1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài kiểm tra môn Định tội danh và quyết định hình phạt

7 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Kiểm Tra Môn Định Tội Danh Và Quyết Định Hình Phạt
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Định Tội Danh Và Quyết Định Hình Phạt
Thể loại bài kiểm tra
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 30,39 KB
File đính kèm fOLDER.zip (28 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài kiểm tra môn Lý luận và thực tiễn về định tội danh và quyết định hình phạt Đề bài 1 Anh (chị) hãy trình bày những yếu tố bảo đảm cho hoạt động định tội danh của Tòa án được đúng? 2 Khoảng 01 giờ n.

Trang 1

Bài kiểm tra môn: Lý luận và thực tiễn về định tội danh và quyết định hình phạt.

Đề bài

1 Anh (chị) hãy trình bày những yếu tố bảo đảm cho hoạt động định tội danh của Tòa án được đúng?

2 Khoảng 01 giờ ngày 30/5/2018, Nguyễn Thế A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 47L1-09.499 từ phòng trọ số 52/57 đường H, Thành phố B, tỉnh Đ

đi huyện K Khi A đến gần khu vực ngã ba đường D - G, phường T, thành phố

B, thì nhìn thấy chị Đỗ Thị Thùy D đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 81K4- 2176 đi ngược chiều A điều khiển xe quay lại và yêu cầu chị D dừng xe

để hỏi chuyện Chị D thấy người lạ nên không dừng xe, A đã điều khiển xe mô

tô của mình ép vào xe mô tô chị D, buộc chị D phải dừng lại Sau đó, A rút chìa khóa xe của chị D, rồi đe dọa, khống chế ép chị D đi bộ vào đường P khoảng 3 đến 4m, là nơi không có ánh sáng, người qua lại A dùng búa đóng đinh mang theo từ trước đe dọa và dùng tay bóp mạnh vào vai, cổ chị D để lấy 01 điện thoại hiệu Iphone 4 và thực hiện hành vi giao cấu với chị D Sau đó, A tiếp tục bắt chị

D phải đi vào nhà nghỉ A đưa chìa khóa xe cho chị D để chị D điều khiển xe chạy chậm phía trước còn A đi kèm phía sau cách khoảng 2-3m và chỉ đường Trên đường đi, Thế A nói với chị D “nếu có ý định bỏ chạy thì có người theo giết”, “nếu có ý định gì thì đừng trách” Đến trước cổng bệnh viện tỉnh Đ, A vào gửi xe mô tô tại bãi giữ xe của bệnh viện, sau đó chạy bộ theo xe chị D A giật lấy tay lái xe, bắt chị D ngồi phía sau, trên đường đi A liên tục đe dọa, A chở chị

D đến nhà nghỉ KV ở đường G, thành phố B Chị D khóc lóc, van xin, nhưng Thế A nói: “không khóc lóc van xin gì hết, việc này tao đã làm với nhiều người rồi” Tại nhà nghỉ A tiếp tục có hành vi giao cấu với chị D 02 lần Sáng ngày 31/5/2018, chị D làm đơn tố cáo hành vi của Thế A tại cơ quan công an

Nguyễn Thế A sau đó bỏ trốn, đến ngày 12/6/2018 đã ra trình diện trước Cơ quan công an thành phố B và bồi thường cho chị D 10 triệu đồng

Trang 2

Tại Bản Kết luận pháp y sinh dục số 545/PY-SD ngày 31/5/2018, Trung tâm Giám định pháp y - Sở y tế tỉnh Đ, kết luận: chị Đỗ Thị Thùy D bị bầm tím mặt trong trên vai trái gần 1.5cm; rách màng trinh đã hóa sẹo

Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố B, tỉnh Đ.: 01 chiếc điện thoại Iphone 4, màu trắng, trị giá 2.500.000 đồng

Tại Cáo trạng số 310/KSĐT-HS ngày 06/11/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B, tỉnh Đ truy tố Nguyễn Thế A về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 111 và “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản

2 Điều 133 Bộ luật hình sự

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HSST ngày 14/3/2019, Tòa án nhân dân Thành phố B, tỉnh Đ quyết định: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 08 năm tù về tội

“Hiếp dâm” Áp dụng khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thế A

04 năm tù về tội “Cướp tài sản” Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 12 năm tù Ngày 17/3/2019, A kháng cáo kêu oan Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 239/2019/HSPT ngày 06/7/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đ quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 141; khoản 1 Điều 168; điểm b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thế A 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”, 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 06 năm tù

Hỏi: Anh (chị) hãy cho biết việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với hành vi phạm tội của A tại Bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm của các Tòa án nêu trên đúng hay sai? Tại sao?

Trang 3

Bài làm Câu 1:

Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để so sánh đối chiếu, kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do Luật hình

sự quy định

Định tội danh của Tòa án là hoạt động định tội danh chính thức, là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể

do Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện Hậu quả của việc định tội danh do Tòa án thực hiện là bản án xác định người bị buộc tội là có tội hay không có tội, mức hình phạt và các hậu quả trách nhiệm pháp lý đi kèm như hình phạt, các biện pháp tha miễn, biện pháp cưỡng chế Hoạt động định tội danh của Tòa án là hoạt động định tội danh cuối cùng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và hậu quả pháp lý là bản án kết tội người phạm tội nên nó mang những đặc trưng riêng và đòi hỏi tính đúng đắn, chính xác, khách quan và công tâm nhất Để đảm bảo cho hoạt động định tội danh của Tòa án được đúng, cần phải đáp ứng các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, tính khách quan, đúng đắn của kết quả điều tra, truy tố ở giai đoạn điều tra, truy tố Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng cuối cùng trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự, do Tòa án nhân dân các cấp tiến hành dựa trên cơ

sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án mà các chứng cứ, đồ vật, tài liệu mới được bổ sung tại phiên tòa để ra bản án, quyết định giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật Hồ sơ

vụ án và chứng cứ phải đầy đủ, khách quan, phản ánh chính xác các tình tiết của

vụ án hình sự, phù hợp với các lời khai của người phạm tội và những người tham gia tố tụng thì việc định tội danh của Tòa án mới đảm bảo tính chính xác Trường hợp các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ chưa đủ để Tòa án căn cứ xác

Trang 4

định tội danh, giải quyết vụ án thì Tòa án có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Do đó, yêu cầu hoạt động, điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải đúng đắn, khách quan, tuân thủ các quy định về thủ tục tố tụng, đảm bảo hồ

sơ vụ án phản ánh khách quan, đầy đủ các tình tiết của vụ án

Thứ hai, việc định tội danh ở hoạt động điều tra, truy tố cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc định tội danh của Tòa án bởi Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án phải trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại Khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát định tội danh sai và từ đó khởi tố, kết luận điều tra và truy tố người bị buộc tội trước Tòa án với tội danh sai thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động định tội danh của Tòa án Bởi hầu như việc định tội danh ở giai đoạn ban đầu còn là cơ sở để các cơ quan tiến hành

tố tụng thu thập các chứng cứ buộc tội, gỡ tội nên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của hồ sơ vụ án và các chứng cứ, tài liệu thu thập được từ đó dẫn đến

sự thiếu chính xác trong việc định tội của Tòa án

Thứ ba, tính hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật hình sự - cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) của việc định tội danh Bản chất của việc định tội danh suy cho cùng là so sánh đối chiếu và kiểm tra để xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong BLHS hay không cho nên việc hoàn thiện các văn bản pháp luật hình sự (gồm BLHS

và các văn bản hướng dẫn thi hành) sẽ có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động định tội dan của Tòa án Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự càng quy định chi tiết bao nhiêu thì việc định tội danh của Tòa án càng trở nên dễ dàng, xác định đúng, chính xác hơn Bên cạnh đó, việc kịp thời có những văn bản hướng dẫn thi hành BLHS đặc biệt là những quy định mới chưa thống nhất được nhận thức giữa các

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án hình sự cho các Thẩm phán hiện nay

Trang 5

Thứ tư, tuân thủ các nguyên tắc mà Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã quy định như nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm,

Thứ năm, đảm bảo năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Để hoạt động định tội danh của Tòa án được đúng đắn thì chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động này là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có năng lực và kỹ năng nghiệp vụ để đánh giá đầy đủ, xem xét toàn diện các chứng cứ, tài liệu và các tình tiết khách quan của vụ án hình sự, nắm chắc các quy định của pháp luật hình sự để vận dụng chính xác vào việc định tội danh, giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, công minh, đúng đắn

Câu 2:

Thời điểm xảy ra hành vi phạm tội là 30/5/2018 nên áp dụng BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 để giải quyết vụ án này

Về khách thể:

Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi của A xâm hại là quan

hệ sở hữu tài sản và quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, thân thể, danh dự, nhân phẩm của chị D Đối tượng tác động của hành vi cướp tài sản là chiếc điện thoại di động trị giá 2.500.000 đồng Đối tượng tác động của hành vi hiếp dâm

là chị D

Về mặt khách quan: Lợi dụng hoàn cảnh đêm khuya, vắng người, chị D đi

một mình trên đường, A đã có hành vi dùng búa đe dọa, khống chế, dùng tay bóp mạnh vào vai, cổ chị D để lấy 01 điện thoại hiệu Iphone 4 và thực hiện hành

vi giao cấu với chị D Hành vi của A thỏa mãn dấu hiệu “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản” của tội Cướp tài sản quy

định tại Điều 168 BLHS 2015 Căn cứ vào bản Kết luận giám định pháp y và kết luận định giá tài sản, chị D bị bầm tím mặt trong trên vai trái gần 1.5cm, chiếc điện thoại Iphone 4 mà A đã chiếm đoạt trị giá 2.500.000 đồng nên hành vi của

A thuộc khoản 1 Điều 168 BLHS

Trang 6

Sau khi khống chế chị D, ép chị D đi vào đoạn đường vắng người qua lại, A

đã dùng búa đe dọa, dùng tay bóp mạnh vào vai chị D và thực hiện hành vi giao cấu với chị D Do chị D bị đe dọa, ép buộc nên hành vi giao cấu của A lúc này là

hoàn toàn trái với ý muốn của chị D, thỏa mãn dấu hiệu “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân” của tội Hiếp dâm quy định

tai Điều 142 BLHS 2015 Sau khi thực hiện lần giao cấu thứ nhất, A còn tiếp tục

đe dọa và ép chị D phải vào nhà nghỉ và thực hiện 2 lần giao cấu nữa với chị D Xét về hoàn cảnh của chị D lúc bị A ép vào nhà nghỉ, mặc dù trong tình huống

đó nhiều nạn nhân có thể kêu cứu, bỏ chạy nhưng chị D khi bị A liên tục đe dọa

sẽ có người đuổi theo giết, chị D khóc lóc van xin thì A nói “không khóc lóc van xin gì hết, việc này tao đã làm với nhiều người rồi” nên tinh thần chị D sợ hãi, tê liệt về ý chí, không dám chống trả A mà buộc phải theo A vào nhà nghỉ để A tiếp tục giao cấu với chị D Hai lần giao cấu này hoàn toàn thỏa mãn dấu hiệu của hành vi hiếp dâm nên hành vi của A trong vụ án này thỏa mãn tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên tại điểm d khoản 2 Điều 141 Căn cứ vào bản Kết luận giám định pháp y, A đã thực hiện hành vi giao cấu với chị D gây thương tích dưới 11

%, không đủ tỷ lệ thương tích để cấu thành tình tiết định khung tại điểm h khoản

2 điều 141

Về chủ thể: A thực hiện hành vi cướp tài sản và hiếp dâm chị D khi đã đủ

tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên A thỏa mãn điều kiện là chủ thể của tội Cướp tài sản và tội Hiếp dâm quy định tại Điều 168, 141 Bộ luật hình sự

Về mặt chủ quan: Tội cướp tài sản và tội hiếp dâm đều được thực hiện bằng

lỗi cố ý trực tiếp, động cơ và mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc

A thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, mặc dù biết hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ gây ra hậu quả tổn thương về mặt thân thể cũng như tinh thần cho chị D, xâm hại tài sản cho chị D nhưng vẫn cướp điện thoại nhằm chiếm đoạt tài sản của chị D và thực hiện hành vi giao cấu với chị D nhiều lần nhằm thỏa mãn ham muốn của mình

Trang 7

Căn cứ vào những phân tích trên, hành vi của Nguyễn Thế A phạm vào tội Cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 và tội Hiếp dâm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự Như vậy việc định tội danh của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm là đúng, tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định sai khoản và khung hình phạt áp dụng với A Về quyết định hình phạt, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 168 là phạt tù từ 3 năm đến 10 năm, hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 141 là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm Sau khi phạm tội, A đã ra trình diện trước Cơ quan công an thành phố B nên A được hưởng

tình tiết giảm nhẹ đầu thú quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Ngoài

ra A đã bồi thường cho chị D 10 triệu đồng nên A được hưởng thêm tình tiết “

Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại

điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS A phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp để cải tạo, giáo dục A Mặt khác, A phạm tội từ hai lần trở lên nhưng tình tiết này là tình tiết định khung nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng đối với A

Tòa án sơ thẩm đã bỏ sót tình tiết đầu thú là tình tiết giảm nhẹ nhưng áp dụng mức hình phạt 8 năm từ cho hành vi hiếp dâm của A vẫn còn nhẹ Tòa phúc thẩm xác định hành vi hiếp dâm của A chỉ phạm vào khoản 1 Điều 141 là sai, mức hình phạt áp dụng đối với hành vi hiếp dâm là 3 năm tù là quá nhẹ không đảm bảo tính răn đe, không phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Theo quan điểm của em, hình phạt áp dụng với A đối với tội cướp tài sản là 3 năm tù, hình phạt áp dụng đối với tội hiếp dâm là 9 năm tù, tổng hợp hình phạt 12 năm tù mới phù hợp, đảm bảo tính răn đe và đúng quy định của pháp luật

Ngày đăng: 08/04/2023, 22:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w