

Được xem là hoạt động áp dụng pháp luật, định tội danh là một giai đoạn cơ bản trong nội dung của quá trình áp dụng pháp luật nhằm xác định

11

Trang 20

hành vi nguy hiêm cho xã hội trên thực tê đã thỏa mãn những yêu tô câu thành loại tội tương ứng nào được quy định trong BLHS Hiện nghiên cứu về vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau của học giả đưa ra khái niệm về định tội danh.

GS TSKH Lê Cảm quan niệm:

Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên

cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do LHS quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [6, tr 8]

PGS TS Lê Văn Đệ thì cho rằng:

Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện bởi các dấu hiệu của CTTP được pháp luật hình sự • • • • • JL JL • •quy định [11, tr 15],

GS TS Võ Khánh Vinh đưa ra định nghĩa:

Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lí khách quan được thực hiện, nhận thức đủng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua giai đoạn nhất định [24, tr.2OJ

12

Trang 21

Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể nhận thấy điểm chung thống nhất trong quan điểm của các nhà nghiên cứu là ghi nhận định tội danh

là việc xác định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế, hay nói cách khác là xác định xem các dấu hiệu trong CTTP tương ứng được quy định trong BLHS Từ sự phân tích trên có thể hiểu:

“Định tội danh chính là việc nhận thức, áp dụng pháp luật hình sự được thực hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chỉnh xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội đã thực hiện với các dấu hiệu của cẩu hình tội phạmJ • • •• • • X •tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự”.

Định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là một trường hợp cụ thể của định tội danh nói chung Từ quan nệm về định tội danh nói trên, có thế hiểu định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là việc xác định sự phù hợp của hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN đã thực hiện trên thực tế với những dấu hiệu CTTP của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN được quy định trọng BLHS Nếu các tình tiết thực tế của một hành vi phạm tội có phù hợp với dấu hiệu của CTTP được quy định cụ thể tại điều

203 của BLHS thì hành vi đó được xác định theo tội danh của cấu thành tội phạm in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

Từ sự phân tích trên có thể xây dựng khái niệm: Định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội JL • • • • • • • • phạm được quy định tại Điều 203 BLHS năm 2015.

1.1.2 Đặc điểm của định tội danh đoi với tội ỉn, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

Định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,

13

Trang 22

chứng từ thu nộp NSNN là một trường hợp định tội danh cụ thê, do đó, có các đặc điếm chung của định tội danh:

Thứ nhất, là hoạt động tiến hành tố tụng được tiến hành bởi cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Toà án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền

Thứ hai, việc định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN được tiến hành trên cơ sở áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Người định tội danh lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào đó được thực hiện trong thực tế khách quan

Thứ ba, hoạt động định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là một quá trình lô gích nhất định, là hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của trường hợp phạm tội cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước được quy định tại Điều 203 BLHS

Thứ tư, sau khi đối chiếu sự phù hợp giữa dấu hiệu thực tế của hành vi

in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN với dấu hiệu pháp lí của cấu thành tội phạm được mô tả trong BLHS tại điều 203 thì

cơ quan có thấm quyền sẽ đưa ra kết luận người đó phạm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN theo quy định tại điều

14

Trang 23

danh là đúng bởi lẽ định tội danh đúng là một biêu hiện của việc thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng pháp luật và thể hiện đúng ý chí nguyện vọng của nhân dân được cụ thể hóa trong pháp luật, từ đó bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của Nhà nước, cùa con người và của công dân Việc định tội danh đúng tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp NSNN có ý nghĩa cụ thể như sau:

Thứ nhất là ở góc độ chính trị xã hội: định tội danh đúng tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là sự thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt để và ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp cùa các cơ quan có thẩm quyền, đó là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước Ngoài ra, định tội danh đủng còn góp phần củng cố lòng tin cùa người dân vào công lý và sự thực thi quyền lực nhà nước một cách nghiêm túc, minh bạch của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời thể hiện hoạt động áp dụng pháp luật hiểu quả, khẳng định trình độ chuyên môn cúa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Thứ hai là về phương diện pháp lý: định tội danh đúng tội in, phát

hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN có ý nghĩa quyết định trong vụ án hình sự bởi nó là cơ sở đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự

về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự bằng cách đó, định tội danh đúng sẽ góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Định tội danh đúng tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp NSNN là tiền đề cho việc quyết định hình phạt một cách chính xác,

là cơ sở để áp dụng đúng các quy định tố tụng hình sự, bảo đảm việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đủng pháp luật, không bỏ lọt người phạm tội hay

15

Trang 24

làm oan người vô tội Định tội danh được thực hiện đê đi đên việc quyêt định hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không; xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội Ngược lại, nếu định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt hậu quả tiêu cực như: Không bảo đảm công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt tội phạm, vi phạm thô bạo danh dự nhân phẩm, các quyền tự do dân chủ của công dân; làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp Trong thực tế, những vụ việc oan sai chủ yếu bắt nguồn từ đánh giá chứng cứ phiến diện, thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam, suy diễn chủ quan từ đó làm giảm đi uy tín của các

cơ quan tiến hành tố tụng cũng như giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

1.2 Cơ sở pháp lý cùa định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng tù' thu nộp Ngân sách Nhà nước

1.2.1 Bộ luật Hình sự• • •

Đe định tội danh đúng trên thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào quy định của BLHS đối với từng tội danh, so sánh, đối với hành vi trên thực tế xem có phù hợp không, về mặt cơ sở pháp lý chung, Bộ luật Hình

sự là văn bản luật duy nhất quy định tội phạm và hình phạt Do đó, Bộ luật Hình sự là cơ sở pháp lý duy nhất cùa việc định tội danh

BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của Việt Nam ra đời trên cơ sờ của nền kinh tế bao cấp và tình hình phạm tội thời kỳ đó, có nhiều hành vi phạm tội chưa xuất hiện, trong đó có các hành vi phạm tội liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Khi nền kinh tế thị trường phát triển, các quy định liên quan đến điều hành, vận hành kinh tế cũng cỏ nhiều sự thay đối, đặc biệt

là trong lĩnh vực thuế, hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ NSNN qua việc sử dụng hóa đơn GTGT đã xuất hiện Chính vì vậy, văn bản pháp

16

Trang 25

luật hình sự đâu tiên quy định riêng vê các tội có liên quan đên hóa đơn, chứng từ có thể xác định là Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT-BCA- TANDTC-VKSNDTC-BTP [4], Thông tư quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi mua bán và sử dụng trái phép hoá đơn giá trị gia tăng, kịp thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến hóa đơn, chứng từ, đặc biệt là hóa đơn giá trị gia tăng Tuy nhiên, Thông tư còn mang tính “chắp vá”, “chữa cháy” do những hành vi phạm tội “mới” phát sinh do nền kinh tế thị trường, cũng như những sai sót, yếu kém trong quản lý kinh tế của Nhà nước đã tạo cơ hội cho tội phạm sử dụng những kẽ hở pháp luật nên việc vận dụng những tội danh đã được quy định trong BLHS còn mang tính chất khiên cưỡng, chưa phản ánh đúng bản chất của từng hành vi.

Nhận thấy được những bất cập trên, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) lần đầu tiên đã cụ thể hóa hành vi liên quan đến in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN thành một điều luật tại Điều 164a Điều luật này đã cụ thể hóa tội danh liên quan đến hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, không còn quy định cụ thể động cơ, mục đích phạm tội để xác định tội danh như Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT-BCA- TANDTC-VKSNDTC-BTP, đồng thời mở rộng phạm vi đối tượng tác động của tội phạm liên quan đến hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, không chỉ giới hạn đối với hóa đơn GTGT mà ngay cả đổi với các hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN cũng là đối tượng tác động

BLHS năm 2015 đã kế thừa BLHS năm 1999 về việc quy định liên quan đến tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại Điều 203 với quy định một cách đầy đủ hơn, chi tiết hơn, phản ánh

sự tiến bộ của trình độ lập pháp về tội này trong pháp luật hình sự Việt Nam

17

Trang 26

Khi định tội danh, người định tội danh căn cứ vào quy định pháp luật tại phần chung và quy định cụ thể tại điều 203 của BLHS năm 2015 để xác định hành vi được thực hiện có cấu thành tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN hay không.

1.2.2 Bộ luật Tổ tune hình sự

BLTTHS có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác định trình tự, thủ tục mà cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần tuân thủ trong quá trình tiến hành tố tụng nói chung và định tội danh nói riêng, góp phần làm cho định tội danh đúng người đúng tội Thêm nữa, mặc dù BLTTHS không có các quy phạm trực tiếp liên quan đến hoạt động định tội danh nhưng các quy định về chứng cứ, về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại là những căn cứ không thể thiếu, đàm bảo cho hoạt động định tội danh được chính xác hiểu quả, “tránh oan sai trong quá trình các cơ

quan, cá nhân được nhà nước trao quyền tiến hành hoạt động này ” [26, tr 14],

1.2.3 Cẩu thành tội phạm của tội in, phát hành, mua bản trái phép hóa đon, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong LHS, được hợp thành bởi 4 yếu tố: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan Đối với các tội phạm cụ thể, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý duy nhất để định tội Đây là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ đế xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Khi xem xét các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, cần xem xét cả những quy định chung và phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự, để

từ đó làm sáng tở cấu thành tội phạm và những dấu hiệu của nó Đe định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước thì tội phạm đó phái thỏa mãn các bốn yếu tố cấu thành

cu thể như sau:

18

Trang 27

a Khách thê của tội phạm

Khách thể của tội phạm là yếu tố không thể tách rời của tội phạm, tội phạm bao giờ cũng xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng luật hình sự [5, tr 137] Tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp NSNN xâm phạm chế độ quản lý nhà nước đối với các loại hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN đang lưu thông trên thị trường

Đối tượng của tội phạm bao gồm: a) Hóa đơn xuất khẩu dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hóa đơn giá trị gia tăng; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng; các hóa đơn khác gồm: tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bão hiểm, và phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng; b) Lệnh thu nộp NSNN, giấy nộp tiền vào NSNN, bảng kê nộp thuế, biên lại thu NSNN và chứng từ phục hồi trong quản lý thu NSNN

b Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan là những biếu hiện của tội phạm ra bên ngoài bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu biểu hiện sự thực hiện hành vi phạm tội và gắn liền với hành vi như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian, địa điếm và hoàn cảnh phạm tội [5, tr 145] Các hành vi khách quan được phản ánh tại Điều 203 BLHS năm 2015 thể hiện dưới dạng hành động, bao gồm:

Hành vi in trái phép hỏa đơn chứng từ thu nộp NSNN: là hành vi tự in

hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đây đủ các nội dung theo quy định của pháp luật; In hóa đơn giã hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả Có thể liệt kê như các doanh nghiệp không

19

Trang 28

đủ điêu kiện tự in hóa đơn nhưng không đặt in hóa đơn mà tự in hóa đơn đê sử dụng; đặt in hóa đơn không đúng với hợp đồng đã ký với bên đặt in về số lượng, ký hiệu, số thứ tự; in hóa đơn không theo mẫu quy định; in hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy

đủ các nội dung theo quy định của pháp luật; in hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả

Hành vi phát hành trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN: là hành

vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng quy định Hành vi này được thể hiện thông qua việc thông báo phát hành hóa đơn mà tờ thông báo phát hành hóa đơn thiếu một trong các nội dung mẫu thông báo phát hành hóa đơn, mẫu số hóa đơn, loại hóa đơn, ký hiệu hóa đơn, ngày bắt đầu sữ dụng, ngày lập tờ thông báo phát hành, chừ ký của người đại diện theo pháp luật ; hoặc phát hành hóa đơn không theo đúng mẫu thông báo phát hành; không thực hứng hiện việc thông báo điều chỉnh hóa đơn khi có thay đối nội dung đã thông báo phát hành, hoặc không thông báo hóa đơn mới khi thay đổi mẫu hóa đơn

Hành vi mua bán trái phép hỏa đơn chứng từ thu nộp NSNN gồm các

hành vi: a) Mua bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo quy định, b) Mua, bán hóa đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hóa, dịch vụ kèm; c) Mua, bán hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ

sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa một dịch vụ; d) Mua, bán, sử dụng hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ giữa các liên cùa hóa đơn Những hành vi khách quan trên thể hiện cụ thể thông qua việc vi phạm các điều kiện về chủ thể được phép mua, bán hóa đơn, chứng từ; bán

20

Trang 29

hóa đơn đã mua mà chưa lập đê tô chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuê hoặc thanh toán vốn ngân sách; khai không đúng điều kiện để được mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành; cơ quan thuế bán quá số lượng hóa đơn được phép bán lần đầu cho các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh (quá một quyền - năm mươi số cho mồi loại hóa đơn).

Hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp NSNN chỉ cấu thành tội phạm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Hóa đơn, chửng từ thu nộp NSNN ở dạng phôi từ 50 số trở lên; (2) Hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số trở lên sổ; (3) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên Tính trái phép ở đây được được hiểu là sự thể hiện ở chỗ in, phát hành, mua bán không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép của cơ quan có thẩm quyền

c Mặt chủ quan của tội phạm

Là những biêu hiện tâm lý bên trong của người phạm tội, bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Lồi của người phạm tội là cố ý trực tiếp bởi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiếm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra Động cơ và mục đích phạm tội đối với tội danh này không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

d Chủ thê của tội phạm

Chủ thể có thể là cá nhân và pháp nhân thương mại Chù thể của tội phạm là cá nhân phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt tuồi chịu trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể Chủ thể của tội• • * * 1 < • • • phạm là pháp nhân thương mại là một tồ chức được thành lập hợp pháp và mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.• • • • •

Tại Điều 8, Điều 12, Điều 75 BLHS 2015 thì chủ thể của “Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN" đối với cá nhân

21

Trang 30

phải là người từ đủ 16 tuôi trở lên, có năng lực TNHS thực hiện một trong các hành vi phạm tội kể trên và là cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đon; cá nhân hoặc người của tố chức mua hàng hóa, dịch vụ Ngoài ra, chủ thề của tội phạm này còn có pháp nhân thương mại

đủ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.• • • • • •

1.3 Các giai đoạn của quá trình định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đon, chứng tù’ thu nộp Ngân sách Nhà nước

Quá trình định tội danh là quá trình xác định sự đồng nhất của các tình tiết cơ bản, điền hình nhất của một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm nào đó đã được quy định trong BLHS Đây là một quá trình hoạt động tư duy phức tạp và trải qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Xác định đủng, khách quan các tình tiết thực tế của

vụ án để xác định hành vi đang xem xét có dẩu hiệu của tội phạm hay không?

Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra, Viện kiềm sát và Tòa án cần phải xác định được tất câ các tình tiết của vụ án phù hợp với hiện thực khách quan Đe đạt được điều đó, cần phải áp dụng các biện pháp hợp pháp được Bộ luật TTHS cho phéo, không được dùng những biện pháp trái pháp luật để thu thập chứng cứ

Các định sự thật khách quan là tiến hành điều tra và xét xử vụ án một• • • • • cách vó tư, không định kiến, suy diễn mà phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập và đánh giá theo quy định của pháp luật Đe định tội danh đúng, cần phải xác định, tìm kiếm chân lý khách quan, chân lý vật chất về vụ án - tức là phải xác định đầy đủ và chính xác các tình tiết cần thiết cùa hành vi phạm tội Các tình tiết này liên quan đến khách thể và mặt khách quan của tội phạm

Xác định sự thật của vụ án một cách toàn diện, đầy đủ xem xét hành vi • • • • • • ' Jphạm tội trên các mặt của các yếu tố cấu thành tội phạm trong tổng thể, không

22

Trang 31

tách rời nhau và cân phải thu thập, kiêm tra, đánh giá tât cả những chứng cứ thu thập được, bao gồm chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gốc, chứng cứ sao chép, vật chứng, lời khai, biên bản

Ớ giai đoạn đầu tiên này, người tiến hành tố tụng cần làm sáng tỏ hành vi

cụ thế đang được xem xét có dấu hiệu tội phạm không, hành vi đó là vi phạm pháp luật hành chính hay dân sự Việc phân biệt tội phạm với các hành vi không phải là tội phạm được căn cứ vào các dấu hiệu của tội phạm Tiêu chuẩn cơ bản của việc phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác là mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi vi phạm đó, bởi vì tính chất nguy hiếm cho xã hội là dấu hiệu của mọi sự vi phạm, còn mức độ nguy hiểm là đặc tính khách quan tương ứng với từng hoại vi phạm pháp luật Tội phạm là những hành vi có tính chất, mức độ gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, nhiều trường hợp đã xảy ra nhầm lẫn giữa vi phạm hành chính và tội phạm do phap sluaatj chưa quy định rõ ràng từng giới hạn cụ thể cho

sự phân biệt bởi hành vi bị quy định có thể là tội phạm trong trường hợp này nhưng ở trường hợp khác lại chỉ là vi phạm pháp luật khác

Như vậy, ở giai đoạn đầu tiên của quá trình định tội danh, ngườ tiến hành định tội danh xác định được hành vi đang xem xét có phải là tội phạm không, nếu xác định được hành vi đó là tội phạm thì quá trình định tội danh sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo

Giai đoạn thứ hai: Người tiến hành định tội danh phải làm sáng tỏ các dấu hiệu của hành vi phạm tội, tức phải làm sáng tỏ hành vi phạm tội đó có thuộc loại tội phạm nào và được quy định trong chương nào của BLHS mà cụ thê ở đây là có thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm vi in, phát hành, mua bán trải phép hỏa đơn, chứng từ thu nộp NSNN được quy định tại điều

203 BLHS năm 2015 hay không?

Trong thực tiễn định tội danh, sau khi xác định đúng đắn, đầy đủ các

23

Trang 32

tình tiêt thực tê của vụ án, người tiên hành tô tụng định tội danh phải xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện là tội phạm được quy định trong chương nào của Bộ luật hình sự quy định Tiếp theo là xác định xem hành vi phạm tội của bị cáo nằm ở Cấu thành loại tội phạm nào, điều nào của BLHS quy định.

Khi thụ lý hồ sơ vụ án, người tiến hành tố tụng phân tích hành vi của bị can trong vụ án đế nam được tất cả hành vi, các tình tiết của vụ án; xác định hậu quả, mối quan hệ nhân quả do hành vi gây ra; khách thể bị xâm hại, mặt chủ quan và chủ thể Hành vi phạm tội ở giai đoạn nào, đã hoàn thành chưa, nếu chưa hoàn thành thì có thỏa mãn cấu thành của tội nào không; phạm tội một lần, nhiều lần hay phạm tội kéo dài Việc tóm tắt và phân tích vụ án sẽ giúp phát hiện ra những điểm mấu chốt giúp cho việc giải quyết vụ án một cách mau chóng, hiệu quả

Quá trình định tội danh vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN ở giai đoạn này thực chất là cân phân tích hành vi thực tế của người được cho là có hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN xem có thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định tại điều 203 BLHS năm 2015 hay không?

Để định tội danh đúng thì ở giai đoạn này đòi hỏi người tiến hành định tội danh phải nhận thức đúng nội dung của điều 203 BLHS, nắm chắc các dấu hiệu pháp lý của tội danh này Đặc biệt tội danh này có nhiều điểm có thế gây nhầm lẫn trong việc định tội danh đối với các tội danh khác trong chương các nhóm tội phạm về kinh tế Ví dụ như cùng là hành vi mua hóa đơn giá trị gia tăng đế hợp pháp hóa các nguyên liệu đầu vào, nếu không phân biệt cụ thể, rất

dễ gây nhàm lẫn dẫn đến định sai tội danh giữa tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN theo điều 203 BLHS năm 2015 hoặc tội trốn thuế theo điều 200 của BLHS năm 2015

24

Trang 33

Do đó, đây là giai đoạn hêt sức quan trọng trọng định tội danh, theo đó người tiến hành tố tụng cần lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự tương ứng để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các tình tiết của hành vi được thực hiện trên thực

tế, trên cơ sờ đó đưa ra kết luận có cơ sở và có căn cứ về sự đồng nhất giữa hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành tội phạm được quy định trong điều hoặc khoản của điều luật tương ứng

Giai đoạn thứ ba: Sau khi đã xác định được hành vi phạm tội thỏa mãn tội danh được quy định tại Điều 203 BLHS năm 2015 thì cần xác định rõ định tội danh theo cấu thành cơ bản hay cấu thành tăng nặng tại điểm nào, khoản nào của Điều 203 BLHS năm 2015.

Khi thụ lý hồ sơ vụ án, người tiến hành tố tụng phân tích hành vi của

bị can trong vụ án để nắm được tất cả hành vi, các tình tiết của vụ án; xác định hậu quả, mối quan hệ nhân quả do hành vi gây ra; khách thể bị xâm hại, mặt chủ quan và chủ thế Nếu hành vi của người phạm tội thoa mãn hành vi hành vi: “in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu

nộp ngăn sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 sổ đến dưới 30 sổ hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng” thì sẽ định tội danh theo khoán 1 điều 203 BLHS năm 2015

Nếu người phạm tội phạm tội thuộc các trường hợp sau đây thi sẽ định tội danh theo quy định tại khoán 2 điều 203 BLHS năm 2015

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 sổ trở lên hoặc hóa đơn, chứng

từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;

25

Trang 34

đ) Thu lợi bât chính 100.000.000 đông trở lên;

e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước ỉ00.000.000 đồng trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

Trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội sẽ định tội danh theo khoản

26

Trang 35

Tiêu kêt Chương 1

Trong Chương 1 của Luận văn, tác giá đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Qua nghiên cứu các nội dung này, tác giả đã đạt được một số kết quả như: (1) phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN (2) Phân tích được cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN; (3) Phân tích được Các giai đoạn của quá trình định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước

Các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và pháp luật về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, giúp cho việc nhận thức định tội danh đối với tội phạm này được chính xác và toàn diện hơn Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của Chương 1 là cơ sở đế tác giã nghiên cứu về thực tiễn định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn thành phố Hải Phòng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN trong Chương 3 của Luận văn

27

Trang 36

CHƯƠNG 2 THựC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐÓI VỚI TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHÚNG TÙ THU NỘP NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Thực tiễn định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước tại thành phố Hái Phòng

2.1.1 Các kết quả đạt được trong định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước tại thành phố Hải Phòng

Trong thời gian qua, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã phát sinh rất nhiều các hành vi phạm tội liên quan đến “Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN” Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện số lượng công việc khá lớn, trong đó có nhiều vụ án mà việc xác định tội danh là không hề đơn giàn, điến hình một số vụ việc sau:

Tháng 9/2020, Công an huyện Thủy Nguyên, thành phổ Hải Phòng đã khởi tố bị can và bắt tạm giam ông Ngô Văn Phát (56 tuổi, quê huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) về hành vi mua bán hóa đơn GTGT gây thiệt hại cho nhà nước với số tiền 17.000 tỉ đồng Cùng với việc khởi tố bị can Phát, Công an huyện Thủy Nguyên cũng khởi tố 6 cá nhân khác liên quan đến vụ án trong

đó có 01 nguyên Chi cục trưởng Chi cục thuế huyện Thủy Nguyên Vụ án này

có dính líu tới 14 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng, trong đó 13 doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, ngừng hoạt động chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế

Vụ án gần đây nhất (tháng 7/2021) liên quan đến tội này đã được cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng hoàn tất quá trình điều tra và đã

28

Trang 37

chuyển hồ sơ sang cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng để truy

tố 4 cá nhân về hành vi “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN” Các bị can bao gồm: Nguyễn Thị Hồng (SN 1983, thường trú tại Q Hồng Bàng, TP Hải Phòng), Trần Thị Trà (SN 1986, thường trú tại Q Hải

An, TP Hải Phòng), Nguyễn Thị Dung (SN 1988, thường trú tại H Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) và Đào Thị Hương (SN 1990, thường trú tại H Tiền Hải, T Thái Bình) Thủ đoạn phạm tội của những cá nhân này được thực hiện bằng cách thức mua bán trái phép hóa đơn GTGT thông qua nhiều công ty khác nhau Bằng thủ đoạn trên, căn cứ các tài liệu thu thập được, cơ quan điều tra đã xác định bị can Hồng đã mua bán trái phép 787 số hóa đơn GTGT (liên 2) với tong số tiền hang hóa, dịch vụ chưa thuế ghi khống trên hóa đơn là 1.177.821.784.505 đồng; bán trái phép tổng số 3885 số hóa đơn GTGT (liên 2) với số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế ghi khống trên hóa đơn là 1.178.950.775.259 đồng tại các công ty Huy Hoàng, Hoàng Phát, Hoàng Huy, Đại Kim, Bình Minh, Mạnh Phát, Trường Phát, Hưng Phát Đạt Từ đó thu lời bất chính 760.831.061 đồng Bước đầu cơ quan điều tra xác định vụ án đã gây thất thu cho NSNN khoảng 116 tỷ đồng

Cũng trong tháng 7/2021, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã hoàn thành bản kết luận điều tra, chuyển hồ sơ đến Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị truy tố 6 cá nhân về hành vi “mua bán trái phép hóa đơn ” Các bị can Ngô Văn Hoàn, Nguyễn Văn Cường (SN 1982), Ngô Thanh Tuấn (SN 1979), Lương Đắc Nhất (SN 1975), Lê Thị Hòa (SN 1991), Trần Thị Thúy (SN 1986), đã sử dụng 14 công ty mua bán trái phép 10.255 hóa đơn GTGT, gây thất thoát cho NSNN hơn 248 tỷ đồng Nhóm đối tượng này đã thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian khá dài, từ năm 2015 cho đến khi bị phát hiện và xử lý

Số liệu của cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng trong 06

29

Trang 38

năm gân đây vê tình hình điêu tra, đê nghị truy tô đôi với hành vi phạm tội liên quan đến tội danh trên như sau là những minh chứng rõ ràng nhất về mức độ nguy hại và hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng Trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2021) đã có tổng số 80 vụ án với 239 bị can bị cơ quan điều tra đề nghị truy

2021, thì đã có tới 14 vụ án bị đề nghị truy tố với tổng số bị can lên tới con số

45 Con số này cũng xấp xỉ tống số vụ và bị can của cả năm 2020 Một điều nữa cũng rất đáng lưu ý đó là, số lượng cá nhân vi phạm hình sự đối với tội này trong một vụ chiếm sổ lượng khá lớn Theo biểu đồ cũng như dừ liệu được thống kê ở trên (xem Phụ lục biểu đồ 2.1), tỷ lệ số bị can/số vụ xấp xỉ

tỷ lệ 3:1 Xu hướng này chắc chắn sẽ còn tiếp tục phát triển trong nhiều năm tới Rõ ràng với những diễn biến như vậy rất cần sự quyết liệt và phối hợp đồng bộ trong thực hiện chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, từ cơ quan thuế, quàn lý thị trường, kiểm toán, hải quan, công an, kiềm sát, tòa án và sự phối kết hợp với các cơ quan hành chính nhà nước các cấp tại các địa phương,

đế từ đó ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh, tránh bỏ lọt tội phạm

Số liệu vụ án mà Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố

và Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử trong nhiều năm gần đây, một lần nữa minh chứng rõ ràng cho diễn biến tình hình phạm tội đối với tội

30

Trang 39

danh “Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN” diễn ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng Trong vòng hơn 5 năm (từ năm

2015 đến tháng 6 năm 2021) đã có tổng số 75 vụ án và 236 bị cáo bị xét xử về tội danh in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Tổng số vụ án bị xét xử về tội danh trên cũng tăng dần qua các năm, từ 09 vụ với 36 bị cáo bị xét xử trong năm 2015 đã tăng lên 11 vụ với 38 bị cáo bị truy

tố trong 6 tháng đầu năm 2021 (xem Phụ lục bảng 2.2)

Như đã trình bày ở trên, trong những năm tới, xu hướng phạm tội thuộc nhóm tội này còn tiếp tục diễn biến phức tạp và số vụ án sẽ còn tăng lên, vì vậy cần có những bản án nghiêm khắc, đù sức răn đe đối với những hành vi phạm tội thì mới mong giữ gìn được trật tự quản lý kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực thuế

2.1.2 Thực tiễn định tội danh theo cấu thành cơ bản của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng tù' thu nộp ngân sách nhà nước

Cấu thành cơ bản của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS năm 2015 Thực tiễn định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước tại Thành phố Hải Phòng trong những năm vừa qua cho thấy đa số các tòa án đều định tội danh đúng theo các dấu hiệu của các yếu tố cấu thành tội phạm và điều này được thế hiện thông qua các vụ án về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

a Khách thể của tội phạm

Khi định tội danh, cơ quan tiến hành tố tụng trước hết phải xem xét xem hành vi vi phạm của người phạm tội có xâm hại tới khách thể (khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp) được Luật Hình sự bảo vệ hay không? Và đối tượng tác động là gì?

31

Trang 40

Ví dụ: Bản án 25/2019/HS-ST ngày 18/04/2019 vê tội mua bán trái

phép hóa đơn của Toà án nhân dân quận Ngô quyền, thành phố Hải phòng

Ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo: Ngô Văn Phương, sinh ngày 20 tháng 09 năm 1989 tại Hải Phòng

Từ đầu năm 2017 đến tháng 5 năm 2018, để thực hiện việc mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) nhằm thu lợi bất chính, Ngô Văn Phương đã thuê người thành lập và trực tiếp điều hành các hoạt động mua bán trái phép hóa đơn GTGT tại Công ty TNHH đầu tư phát triển Văn Trường và Công ty TNHH Thương mại và Vận tải Thiên Vũ Phương đã bán tổng cộng 25 tờ hóa đơn GTGT của Công ty Văn Trường và Công ty Thiên Vũ cho 06 công ty với tổng doanh số ghi khống trên hóa đơn chưa thuế là 9.530.647.075 đồng, tổng

số tiền thuế là 943.858.468 đồng, thu lợi 155.233.329 đồng Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bẳn Cáo trạng Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm b Điều 32; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạt tiền bị cáo Ngô Văn Phương số tiền từ 210.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến cũa Kiếm sát viên, lời khai cùa các bị cáo

và các tài liệu tố tụng khác, Hội đồng xét xử quyết định: Căn cứ điểm đ khoản

32

Ngày đăng: 18/10/2022, 08:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Tài chính (2019), Thông tư số 68/2019/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một sổ điều của Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2018 về hóa đơn điện từ khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, ban hành ngày 30 thảng 09 năm 2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 68/2019/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một sổ điều của Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2018 về hóa đơn điện từ khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, ban hành ngày 30 thảng 09 năm 2019
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2019
5. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học, Nlỉững vấn đề cơ bán về khoa học hình sự, Phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nlỉững vấn đề cơ bán về khoa học hình sự, Phần chung
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Lê Cảm &amp; Trịnh Quốc Toàn (2011), Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành
Tác giả: Lê Cảm &amp; Trịnh Quốc Toàn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
7. Chính phủ (2002), Nghị định số 89/2002/NĐ-CP quy định về in, phát hành, sử dụng và quản lý hóa đon, ban hành ngày 07 thảng 11 năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 89/2002/NĐ-CP quy định về in, phát hành, sử dụng và quản lý hóa đon, ban hành ngày 07 thảng 11 năm 2002
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2018
23. Võ Khánh Vinh (1989), QĐHP: Một số vấn đề chung, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: QĐHP: Một số vấn đề chung, Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Năm: 1989
24. Võ Khánh Vinh (2003), Lý luận chung về định tội danh và hình phạt, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về định tội danh và hình phạt
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2003
25. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điên Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điên Tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
26. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn Hóa Thông tin, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông tin
Năm: 1999
27. Bryan A, Garner (2004), Black’s Law Dictionary, 9th edition, West Group. (34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Black’s Law Dictionary
Tác giả: Bryan A, Garner
Năm: 2004
28. Guy Canivet (2007), “The Court of Cassation: Looking Into The Future”, Law Quarter Review, (123), pp. 416. 28 (35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Court of Cassation: Looking Into The Future”, "Law Quarter Review
Tác giả: Guy Canivet
Năm: 2007
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (1998), Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Khác
29. Michel Troper, and Christophe Gregorczyk, Precedent in France, in Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tông sô vụ án in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,  chứng từ thu nộp NSNN đưa ra xét xử tại TAND Thành phố Hải Phòng - Định tội danh với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng) (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.2. Tông sô vụ án in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN đưa ra xét xử tại TAND Thành phố Hải Phòng (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w