BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI ANH CHỊ HÃY TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH CÁCH GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐI.
Trang 1ƯỚC QUỐC TẾ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN.
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Tư pháp quốc tế
Mã phách:
HÀ NỘI - 2021 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Trong quá trình học tập môn Tư pháp quốc tế và tiến hành nghiên cứu
đề tài “Anh/ chị hãy trình bày và phân tích cách giải quyết xung đột pháp luật
về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên” Chủ nhiệm đề tài đã tập trung
nghiên cứu đề tài và nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên bộ môn
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân thành tới giảng viên bộ môn Tư pháp quốc
tế Cảm ơn thầy đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu
đề tài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nghiên cứu có trong đề tài là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trungthực, khách quan và phù hợp với thực tiễn nghiên cứu Các kết quả này chưatừng được công bố với bất kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 3
7 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 5 1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.1.1 Xung đột pháp luật 5
1.1.2 Điều ước quốc tế 6
1.1.3 Quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài 7
1.2 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật 8
1.3 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về sở hữu có yếu tố nước ngoài 10
1.4 Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu theo pháp luật các nước 10
Tiểu kết Chương 1 14
CHƯƠNG 2: GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN 15
2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam 15
Trang 62.2 Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 20
Tiểu kết Chương 2 22
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 23
3.1 Đánh giá cách giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên 23
3.2 Định hướng thiện pháp luật Việt Nam trong giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài 24
3.2.1 Không cần thiết phải xây dựng một đạo luật Tư pháp quốc tế riêng ở Việt Nam 24
3.2.2 Cần xử lý tốt mối quan hệ giữa các quy phạm pháp luật trong các đạo luật chuyên ngành với các quy phạm pháp luật trong Bộ luật Dân sự điều chỉnh các mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài 25
3.2.3 Mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế để ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong đó có chứa các quy phạm pháp luật xung đột thống nhất điều chỉnh các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài 26
Tiểu kết Chương 3 28
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 7Vậy pháp luật Việt Nam giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu
có yếu tố nước ngoài như thế nào? Những xung đột pháp luật về quyền sởhữu có yếu tố nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thànhviên được giải quyết ra sao?
Chính những thắc mắc đó, tôi đã chọn đề tài “Anh/ chị hãy trình bày
và phân tích cách giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, vấn đề giải quyết xung đột pháp trong lĩnh vực quyền sởhữu không phải là một đề tài mới, đã có khá nhiều công trình viết về đề tài
này như: “Quyền lựa chọn pháp luật trong Tư pháp quốc tế” của tác giả Đỗ
Trang 8Văn Đại (2013), “Góp phần hoàn thiện Phần 5 Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của tác giả
Trần Minh Ngọc (2015) Ngoài ra, còn một số bài viết về giải quyết xung độtpháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài đăng trên các tạp chí chuyênngành Những công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần làm rõ những vấn
đề lý luận về giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nướcngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam làthành viên, là tài liệu cho tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu: Khái quát chung giải quyết xung đột pháp
luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài; trình bày, phân tích cách giải
quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định
của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên; đề xuấtmột số phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong giải quyết xungđột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
+ Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích nghiên cứu như trên, đề tài tập
trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
Thứ nhất, khái quát chung giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở
hữu có yếu tố nước ngoài và đưa ra cách giải quyết xung đột pháp luật về
quyền sở hữu theo pháp luật các nước
Thứ hai, trình bày, phân tích cách giải quyết xung đột pháp luật về
quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam vàđiều ước quốc tế Việt Nam là thành viên
Thứ ba, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất một số phương hướng hoàn
thiện pháp luật Việt Nam trong giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu
có yếu tố nước ngoài
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 9+ Đối tượng nghiên cứu: Đề tài có đối tượng nghiên cứu là cách giải
quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên
+ Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật Việt Nam về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài từ khi có Bộ luật Dân sựnăm 2015 đến nay và các điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ dân sự quốc tế
mà Việt Nam là thành viên
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm nhữngphương pháp sau đây: phương pháp phân tích, phương pháp diễn dịch,phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
+ Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm phong phú thêm những vấn đề
lý luận về giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nướcngoài, đồng thời là cơ sở để đề xuất một số phương hướng hoàn thiện phápluật Việt Nam trong giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tốnước ngoài
+ Ý nghĩa thực tiễn: Với kết quả đạt được, tôi hy vọng rằng, đề tài sẽ
là một trong những nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với việc giải quyếtxung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam vàphục vụ quá trình nghiên cứu học tập
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung chủ yếu của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận chung về giải quyết xung đột pháp luật
về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài.
Trang 10Chương 2: Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu
tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên.
Chương 3: Đánh giá và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
Trang 11CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Xung đột pháp luật
Trên thế giới có hàng trăm quốc gia, mỗi quốc gia lại có lãnh thổ, chủquyền riêng Điều đó đồng nghĩa với việc để thực hiện chủ quyền của mìnhtrong phạm vi lãnh thổ quốc gia, các quốc gia đều phải xây dựng riêng chomình một hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trên cơ
sở đảm bảo lợi ích của nhà nước xã hội và công dân
Nếu các quan hệ chỉ đơn giản là có yếu tố quốc nội thì vấn đề sẽ không
có gì khó khăn, pháp luật của quốc gia sẽ điều chỉnh Nhưng thực tế khôngđơn giản như vậy, do có sự giao lưu về kinh tế, văn hóa, giữa các nước, đặcbiệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ thì sự phát sinh cácquan hệ có yếu tố nước ngoài ngày càng phong phú, đã dạng và phức tạp
Các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài thuộc đốitượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là một trong những loại quan hệ phứctạp Chính yếu tố nước ngoài đã làm cho các quan hệ này liên quan tới ít nhấthai quốc gia, hai hệ thống pháp luật Trong đó dù lớn dù nhỏ các quốc gia đềuđộc lập và bình đẳng với nhau theo nguyên tắc cơ bản mà Luật quốc tế đã xácđịnh Điều này có nghĩa là các hệ thống pháp luật tương ứng của mỗi quốc giacũng bình đẳng với nhau Do đó, khi các quan hệ tư pháp quốc tế nảy sinhcũng đồng nghĩa với việc phát sinh hiện tượng cả hai (hay nhiều) hệ thốngpháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tương ứng và hầuhết các quốc gia đều chấp nhận việc có thể áp dụng pháp luật nước ngoài đểđiều chỉnh lĩnh vực này Quyết định sử dụng hệ thống pháp luật nào chính làvấn đề cần giải quyết Khoa học tư pháp quốc tế gọi đó là hiện tượng XĐPL
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: XĐPL là hiện tượng hay hay
Trang 12nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng
để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài (quan hệ tư pháp quốc tế)
1.1.2 Điều ước quốc tế
Theo Điều 2 Công ước Viên năm 1969, ĐƯQT được hiểu “là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó”.
Như vậy, ĐƯQT là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể kháccủa luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấmdứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quyphạm điều ước trên quy mô toàn cầu, khu vực và song phương
Trong lý luận và thực tiễn của khoa học pháp luật quốc tế, ĐƯQT lànguồn cơ bản của Công pháp quốc tế và cũng là nguồn quan trọng của TPQT.Với vai trò là nguồn của TPQT, ĐƯQT thường được áp dụng ở một quốc gia
để điều chỉnh quan hệ tư pháp trong những trường hợp sau đây:
Thứ nhất, có ĐƯQT mà quốc gia là thành viên chưa đựng quy phạm
điều chỉnh trực tiếp quan hệ phát sinh;
Thứ hai, quy phạm pháp luật xung đột trong phát luật quốc gia hoặc
ĐƯQT mà quốc gia là thành viên dẫn chiếu tới;
Thứ ba, điều khoản về luật áp dụng trong hợp đồng quốc tế có quy
định việc áp dụng ĐƯQT cụ thể;
Thứ tư, ĐƯQT được áp dụng khi cơ quan giải quyết tranh chấp lựa
chọn luật áp dụng cho tranh chấp là ĐƯQT Ngoài ra, các ĐƯQT trong lĩnhvực TPQT còn có tác động và ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng phápluật của các quốc gia, trong đó có Việt Nam
Trang 131.1.3 Quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
Theo quan điểm kinh tế học, sở hữu được coi là việc chiếm giữ nhữngcủa cải vật chất của con người trong đời sống xã hội Theo quan điểm này, sởhữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện cùng với sự
tồn tại của xã hội loài người Trong khoa học pháp lý, quyền sở hữu được hiểu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ
sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật về sở hữu nhằm điều chỉnh các quan hệ sở hữu trong đời sống xã hội Các quy phạm pháp luật về sở hữu là cơ sở để xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của chủ
sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
Theo Điều 221 BLDS 2015, quyền sở hữu được xác lập đối với tài sảntrong trường hợp sau đây: Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanhhợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; Đượcchuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa
án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; Thu hoa lợi, lợi tức; Tạo thành tàisản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; Được thừa kế; Chiếm hữu trong cácđiều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác địnhđược chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tàisản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôidưới nước di chuyển tự nhiên; Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy địnhtại Điều 236 BLDS 2015; Trường hợp khác do luật quy định
Quyền sở hữu trong TPQT là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài, là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừa nhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Được xem là có yếu tố nước
ngoài khi quan hệ sở hữu đó thỏa mãn một số điều kiện nhất định mà phápluật quy định Căn cứ vào quy định tại Điều 663 BLDS 2015 thì yếu tố nướcngoài trong quan hệ sở hữu TPQT Việt Nam được thể hiện ở những đặc điểm
Trang 14sau:
- Về chủ thể tham gia quan hệ sở hữu có ít nhất một trong các bêntham gia quan hệ sở hữu là cá nhân, pháp nhân nước ngoài Ví dụ: Một ngườinước ngoài tham quan du lịch tại Việt Nam, mang theo tài sản cá nhân Việccông nhận quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của người nước ngoài ở ViệtNam sẽ dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật Quan hệ sở hữu của ngườinước ngoài đối với tà sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là quan hệ
sở hữu có yếu tố nước ngoài
- Khách thể của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ sở hữu xảy
ra ngay ở nước ngoài
1.2 Nguyên nhân phát sinh xung đột pháp luật
XĐPL thường phát sinh do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia Pháp luật là
hiện tượng vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội Vì vậy pháp luật cómối quan hệ biện chứng với kinh tế, chính trị, đạo đức và nhà nước Với tưcách là một thành tố của kiến trúc thượng tầng, là công cụ điều chỉnh cácquan hệ xã hội, pháp luật ở mỗi nước và mỗi khu vực trên thế giới được quyếtđịnh bởi các quan hệ kinh tế, xã hội, đường lối chính trị của mỗi giai cấp cầmquyền, bởi truyền thống đạo đức, tôn giáo
Thứ hai, do tính chất đặc thù trong chính sách đối tượng điều chỉnh của
TPQT Đối tượng điều chỉnh của TPQT là các quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài, do vậy các quan hệ TPQT thường liên quan đến nhiều hệ thống phápluật khác nhau và có thể phải chịu sự điều chỉnh của các hệ thống pháp luật
đó, do vậy dẫn đến XĐPL Tuy nhiên một số các quan hệ trong lĩnh vực dân
sự có yếu tố nước ngoài không làm phát sinh XĐPL: ví dụ các quan hệ vềquyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là những quan hệ mang tính lãnh
Trang 15thổ: quyền sở hữu trí tuệ xuất hiện ở nước nào thì chỉ có hiệu lực pháp luật tạinước đó, không thể áp dụng ở nước khác Quan hệ trong lĩnh vực hình sự,hành chính mag tính chất lãnh thổ, do vậy không đặt ra vấn đề XĐPL
1.3 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
Phương pháp giải quyết XĐPL là cách thức giải quyết vấn đề khi cótình huống hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác có sự liênquan đến hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được ápdụng để điều chỉnh một quan hệ TPQT Căn cứ vào các quy định của phápluật cũng như thực tiễn thì XĐPL sẽ được giải quyết bằng các phương phápsau:
- Phương pháp thực chất- xây dựng và áp dụng các quy phạm thực chất.
Phương pháp thực chất là phương pháp dùng quy phạm thực chất, trựctiếp điều chỉnh quan hệ mà không cần qua bất kỳ một khâu trung gian nào.Các quy phạm thực chất này thể hiện dưới hai hình thức:
+ Quy phạm thực chất thống nhất là loại quy phạm thực chất nằm trong
các ĐƯQT (Công ước Berne 1986 về bảo hộ quyền tác giả; Công ước Viên
1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa v.v…) Các quy phạm thực chất thốngnhất còn được ghi nhận trong tập quán quốc tế Incoterms- các điều kiện muahàng hóa quốc tế Khi có các quy phạm thực chất thống nhất thì các cơ quangiải quyết cũng như các bên tham gia quan hệ có thể căn cứ vào đó để giảiquyết vấn đề một cách trực tiếp, mà không cần phải xem xét đến các phươngpháp giải quyết khác Vì vậy, quy phạm thực chất thống nhất được coi là sựlựa chọn đầu tiên cho việc giải quyết các quan hệ tư pháp quốc tế, chỉ khikhông có loại quy phạm này thì các quy phạm khác của TPQT mới được xemxét đến
+ Quy phạm thực chất thông thường là loại quy phạm thực chất nằm
Trang 16trong hệ thống pháp luật quốc gia (BLDS Việt Nam, Bộ luật hàng hải ViệtNam, Bộ luật Lao động v.v ) Do cùng là một quy phạm của TPQT nên quyphạm thực chất thông thường sẽ khác so với quy phạm của ngành luật trongnước của quốc gia Quy phạm của TPQT trực tiếp điều chỉnh quan hệ dân sựtheo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong khi đó các quy phạm của ngànhluật trong nước không bao giờ trực tiếp điều chỉnh các quan hệ TPQT được,chúng chỉ điều chỉnh các quan hệ quốc nội Trong trường hợp các quy phạmnày được sử dụng để điều chỉnh quan hệ TPQT thì sự điều chỉnh chỉ có thể làgián tiếp mà không phải là điều chỉnh trực tiếp như quy phạm của TPQT, bởichúng được áp dụng theo sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột.
- Phương pháp xung đột - xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột
Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng các quy phạm xung đột
để giải quyết XĐPL Khi không có quy phạm thực chất thống nhất, để điềuchỉnh quan hệ, các cơ quan có thẩm quyền phải tìm đến hệ thống các quyphạm khác- các quy phạm xung đột Đây là các quy phạm pháp luật đặc biệt,nhiệm vụ của nó chỉ là xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào sẽ được
áp dụng điều chỉnh, còn bản thân quan hệ lại chưa đươc giải quyết, muốn giảiquyết vấn đề thì cơ quan có thẩm quyền cần căn cứ vào quy phạm xung đột,
áp dụng hệ thống pháp luật mà quy phạm xung đột dẫn chiếu tới Từ đó sẽcăn cứ vào các quy định thực định trong hệ thống pháp luật được dẫn chiếutới để giải quyết vấn đề
1.4 Giải quyết xung đột pháp luật về sở hữu theo pháp luật các nước
Từ lâu vấn đề thể thức giải quyết XĐPL trong lĩnh vực quyền sở hữu
đã trở thành một nội dung quan trọng của khoa học TPQT Theo pháp luật vàthực tiễn ở các nước, tài sản hữu hình được chia thành hai loại là động sản và
Trang 17bất động sản Để giải quyết XĐPL về sở hữu đối với bất động sản, pháp luậthầu hết các nước đều quy định áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản (Lex reisitae) Còn đối với động sản nguyên tắc luật nơi có tài sản cũng vẫn được ápdụng tương đối rộng rãi Phần lớn pháp luật của các nước châu Âu lục địa như
Bỉ, Hà Lan, Italia, Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Hunggari, Ba Lan, Liên bang Nga, HyLạp… và Pháp luật Anh–Mỹ cũng như pháp luật của Australia, Nhật Bản,Việt Nam… đều áp dụng nguyên tắc này Chỉ có một số ít hệ thống pháp luậtnhư Áo, Tây Ban Nha, Achentina, Braxin và Ai Cập là còn giữ cách thức giảiquyết XĐPL về quyền sở hữu đã tồn tại từ trước thế kỉ XIX: Đối với bất độngsản thì áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản còn đối với động sản thì áp dụngluật nhân thân của người có tài sản
Luật nơi có tài sản không những quy định nội dung của quyền sở hữu
mà còn ấn định cả các điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữuđối với tài sản Nội dung này đã được qui định trong pháp luật của nhiều
nước Theo khoản 1 Điều 24 Luật về TPQT của Ba Lan thì “quyền sở hữu và các quyền tài sản chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước nơi có tài sản” Khoản 2 Điều 24 của luật này chỉ rõ: “Sự phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu cũng như sự phát sinh, chuyển dịch hoặc chấm dứt các quyền tài sản chịu sự điều chỉnh của pháp luật nơi có tài sản vào thời điểm xảy ra sự kiện làm phát sinh các hậu quả pháp lí trên”.
Pháp luật của nơi có tài sản giữ vai trò nhất định trong việc xác địnhquyền sở hữu đối với tài sản đang trên đường vận chuyển hay còn được gọi làtài sản quá cảnh qua nhiều quốc gia Việc xác định quyền sở hữu đối với tàisản đang trên đường vận chuyển là một vấn đề phức tạp đã và đang đượcTPQT của các nước quan tâm giải quyết Theo pháp luật các nước hiện nay,quyền sở hữu cũng như các quyền tài sản đối với tài sản đang trên đường vậnchuyển sẽ được điều chỉnh bởi một trong các hệ thống pháp luật sau đây:
Trang 18pháp luật nơi gửi tài sản đi; pháp luật nước nơi nhận tài sản; pháp luật nước
mà phương tiện vận tải mang quốc tịch (trong lĩnh vực giao thông vận tảibằng tàu biển hoặc máy bay); pháp luật của nước nơi có trụ sở của tòa án cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp (Legi fori); pháp luật của nước nơi hiệnđang có tài sản (Legi rei sitae); pháp luật của nước do các bên lựa chọn hoặcpháp luật của nước nơi gửi tài sản đi hoặc là pháp luật của nơi nhận hoặc phápluật của nước nơi hiện đang có tài sản v.v…
Để xác định quyền sở hữu đối với tài sản đang trên đường vận chuyển,cần thiết phải hiểu đúng khái niệm quá cảnh Thuật ngữ quá cảnh thôngthường được hiểu là việc vận chuyển tài sản hoặc hành khách đi qua lãnh thổcủa một hay nhiều nước nào đó để đến nước thứ ba hoặc ít nhất cũng phải điqua vùng biển quốc tế Như vậy, việc vận chuyển tài sản (hàng hóa) từ lãnhthổ quốc gia này, sang quốc gia kia có cùng chung đường biên giới quốc gia
sẽ không được coi là quá cảnh
Để bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luậtnhưng ngay tình trước yêu cầu đòi lại tài sản của chủ ở hữu, pháp luật cácnước thường áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản vào thời điểm chiếm hữu
Ví dụ theo Điều 92 Bộ luật TPQT của Bỉ 2004 quy định: “Việc đòi lại tài sản bị đánh cắp, theo sự lựa chọn của chủ sở hữu gốc, được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi có tài sản vào thời điểm tài sản bị mất hoặc pháp luật của nước nơi có tài sản vào thời điểm đòi lại tài sản”.
Các phạm trù “động sản” và “bất động sản” không phải được hiểu một
cách thống nhất trong các hệ thống pháp luật hiện nay trên thế giới Do đó,thường phát sinh XĐPL về định danh tài sản Việc xác định tài sản là độngsản hay bất động sản là tiền đề cho việc giải quyết XĐPL về quyền sở hữu cóyếu tố nước ngoài Bởi vậy, pháp luật của đa số các nước dựa trên các đạoluật trong nước và các ĐƯQT (các HĐTTTP) thường ghi nhận nguyên tắc áp