Nhiệm vụ của luận văn 9 9 9 - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người; - Làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những q
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viêt Lời cam đoan này đê nghị Khoa Luật xem xét đê tôi có
9
thê bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Anh Tuấn
1
Trang 2MỤC LỤC• •
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỬ VIẾT TẮT 6• •
DANH MỤC BẢNG CÁC BẢNG 7
DANH MỤC BIẺU ĐÒ: 7
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Tình hình nghiên cứu 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 12• • • ơ • 5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cún 13
6 Điểm mó*i của Luận văn 13
7 Kết cấu của Luận văn 14
CHƯƠNG I MỘT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN NGƯỜI 15
1.1 Khái niệm, đặc điếm, căn cứ pháp lý và ý nghĩa của đinh tội danh đối với tội mua bán người 15
1.1.1 Khái niệm, đặc điếm định tội danh đối với tội mua bán người 15
1.1.2 Căn cứ pháp lý của định tội danh đối với tội mua bán người 20
1.1.3 Ỷ nghĩa của định tội danh đối với tội mua bán người 23
2
Trang 31.1.4 Các giai đoạn định tội danh đối với tội mua bán người 24
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, căn cứ và các giai đoạn quyết định hình phạt đối với tội mua bán người 26
1.2.1 Khái niệm, đặc diêm quyêt định hình phạt đôi với tội mua bán người 26
1.2.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đổi với tội mua bán người 28
1.2.3 Căn cứ, các giai đoạn và ý nghĩa của quyết định hình phạt đối với tội mua bán người 30
1.3 Mối quan hệ giữa định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 43
2.1 Thực• trạng• O tội mua bán• ngườiO trên địa • bàn tỉnh Lào Cai 43
2.1.1 Đặc• điếm về điều kiện• tự • •nhiên xã hội tình Lào Cai 43
2.1.2 Tình hình tội phạm mua bán người tại tỉnh Lào Cai 43
2.2 Thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đoi với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Lào Cai 51
2.2.1 Thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người theo cẩu thành tội phạm co ’ bản 51
2.2.2 Thực• trạng• ơ định••tội danh và quyết địnhX w' • hình phạt đốixè với tội mua• bán người theo cẩu thành tội phạm tăng nặng 52
3
Trang 42.2.3 Thực trạng định tội danh mua bán người trong trường hợp đồng
phạm 55
2.3 Một số khó khẵn, vướng mắc trong quá trình định tội danh và quyết
định hình phạt đối với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Lào Cai 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG III YÊU CẦU VÀ CÁC GIÃI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYÉT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÓI VỚI
TỘI MUA BÁN NGƯỜI 72
3.1 Yêu cầu bảo đảm cho việc định tội danh và quyết định hình phạt đối
với tội mua bán người 72 3.1.1 Yêu cầu về hệ thống pháp luật đối với tội mua bán người 72
3.1.2 Yêu cầu về năng lực chuyên môn của chủ thế định tội danh, quyết
định hình phạt đối với tội mua bán người 73
3.1.3 Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của chủ thể định tội danh, quyết
định hình phạt đối với tội mua bán người 74
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc định tội danh và quyết định hình
phạt đối với tội mua bán người 76
3.2.1 Kiến nghị ban hành văn bản hưởng dẫn về tội mua bán người, hoàn
thiện quy định pháp luật về tội mua bán người 76
3.2.2 Thực hiện có hiệu quả các chỉ thị của Đảng, Nhà nước về đấu tranh
phòng, chống tội mua bán người 78
3.2.3 Điều tra, khám phá, xử lý nghiêm tội mua bán người 80
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đúc nghề nghiệp của
chủ thế định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội mua bán người 80
4
Trang 5r r 3.2.5 Nâng cao chât lượng hoạt động điêu tra, truy tô, xét xử tội mua bán
người 83
3.2.6 Tăng cường hợp tác quốc tế trong đẩu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC
5
Trang 6DANH MUC KÍ HIẼU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT• •
Trang 7DANH MỤC BIÊU ĐÔ:
Phụ lục 03 - Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phản ánh tình hình tội mua bán nguời trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong giai đoạn từ năm 2012-2020
7
Trang 8MỞ ĐÀU
1 Tính câp thỉêt cùa đê tài
BLHS là một trong những đạo luật quan trọng nhất của nước ta quy định về tội phạm và hình phạt BLHS có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ• • X • JL • •• • ••nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Năm 1985 BLHS đầu tiên của nước ta ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Tuy nhiên thực tế sau một thời gian sữ dụng và đi vào thực tiễn cũng xuất hiện một số bất cập, sai xót do kinh nghiệm lập pháp còn chưa nhiều Sự ra đời BLHS năm 1999 đã khắc phục nhiều bất cập trong BLHS
1985 Tình hình thực tế, nền kinh tế càng ngày càng phát triển, sự phân hóa
xã hội, Tội phạm xuất hiện ngày càng nhiều, tinh vi và phức tạp đòi hỏi BLHS phải ra đời Trên tinh thần đó BLHS năm 2015 (sửa đối, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 thay thế BLHS năm 1999 (sửa đồi, bổ sung năm 2009)
Đối với quy định về tội mua bán người, BLHS năm 2015 đã sửa đổi nhiều quy định về các tình tiết sao cho phù hợp với thực tế hoàn cảnh, cuộc sống sinh động thường phát sinh những tình tiết nội dung mới mà quy định về tội mua bán người trong BLHS 2015 còn nhiều bất cập hạn chế
Với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp cả về tính chất, mức độ trên phạm vi cả nước nói chung tội phạm mua bán người là một vấn đề nan giải trong xã hội, nhất
là tại các tĩnh biên giới phía Bắc trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng Các tỉnh Biên giới phía Bắc giáp nhiều nước lại có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh
8
Trang 9sông nên nhóm tội phạm này hoạt động nhiêu ở vùng này Theo thông kê của Bộ Công an, từ năm 2012 đến 2020 tại tình Lào Cai, các cơ quan chức năng của tỉnh
đã tiếp nhận gần 700 nạn nhân bị mua bán trở về, các hoạt động mua bán người thường được tổ chức thành đường dây có sự kết nối giữa các đối tượng là người Việt Nam và Trung Quốc với phương thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt
Các vụ xét xử các vụ án về tội phạm đặc biệt là tội mua bán người ở • • • JL • • • •nước ta hiện còn nhiều thiếu sót, hạn chế, nhất là trong việc định tội danh và quyết định hình phạt; nhiều trường hợp định tội danh sai hoặc bở lọt tội phạm dẫn đến việc quyết định hình phạt không tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ) hoặc oan sai, các vụ án bị xử hình phạt không chính xác trong trường hợp đặc biệt (đa tội phạm, trong đó có phạm nhiều tội) chiếm tỷ lệ cao hơn so với quyết định hình phạt thông thường.Điều nay có thể dẫn đến nhiều hệ luỵ xấu
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Định tội danh và
quyết định hình phạt đối vói tội mua bán người (trên cơ sở thực tiễn tinh Lào Cai) ”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp cũa mình
2 Tình hình nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu khoa học cũng nghiên cứu về tội mua bán người như: Trường Đại học Kiếm sát Hà Nội (2016), Giáo trình luật hình sự
Việt Nam - Phần các tội phạm Tập 1, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội;
Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các
tội phạm, Quyển 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật Thành
Phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình luật hình sự Việt Nam — Phần các tội phạm
Quyển ỉ, Nxb Hồng đức, Hà Nội; Trường Đại học quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt nam — Phần các tội phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.; Bình luận khoa học BLHS, Phần các tội phạm, Tập 2 của tác giá Đinh
9
Trang 10Văn Quê, Nxb Thành phô Hô Chi Minh, 2002; Các tội xâm phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt tài sản của PGS TS Cao Thị Oanh, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2015
Bên cạnh đó, tội mua bán người đã được nghiên cứu cà dưới góc độ lý luận
và thực tiễn Có thể đề cập đến: Mai Bộ (2015), “Sửa đổi bổ sung tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo hướng nội luật hóa Công ước quốc tế về tội mua bán người”, Tạp chỉ toà án nhân dân, (6), tr 5 - 11; Nhà xuất bân Công an nhân dân, “ Đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người ở Việt Nam”; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Tội mua bán người theo pháp luật hình sự Việt Nam ở nước
ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội; Phạm Xuân Sơn• • • • • y • • • • y •
(2018), “Những điểm mới của BLHS 2015 về nhóm tội mua bán người và một số vấn đề cần lưu ý”, Tạp chỉ toà án nhân dân, (7), tr 18 - 23; Tổ chức di cư quốc tế tại Việt Nam “Bảo cáo đảnh gái các mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cho cảc nạn nhân
của nạn mua bán người”\ Bộ Tư Pháp “Báo cáo đánh giá hệ thống pháp luật Việt Nam trên tinh thần các nghị định thư của Liên hợp quốc về phòng chổng tội phạm
có tỏ chức xuyên quốc giaLê Thị Quý “Sỏ tay tuyên truyền hoạt động phòng chống buôn bản người” Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Nguyễn Ngọc Anh
(tháng 8/2011)‘ ‘Luật phòng, chống mua bán người - Cơ sở pháp lý đấu tranh
chống tội phạm mua bán người trong thời gian tới ” Tạp chí Công an nhân dân
Các công trình nói trên đã nghiên cứu về tội mua bán người, nhưng chưa đề cập vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
về định tội danh và quyết định hình phạt, đã có một số công trình của các nhà khoa học tập trung đi sâu vào một vấn đề hoặc là định tội danh hoặc quyết định hình phạt như:
- Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam trong sách “ Tội phạm học luật hình sự và tố tụng hình sự” của PGS.TS Võ Khánh Vinh, NXB Chính trị quốc gia, 1995;
10
Trang 11- “Quyêt định hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam” trong sách “Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam’cua PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
- “Quyết định hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam” ( Luận văn Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2003) của tác giả Dương Tuyết Miên;
- “Quyết định hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam” ( Luận văn thạc
sĩ Luật học, Hà Nội, 1996 của tác giả Trần Văn Sơn
Nhìn chung các công trình trên mới đê cập đên một sô khía cạnh cụ thề có tính chất khái quát về quyết định hình phạt, mà chưa đi nghiên cứu vấn
đề quyết định hình phạt trong trường hợp tội phạm cụ thể một cách toàn diện
và cả về lý luận và thực tiễn Vì vậy , đây vẫn là đề tài cần được tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu
Qua nghiên cứu các công trình cho thấy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người để đưa ra các giải pháp có tính hệ thống và toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2017) về tội mua bán người
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cún
Đôi tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn
về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bân người trên cơ sở thực tế của tỉnh Lào cai nhằm xây dựng các giải pháp khả thi nâng cao hiệu quả công tác này
Phạm vỉ nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người theo quy định của Luật Hình
11
Trang 12sự Việt Nam Đông thời, nghiên cứu thực tiên định tội danh và quyêt định hình phạt đối với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2020
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn• • • ” •
Mục đích của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách khoa học nhũng vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người, trên cơ sở đó đề xuất những giãi pháp nhằm nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trong thời gian tới
Nhiệm vụ của luận văn 9 9 9
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người;
- Làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trong Luật Hình sự Việt Nam, phân tích các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội mua bán người;
- Phân tích các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
về tội mua bán người;
- Phân tích, đánh giá thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Lào Cai, qua đó chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế, thiếu sót cũng như nguyên nhân cùa chúng
- Kiến nghị các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trong thời gian tới
12
Trang 135 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Tác giả nghiên cứu đề tài trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tướng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
Ngoài cơ sở lý luận tác giả còn sử dụng sơ sở thực tiễn là những bàn án, quyết định của Tòa án về tội mua bán người; số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của các cơ quan có thẩm quyền: Viện kiểm sát, toà án về tội phạm mua bán người
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp phổ biến, thường xuyên trong nghiên cứu khoa học luật hình sự như: Phương pháp phân tích và tổng họp, phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra án điển hình để làm rõ và giải quyết các vấn đề đề đặt ra Các phương pháp này được vận dụng linh hoạt và đan xen để có thể đạt được kết quả tốt nhất
6 Điểm mói của Luận văn
Đây là đề tài khoa học đầu tiên làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua bán người trong Luật Hình sự Việt Nam Điểm mới của Luận văn gồm:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối vói tội mua bán người trong Luật Hình sự Việt Nam;
- Chỉ ra được những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành liên quan đến tội mua bán người trong Luật Hình sự Việt Nam; chỉ ra những sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó và nguyên nhân của chúng; đề xuất các giải pháp khắc phục;
- Phân tích được tình hình thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Lào Cai;
13
Trang 14- Đưa ra được hệ thống các kiến nghị, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2017) về tội mua bán người;
- Ngoài ra, Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho nhũng người nghiên cứu, học tập, những người làm công tác thực tiễn liên quan đến lình vực này cũng như các độc giả khác có quan tâm
7 Kết cấu của Luận văn
Kết cấu của Luận văn ngoài các mục: mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng biểu Luận văn gồm ba phần chinh:
r y '
Chương r Một sô vân đê chung vê định tội danh và quyêt định hình
phạt đổi với tội mua bán người
Chương 2: Thực tiễn việc định tội danh và quyết định hình phạt đối
với tội mua bán người tại tỉnh Lào Cai
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh
và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
14
Trang 15CHƯƠNG I MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN NGƯỜI
1.1 Khái niệm, đặc điểm, căn cứ pháp lý và ý nghĩa của định tội danh đối vói tội mua bán người
1.1.1 Khái niêm, đặc điểm• ’ • định• tội• danh đối với tội mua• bán ngườiO
Muốn giải quyết một vụ án hình sự cũng như muốn xác định được tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người đúng tội Các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành định tội danh, việc định tội danh là bước đầu tiên
đế xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội, từ đó đưa ra quyết định hình phạt phù hợp Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
sẽ xác định hành vi của người đó đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nào trong số các cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS Chúng ta cần hiếu chính xác khái niệm này, hiện nay thì nhiều quan điểm về vấn đề này như sau:
Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm thì:
Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và, được tiến hành bằng cách - trên cơ
sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiếm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định, hay nói cách khác là nhằm đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình
sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [22, tr 33]
Còn theo quan điểm của TS Dương Tuyết Miên:
15
Trang 16Định tội danh là hoạt động của cơ quan tiên hành tô tụng (Cơ quan điêu tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã được thực hiện [16, tr 7],
ThS Đoàn Tất Minh cũng đưa ra quan điếm của mình về khái niệm định tội danh như sau: Định tội danh là thuật ngừ dùng để chỉ hoạt động của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả (quy định) trong Luật hình sự để giải quyết án hình sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật [15, tr 10]
Mồi tác giả lại có cái nhìn, phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng đều thống nhất định nghĩa về định tội danh đều ở điểm: Định tội danh là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền đối chiếu, so sánh về mặt pháp luật nhằm xác định một tội phạm xảy ra trên thực tế có tên gọi là gì theo quy định của pháp luật hình sự
Việc xác định tội danh trong vụ án hình sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn luôn luôn được những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng quan tâm Yêu cầu của công tác xét xử án hình sự là phải xét xử đúng người đúng tội và việc xác định đúng người phạm tội, đúng tội phạm là trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự Để đạt được yêu cầu này, thì phải nắm vững nguyên tắc cơ bản về xác định tội danh Đối với một vụ án hình sự, định tội danh là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả giải quyết vụ án, là cơ sở để xác định thấm quyền giải quyết của các
cơ quan tiến hành tố tụng, là tiền đề cho việc phân hóa TNHS và quyết định
16
Trang 17hình phạt một cách chính xác Nếu định tội danh sai sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, gây oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Việc định tội danh thực chất là xác định hành vi đã thực hiện có phạm• • • • • • • 1 • tội hay không và nếu phạm tội thì theo quy định nào của BLHS? Định tội danh phải dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, các tài liệu chứng cử đó có đủ để CTTP hay không, việc định tội danh cơ bản đã xác định được phạm vi chịu TNHS của người phạm tội
Cơ quan tiến hành tổ tụng áp dụng pháp thực hiện quá trình gồm ba giai đoạn là định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt, trong đó định tội danh là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất, giai đoạn nền tảng cho toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự
Ở Việt Nam, khái niệm mua bán người chưa được quy định trong văn bản pháp luật nào, tìm thấy định nghĩa mua bán người trong một vài văn bản pháp luật quốc tế Hành vi mua bán người có thể hiểu bao gồmmột số hành vi như: hành vi tuyển mộ, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận, nhận người trong nước hoặc qua biên giới Phương thức thủ đoạn thường thấy là ép buộc, bắt cóc lừa gạt nạn nhân, lạm dụng quyền lực - vị thế với mục đích nhằm bóc lột bao gồm: bóc lột sức lao động, làm mại dâm hoặc nhũng hình thức bóc lột tình dục khác.♦
Điều 150 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) đã quy định về khái niệm tội mua bán người:
“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đáy, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
17
Trang 18a) Chuyên giao hoặc tiêp nhận người đê giao, nhận tiên, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyên giao hoặc tiếp nhận người đê bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thê của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhăn đạo khác;
c) Tuyên mộ, vận chuyên, chứa chấp người khác đê thực hiện hành vi quy định tại điếm a hoặc điểm b khoản này ”.
Định tội danh đối với tội mua bán người là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự quy định tại Điều 150 BLHS 2015 và pháp luật tố tụng hình
sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như một số cơ quan khác có thấm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tể của vụ án hình sự để nhằm đối chiếu sự• 1 • • • • • phù hợp giữa hành vi nguy hiếm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ the đã được quy định trong Điều 150 Bộ luật Hình sự, từ đó xác định người đã thực hiện hành vi đó có phạm tội mua bán người hay không
Từ những định nghĩa trên, tôi rút ra những đặc điểm của định tội danh đổi với tội mua bán người như sau:
Thứ nhất, định tội danh đối với tội mua bán người có thể hiểu là hoạt
động áp dụng pháp luật hình sự được thực hiện trên cơ sở xác định các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội theo đúng nội dung quy phạm pháp luật hình
sự tại điều 150 BLHS 2015 quy định cấu thành tội phạm tương ứng Định tội danh đối với tội mua bán người xác định các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mua bán người phù hợp, tương ứng với các tình tiết của hành vi phạm tội bằng các phương pháp cụ thể của các chủ thể có thuẩn quyền theo đúng các giai đoạn, quy định
18
Trang 19Thứ hai, Định tội danh là giai đoạn cơ bẳn của việc áp dụng pháp luật
hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa vô vùng to lớn trong việc thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật Nó thế hiện việc đánh giá chinh trị - xã hội và pháp lí đối với những hành vi phạm tội cụ thề ở đây là tội phạm mua bán người Định tội danh đúng giúp loại trừ án oan sai đảm bảo hình phạt răn đe
và giáo dục người phạm tội Ngoài ra định tội danh còn góp phần xác định tình hình tội phạm từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa phù hợp
Như vậy, chủ thể có thể có thẩm quyền, trong hoạt động định tội danh đối với tội mua bán người chính là các cơ quan tư pháp hình sự gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và một số cơ quan khác có thẩm quyền Các chủ thể này tiến hành định tội danh đối với tội mua bán người căn cứ vào các quy định pháp luật hình sự theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự
Thứ ba, định tội danh đối với tội mua bán người căn cứ vào các chứng
cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án mua bán người sau
đó kết hợp giữa việc áp dụng áp dụng pháp luật hình sự (luật về nội dung) và pháp luật tố tụng hình sự (luật về hình thức là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự,
để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu cùa hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm xác định được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thề hoá và phân hoá trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật Không chỉ vậy, đối với từng vụ án cụ thể khác nhau, các chủ thể định tội danh còn phải căn cứ vào từng đặc điểm, tình tiết cùa từng vụ án
đó để có thể tiến hành định tội danh đúng
19
Trang 201.1.2 Căn cứ pháp lý của định tội danh đôi với tội mua bán người
Cơ sở pháp lý của việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự được dùng để xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bị coi là tội phạm GS.TSKH Lê Cảm, có định nghĩa về định tội danh có thể hiểu thì những căn
cứ pháp lý cùa việc định tội danh là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho
xã hội được thực hiện là tội phạm.• • • • • JL •
Trong quá trình định tội danh, BLHS có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, nó đóng vai trò là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh, hiện nay BLHS nước ta là nguồn trực tiếp và duy nhất ghi nhận toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự hiện hành được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, cũng như quá trình định tội danh và quyết định hình phạt nói riêng;
Cơ sở pháp lý gián tiếp cùa việc định tội danh: trọng quá trình định tội danh, nếu các quy phạm pháp luật của BLHS đóng vai trò là cơ sở pháp lý trực tiếp về mặt nội dung, thì các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự là cơ sở pháp lý gián tiếp về mặt hình thức quy định cách thức, trình tự, thấm quyền định tội danh
Như vậy có thể định nghĩa khái niệm căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội mua bán người như sau: Căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội mua bán người là những quy định trong phan Chung và quy phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định
20
Trang 21các dâu hiệu của hành vi nguy hiêm cho xã hội được thực hiện là tội mua bán • J • • • • •người.
Khách thể của tội mua bán ngườiTội mua bán người tác động trực tiếp đến con người Tội mua bán người xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và quyền con người được pháp luật bảo
vệ Người phạm tội coi con người như một hàng hóa đế mua, bán, trao đối nhằm mục đích kiếm lợi hoặc vì mục đích khác
Mặt khách quan của tội mua bán ngườiMặt khách quan của tội phạm là những biếu hiện của tội phạm ra ngoài thế giới khách quan, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi với hậu quả, phương tiện, công cụ, phương pháp, thời điểm, thực hiện tội phạm
Mặt khách quan của tội mua bán người đầu tiên là hành vi khách quan
cụ thể có ba nhóm hành vi Nạn nhân của ba nhóm hành vi này là người từ từ
đủ 16 tuổi trở lên Hành vi thứ nhất là chuyển giao hoặc tiếp nhận người để chuyển giao có kèm theo việc nhận tiền, tài săn hoặc lợi ích vật chất khác, thứ hai là hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của họ hoặc nhằm mục đích vô nhân đạo khác, thứ ba là hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác
Để thực hiện việc phạm tội mua bán người, người phạm tội có thể dùng các hành vi như lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc bằng nhiều hình thức và thủ đoạn dù người bị hại có tự nguyện thì người thực hiện hành vi phạm tội mua bán người vẫn bị truy cứu TNHS Tội phạm được coi là hoàn thành khi đã thực hiện việc thỏa thuận mua bán, không cần thiết phải hoàn thành việc trao đổi người hay lợi ích vật chất
21
Trang 22Tội mua bán người là tội phạm câu thành hình thức Tội phạm hoàn thành từkhi người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người và có căn cứ khăng định mua bán người.[25, tr.271 ] Kết quả có tiến hành mua bán được hay không, không có ý nghĩa đôi với việc định tội.
Chủ thê của tội mua bán người: Chủ thê của tội phạm là người đã có lôi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS.[30, tr 343]
Người phạm tội mua bán người nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và bị xã hội lên án Khi thực hiện tội mua bán người bàng hình thức đồng phạm, người phạm tội không những nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm mà còn nhận thức được hành vi của những người đồng phạm khác cũng nguy hiêm cho xã hội và có quan hệ chặt chẽ với hành vi của mình
Căn cứ vào cách phân loại tội phạm và tuôi chịu TNHS quy định tại Điêu 9, Điều 12 BLHS năm 2015, cho thấy Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì:
“1 Người từ đủ 16 tuôi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự vê mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuồi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người Tội cổ ý gầy thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tội hiếp dâm ; Điều 150 (tội mua bán
Chủ thê của tội mua bán người phải là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Phải đạt độ tuổi từ 14 trở lên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS theo Khoản 1 Điều 150 BLHS và phải chịu TNHS theo quy định tại Khoản 2 điều này Trên thực tế thì chủ thể của loại tội phạm này thường là người đã thành niên vì loại tội này nguy hiêm và
22
Trang 23đòi hỏi sự khôn khéo, tinh vi Người chưa thành niên phạm tội này thường ở vai trò đồng phạm.
Mặt chủ quan của tội mua bán người
Tội phạm này được thực hiện với lồi cố ý Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi
đó mà vẫn mong muốn nó xảy ra Từ khái niệm này: Thứ nhất, người phạm tội mua bán người nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi, hậu quả tất yếu xảy ra hoặc có thể xảy ra; thứ hai, người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra
Đôi với một sô tội phạm có câu thành tội phạm hình thức (hậu quả thực
tế rất khó được xác định) thì cần xác định rõ ràng mức độ hình dung về hậu quả đề xác định tội phạm (ví dụ như tội vu khống, tội làm nhục người khác, ) Lỗi cố ý trực tiếp là khi người phạm tội thực hiện hành vi mua bán, trao đối người khác và nhận thức rõ hành vi của mình, mong muốn hành vi đó diễn ra
Khi kiểm tra các yếu tố cấu thành tội phạm, cần lưu ý xem vụ án mua bán người có đồng phạm không, nếu có đồng phạm thì cần làm rõ sự phân công trong việc thực hiện tội phạm, nhất là vai trò của người chú mưu, cầm đầu trong vụ án
1.1.3 Ỷ nghĩa của định tội danh đối với tội mua bán người
Trong quá trình giải quyết vụ án mua bán người, việc định tội danh đối với tội phạm này có ý nghĩa rất quan trọng:
Thứ nhất, định tội danh là một trong những giai đoạn cơ băn, một nội
dung quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự và là một trong những biện pháp đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống Định tội
23
Trang 24danh còn là tiên đê, là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự vào thực tiễn điều tra, truy
tố, xét xử
Thứ hai, định đúng tội danh đối với tội mua bán người ra các quyết
định hình phạt kịp thời, thề hiện được ý thức tuân thủ chấp hành pháp luật và trình độ chuyên môn của cơ quan có thấm quyền Từ đó nâng cao chất lượng hoạt dộng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hiện nay, việc định tội danh đúng có ý nghĩa không chỉ về pháp luật mà cả về mặt chính trị - xã hội Bởi lẽ, định tội danh đúng sẽ là cơ
sở cho việc định khung hình phạt đúng và là tiền đề cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời đề áp dụng chinh xác các quy định của BLHS về các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vị, hình phạt, tái phạm, quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm
Ngược lại, nếu định tội danh sai sẽ dẫn đến các hiệu quả tiêu cực như không bảo đảm được tính công minh, có càn cứ và đúng pháp luật của hình phật được quyết định, làm oan người vô tội, bò lọt người phạm tội, thậm chí xâm phạm nghiêm trọng danh dự và nhân phẩm, các quyền tự do của công dân cũng như xâm phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời còn làm giảm
uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
1.1.4 Các giai đoạn định tội danh đối với tội mua bán người
Định tội danh đối với tội mua bán người được thực hiện theo 04 giai đoạn:
24
Trang 25Giai đoạn thứ nhât' Phân tích, đánh giá hành vi của người phạm tội
trong vụ án
Sau khi đã tiếp nhận hồ sơ vụ án hình sự, cần phân tích, đánh giá hành
vi của người phạm tội trong vụ án để nắm vừng tất cả những hành vi, tình tiết
có ý nghĩa về mặt hình sự trong vụ án Qua đó, có thể phát hiện ra những điểm mấu chốt trong vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chinh xác và đạt hiệu quả cao.[22]
Giai đoạn thứ hai, xác định hướng xâm hại (khách thể loại) của hành
vi do người phạm tội thực hiện
Tội mua bán người được quy định tại Điều 150 thuộc chương XIV BLHS 2015 (các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) Như vậy, việc đầu tiên phải xác định hành vi của người phạm tội
có xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người là khách thể loại của tội mua bán người hay không [22]
Sau khi xác định được khách thể loại bị xâm hại, việc tiếp theo cần xác • • •• • X • 1định xem hành vi của người phạm tội có xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người hay không Tội mua bán người xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật bảo
Ạ
vệ
Giai đoạn thứ ba, kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự về tội mua bán
người (CTTP của tội mua bán người) với từng hành vi của người phạm tội trong vụ án
Đây là giai đoạn quan trọng nhất nhàm xác định trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiếm cho xã hội Việc định tội danh không phải là một hoạt động đơn giản chỉ cần biết tuân thủ các quy định của
25
Trang 26pháp luật là đù, mà đó là một hoạt động nghiệp vụ pháp lý phức tạp, một hoạt động mang tính nhận thức của người tiến hành định tội danh [22]
Giai đoạn thứ tư, những kết quả kiểm tra nói trên được kết luận đối với
từng người phạm tội trong vụ án Từ đó, kết luận hành vi của từng người có cấu thành tội mua bán người hay không, nếu không phải tội mua bán người thì phạm tội gì?
1.2 Khái niệm, đặc điếm, nguyên tắc, căn cứ và các giai đoạn quyết định hình phạt đổi với tội mua bán nguôi
1.2.1 Khái niệm, đặc điếm quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn rất quan trọng, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự do thẩm phán
và hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người thực hiện tội phạm theo một trình tự nhất định Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm về quyết định hình phạt chưa có quy định cụ thế trong văn bản nào Một số các nhà nghiên cứu khoa học Luật hình sự cho rằng: Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng cho người phạm tội
Tuy nhiên, một sô tác giả khác cho răng cân hiêu quyêt định hình phạt theo nghĩa rộng hơn, nghĩa là quyết định hình phạt bao gồm các hoạt động: Xác định người phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó
Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử / • • • • • • • • A A
lý tương xứng với tình chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo
26
Trang 27đã thực hiện Nội dung của hoạt động quyết định hình phạt có thể là miễn trách nhiệm hình sự hoặc có thế là miễn hình phạt (trường hợp này, hoạt động quyết định hình phạt chấm dứt tại đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì hoạt động quyết định hình phát là việc xác định hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định đối với bị cáo [16, tr 63].
Như vậy, có thế đưa ra khái niệm quyết định hình phạt đối với tội mua bán người như sau: Quyết định hình phạt đối với tội mua bán người là việc Tòa án sau lựa chọn hình phạt phù hợp (bao gồm hình phạt chính và cỏ thể cả hình phạt bổ sung) sau khi đã xác định được bị cáo phạm tội mua bán người nhằm đưa ra biện pháp xử lý tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các quy định của BLHS
Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điếm của việc quyết định hình phạt đối với tội mua bán người như sau:
Thứ nhất, chủ thế quyết định hình phạt đối với tội mua bán người là
Tòa án mà cụ thể là Hội đồng xét xử
Thứ hai, việc quyết định hình phạt đối với tội mua bán người do Tòa
án thực hiện trên cơ sở quy định của BLHS Nội dung của quyết định hình phạt có thể là miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc là việc Tòa án lựa chọn hình phạt cụ thể Quyết định hình phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân người có hành vi phạm tội
Thứ ba, khi quyết định hình phạt đối với tội mua bán người, Tòa án
phải tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt, nguyên tắc quyết định hình phạt và cụ thể là những quy định về khung, loại và mức hình phạt khác nhau được quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự.• X * • • •
27
Trang 281.2.2 Các nguyên tăc quyêt định hình phạt đôi với tội mua bán người
Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với tội mua bán người là nhũng tư tưởng chủ đạo, cơ bản trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án căn cứ vào đó quyết định hình phạt một cách công bằng, hợp lý, đủng pháp luật, bảo đảm mục đích của hình phạt đối với người phạm tội mua bán người
Nguyên tắc pháp chế: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
Luật Hình sự Việt Nam được thế hiện ở việc xét xử hình sự phải đúng người, đúng tội Nguyên tắc pháp chế thế hiện khi quyết định hình phạt đối với tội mua bán người là ở chồ hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với người phạm tội phải phù hợp với các quy định của pháp luật Nội dung của nguyên tắc thể hiện:
Một là, Tòa án cân áp dụng đúng hình phạt đôi với những người thực
hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS Điều 2 của BLHS năm
2015 quy định như sau: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.• < • • •
Hai là, cơ sở của quyết định hình phạt đúng, hợp lý và công bằng là
việc định tội danh chính xác.• • •
Ba là, việc quyết định hình phạt do Tòa án là cơ quan có thấm quyền
nhân danh Nhà nước thực hiện
Bon là, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân theo trình tự và các
điều kiện áp dụng các loại hình phạt được quy định trong BLHS, tuân theo các chế tài của điều luật hoặc khoản của điều luật quy định đối với tội mà người phạm tội đã thực hiện Mức hình phạt mà Tòa án lựa chọn phải nằm trong phạm
28
Trang 29quy định của pháp luật Tòa án không được áp dụng hình phạt vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định.
Năm là, khi đưa ra một hình phạt đối với mồi người phạm tội phải cỏ
căn cứ lập luận thuyết phục và lý do Một đòi hỏi nữa của nguyên tắc pháp chế là tính họp lý của quyết định hình phạt, nó thể hiện ở chỗ trong nhiều phương án giải quyết khác nhau mà luật cho phép, Tòa án cần lựa chọn một loại và mức hình phạt phù họp với bị cáo, vừa phải đúng pháp luật, vừa phải phù họp với các nguyên tắc khác[53J
Nguyên tắc công bằng: Thừa nhận nguyên tắc trong thực tế, đó là:
Không thế áp dụng những hình phạt giống nhau một các máy móc đối với những người phạm tội giống nhau Để kết án một cách công minh, để người
bị kết án phải chịu hình phạt một cách thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, thông qua đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng TNHS, lồi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt v.v , pháp luật dành cho Tòa án một khâ năng rộng lớn, sự “tùy nghi” lựa chọn các biện pháp tác động cụ thể đối với người phạm tội
Nguyên tắc cá thể hóa TNHS: Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình
sự là đòi hỏi các cơ quan xét xử phải xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với xã hội của tội phạm; nhân thân người phạm lội, các tình tiết tãng nặng
và tình tiết giảm nhẹ để áp dụng hợp lí và có chọn lọc những biện pháp cưỡng chế hình sự và tố tụng hình sự đối với người phạm tội Đối với trường hợp vụ án đồng phạm mua bán người thì điều kiện để giảm nhẹ hình phạt cho
bị cáo này không đương nhiên dùng để áp dụng cho bị cáo khác Tinh tiết về nhân thân của người đồng phạm nào thì áp dụng đối với chính người đó Các tình tiết loại trừ TNHS cùa riêng người đồng phạm nào thì áp dụng riêng đối với người đó
29
Trang 30Nguyên tăc nhân đạo: Xuât phát từ truyên thông quý báu của dân tộc
là tinh thần nhân đạo Khi xem xét hành vi của người phạm tội mua bán người, Nhà nước chú ý đến nhiều khía cạnh như độ tuổi, sức khỏe, tình trạng bản thân khi phạm tội để quyết định mức hình phạt phù hợp Nguyên tắc này được thể hiện ở quy định về nguyên tắc xử lý, về mục đích hình phạt, về hệ thống hình phạt, về việc quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt, miễn TNHS
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa thề hiện rõ nét ờ mục đích áp dụng hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội đế họ nhận ra lồi sai từ đó thay đổi nhận thức và tư duy sống có ích cho xã hội Nguyên tắc nhân đạo cũng thể hiện nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội Từ hình và tù chung thân không áp dụng với người chưa thành niên phạm tội Khi xử phạt
tù có thời hạn, người chưa thành niên được hưởng mức án nhẹ hơn mức án với người thành niên phạm tội tương ứng
Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt thể hiện, khi quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, của
xã hội và cùa người phạm tội Sự thiên lệch hay ý kiến tiêu cực đối với bất kỳ một lợi ích nào đều dẫn đến bất công và không nhân đạo
1.2.3 Căn cứ, các giai đoạn và ý nghĩa của quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
Tòa án ra quyết định hình phạt đối với tội mua bán người đòi hỏi đúng căn cứ Các căn cứ đó là: Các quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất và mức
độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
30
Trang 31Căn cứ vào các quy định của BLHS: Theo Luật hình sự Việt Nam thì
nội dung các quy định của BLHS mà Toà án phải tuân thù nghiêm chỉnh khi quyết định hình phạt bao gồm:
Các quy định có tính nguyên tắc về tội phạm và hình phạt trong Phần chung của BLHS Điều luật quy định hình phạt đối với tội mua bán người Sau khi định tội mua bán người, Toà án quyết định hình phạt đối với người phạm tội, việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào các quy định của phần chung BLHS như “nguyên tắc xử lý” (Điều 3 BLHS), vấn đề chuẩn bị phạm tội (Điều 17 BLHS), phạm tội chưa đạt (Điều 18 BLHS), vấn đề đồng phạm (Điều 20 BLHS)
Khi quyết định hình phạt đối với tội mua bán người, Tòa án thực hiện 03 giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất, Tòa án xác định các tình tiết của vụ án có ý nghĩa
đối với việc quyết định hình phạt về tội mua bán người được quy định trong BLHS năm 2015 Để quyết định hình phạt đúng đắn, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, đạt được mục đích hình phạt, Tòa án phải xác định chính xác, khách quan các tình tiết của vụ án là căn cứ để quyết đinh hình phạt
Giai đoạn thứ hai, Tòa án phải nhận thức đầy đủ cơ sở pháp lý cua
việc quyết định hình phạt đối với tội mua bán người Trong giai đoạn này, Tòa án phải nhận thức đầy đù, chính xác các quy định của BLHS liên quan đến việc quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
Theo quy định tại Điều 150 BLHS 2015, hình phạt đối với tội mua bán người được chia thành 04 khoản như sau:
Khoản J: Có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm Khi đầy đủ dấu hiệu
cấu thành tội phạm mua bán người nêu ở mặt khách quan sẽ áp dụng: “Người
nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc hằng thủ đoạn khác thực
31
Trang 32hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đên 10 năm: chuyến giao hoặc tiếp nhận người đê giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để hóc lột tình dục, cưỡng hức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhãn đạo khác; Tuyên mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điêm a hoặc điêm b khoản này • • • */
Khoản 2' Mức hình phạt từ 08 năm đến 15 năm, khi phạm tội thuộc
một các trường hợp sau:
a) Có tô chức.
Phạm tội có tố chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Như vậy, để được coi là phạm tội mua bán người có tồ chức thì hành vi đó phải được thực hiện ít nhất từ hai người trở lên, trước khi thực hiện hành vi phải có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, điều đó cho thấy phạm tội
có tố chức sẽ phải trải qua một giai đoạn nhất định trước khi trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và có chung mục đích là mua bán người (trong đó có người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, có người trực tiếp thực hiện tội phạm, có người xúi giục, hoặc giúp sức, nhưng tất cả đều chung một mục đích là làm thế nào để để mua bán được người) Mua bán người có tổ chức là trường hợp phạm tội nguy hiểm hơn trường họp phạm tội khác vì có sự phân công phối hợp che giấu dễ thực hiện thành công và dễ che giấu tội phạm
b) Vì động cơ đê hèn
Động cơ đê hèn là động cơ phạm tội thể hiện tính hèn hạ và đê tiện của
cá nhân người phạm tội Động cơ đê hèn được hiểu là người phạm tội thực hiện tội phạm với động cơ rất xấu xa, thấp hèn, đáng khinh bỉ, không kẻ gì đến danh dự, nhân phấm, tư cách của một con người Thực tế hiện nay chưa
32
Trang 33có một văn bàn quy định thế nào là phạm tội có tính chất đê hèn mà thực tiễn
xét xử chỉ xem một số trường họp cụ thế sau đây là phạm tội có tính chất đê hèn
c) Gãy rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%>
Trường hợp này là người phạm tội mua bán người trong quá trình thực hiện tội phạm đã gây thương tích, tổn hại sức khoẻ hoặc gây rối loạn tâm thần và hành
vi cho người bị bắt cóc làm con tin mà có tỷ lệ tổn thương cơ thể tù’ 11 % đến 45% Hành vi, thủ đoạn mà người phạm tội có thể gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của con tin có thề thực hiện bằng cách khác nhau như: Đánh đập, tra khảo, bắt nhịn đói, bỏ rét, giam cầm nhưng đều dần đến một hậu quả là nạn nhân
bị tổn hại về sức khoẻ và tinh thần Trong trường hợp này người phạm tội không bị truy cứu TNHS thêm về tội xâm phạm sức khoẻ người khác Neu đồng thời, với việc thực hiện hành vi mua bán người, người phạm tội lại thực hiện hành vi giết người, thì bị truy cứu về tội xâm phạm tính mạng của người khác.[53, tlđd chủ thích 5, tr 214-215.]
Rối loạn tâm thần và hành vi là một dạng biến dạng xử xự thường xảy ra sau khi bị chấn thương tâm lý Người bị rối loạn tâm thần và hành vi có biểu hiện loạn năng trong khả năng tư duy, xử lý thông tin và điều khiến hành vi của bản thân Ví dụ: Sa rút trí tuệ, rối loạn nhân cách, ảo giác, ám ảnh, hoang tưởng,
Tình tiết gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là tình tiết tuy mới được quy định cụ thể trong BLHS năm 2015 nhưng thực tế đã được dùng để xem xét tỷ lệ tốn thương cơ thế từ trước đó, áp dụng theo quy định tại Thông tư liên Bộ
số 12/TTLB ngày 26/7/1995, sau này được thay thế bởi Thông tư số 20/2014/TT- BYT ngày 12/06/2014 quy định bảng tỷ lệ phần ưăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần Tuy nhiên, trong khoa học
33
Trang 34pháp lý hình sự, cụm từ “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” vẫn chưa
có cách hiểu thống nhất Hiện nay có một số cách hiểu như sau:
Cách hiểu thứ nhất là nạn nhân chỉ bị rối loạn tâm thần hoặc rối loạn hành vi
Cách hiểu thứ hai là nạn nhân phải bị cả rối loạn tâm thần và rối loạn hành
vi vì nhà làm luật dùng kết từ “và”, chứ không phải kết từ “hoặc”
Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị mua bán căn cứ vào kết luận của cơ quan giám định pháp y Trong trường hợp nạn nhân từ chối giám định pháp
y mà không có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải đi giám định (theo khoản 2 Điều 127 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) Quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã giải quyết được những khó khăn, vướng mắc tồn tại nhiều năm nay khi bị hại từ chối giám định theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan tố tụng có thẩm quyền
Trường họp phạm tội này chỉ căn cứ vào thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ và tâm thần của người bị mua bán, còn đối với người khác nếu người phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thề còn bị truy cứu thêm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
d) Gây thương tích hoặc gây tân hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ
lệ tôn thương cơ thê 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Trường hợp này BLHS năm 2015 có nêu cụ thể hơn so với BLHS năm
1999 chỉ nêu: Để đưa ra nước ngoài
34
Trang 35Thực tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai với mồi nạn nhân đưa được sang bên kia biên giới, bằng con đưòng chính thức qua các cửa khẩu, hoặc không chính thức qua các đường tiểu ngạch hay vượt biên trái phép, các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội có thể kiếm được rất nhiều tiền, đây là động cơ khiến nhiều người không từ thủ đoạn để thực hiện hành vi phạm tội Bên cạnh đó, vụ việc thường xảy ra ở các địa bàn vùng cao, vùng sâu khiến lực lượng chức năng gặp không ít khó khăn trong quá trình triến khai các phương
án ngăn chặn, truy bắt
Đây là hành vi phạm tội rất nghiêm trọng Thực tiễn cho thấy mức độ nguy hiểm cùa hành vi đưa nạn nhân ra khỏi biên giới so với có ý định đưa người bị mua bán ra khỏi biên giới có mức nguy hiểm gần như bàng nhau, có
ý định đưa nạn nhân ra khỏi biên giới là trường hợp phạm tội chưa đạt ở tình
tiết này, thiết nghĩ điều luật nên quy định thêm trường hợp “cớ ý định đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; ”
e) Đối vói từ 02 đến 05 người.
So với điểm e khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999 chỉ quy định: “Đối
với nhiều người ” mà không quy định cụ thể là bao nhiêu người, rõ ràng là
điều bất cập khi định khung hình phạt người phạm tội mua hoặc bán 02 người
so với người mua hoặc bán hàng chục người mà chịu một khung hình phạt thì chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi Do vậy, đây là điểm sửa đổi hợp lý của BLHS năm 2015 Trường hợp có từ 02 người đến 05 người bị người phạm tội mua bán, trong đó có thể có người bị đưa ra khởi biên giới, có người không bị đưa ra khỏi biên giới hoặc tất cả bị đưa ra khởi biên giới Nếu
có người bị đưa ra khỏi biên giới thì người phạm tội vừa phạm tội mua bán quy định tại điểm e (đối với từ 02 đến 05 người) vừa để nạn nhân ra khôi biên giới (hai tình tiết định khung)
35
Trang 36Mua bán từ 02 đên 05 người trờ lên phải chịu khung hình phạt ở khoản
2 Điều 150 BLHS năm 2015, việc quy định như vậy phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm rất nghiêm trọng của hành vi
Trường hợp, chỉ có một người bị bán hoặc bị mua nhưng người phạm tội đã mua bán nhiều lần (từ hai lần trở lên) đổi với cùng một người thì cũng
bị coi là phạm tội từ hai lần trờ lên
Khoản 3: Mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm được coi là tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng do có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, khi phạm tội thuộc một các trường hợp sau
g) Có tính chất chuyên nghiệp.
Tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" được quy định tại điểm
b khoản 1 điều 48 BLHS: “1 cổ ỷ phạm tội từ năm lần trớ lên về cùng một
tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xỏa án tích;
2 Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sổng và lấy
kết quả của việc phạm tội làm nguồn Sổng chỉnh.”
36
Trang 37Phạm tội mua bán người có tính chât chuyên nghiệp là người phạm tội
cố ý phạm tội mua bán người từ năm lần trở lên và lấy việc mua bán người là nghề sinh sống và lấy nguồn thu nhập từ việc mua bán người nguồn sống chính cho mình đây là một trong những tình tiết định khung tăng nặng của tội mua bán người, đây được coi là yêu cầu cần thiết do thực tiễn xét xử đặt ra
h) Đã lấy bộ phận cơ thê của nạn nhân.
So với BLHS năm 1999 quy định “Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” và BLHS năm 2015 quy định : “Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”,
rõ ràng đây là hành vi rất man rợn, không còn tính người, tác giả đồng tình với quan điểm để nguyên “Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” như BLHS năm 1999, chứ không để hậu quả việc nạn nhân đã mất đi bộ phận cơ thể mới được áp dụng khoản 3, Điều 150 Chỉ cần chứng minh người thực hiện hành
vi mua bán người nhằm lấy bộ phận cơ thể nạn nhân là đã đủ điều kiện để áp dụng Khoản 3 Trên thực tế có nhiều sự việc, cơ quan điều tra phát hiện đường dây mua bán người để lấy nội tạng mặc dù hậu quả lấy được nội tạng chưa xảy ra nhung trong mục đích người phạm tội đã thế hiện rõ ràng ý định mua bán người để lấy nội tạng
f) Gây roi loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, kẻ phạm tội có thể dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác xâm hại đến tâm lý hoặc cơ thể của nạn nhân gây nên rối loạn tâm thần và rối loạn hành vi, trong thực tế rất nhiều nạn nhân sau khi trở về có biếu hiện thần kinh, một số mang thai và mang về con nhò, có nạn nhân thì bị tàn tật, tổn thương cả tinh thần và thể xác
m) Làm nạn nhãn chết hoặc tự sát
37
Trang 38Nạn nhân đã chêt hay có hành vi tự sát thì phải chịu khung hình phạt ở Khoản 3, lưu ý rang nạn nhân chết hoặc tự sát là hậu quả của hành vi mua bán người gây ra, cần phân biệt đối với tội bức tử mặc dù nạn nhân cũng do quá uất ức và tủi nhục mà hành vi mua bán người gây ra.
n) Đối với 06 người trở lên
Mua bán từ 06 người trở lên phải chịu khung hình phạt ở Khoản 3 Điều 150 BLHS năm 2015, việc quy định như vậy phản ánh tính chất và mức
độ nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng của hành vi
o) Trong trường hợp này tái phạm nguy hiểm
“Táiphạm nguy hiếm” tình tiết định khung hình phạt thuộc về nhân thân
người phạm tội “Cóc dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm theo Khoản 2 Điều 53
BLHS năm 2015 là: Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rat nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã tải phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do coý”.• • • • JL • • ✓
Người phạm tội mua bán người bị coi là tái phạm khi phạm tội mua bán người trong thời gian chưa xoá án tích Điều này chứng tỏ hình phạt đưa ra chưa mang tính răn đe Người phạm tội mua bán người chưa nhận thức được lỗi lầm của bản thân, không chịu thay đổi Vì vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trường hợp này đế răn đe nghiêm khắc 51,, tr 48.]
Cũng cần lưu ý ràng, người dưới 18 tuổi bị kết án đưoưg nhiên được coi là không có án tích, không áp dụng tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 107 BLHS năm 2015 Bao gồm: người phạm tội đã bị kết án về bất kỳ hành vi phạm tội nào khi đủ 14 nhưng chưa đủ 16 tuổi; hoặc đã bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm
38
Trang 39trọng hoặc tội phạm rât nghiêm trọng do vô ý khi đã đủ 16 tuôi nhưng chưa đủ 18 tuổi.
Khoản 4' Ngoài các khung hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường
hợp cụ thể và các tình tiết, chứng cứ trong vụ án, người phạm tội còn có thể
bị áp dụng hình phạt bồ sung:
Theo khoản 4 Điều 150 BLHS năm 2015: “Người phạm tội còn có thể
bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến Ỉ00.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm
cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ”.• • • J • •
Có thể thấy, quy định của BLHS năm 2015 đã tăng mức tiền phạt bổ sung đối với người phạm tội và bổ sung thêm nội dung tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Quy định này là tương đối phù hợp bởi xuất phát từ thực tiễn tội mua bán người khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo thu được giá trị vật chất rất lớn từ việc bán người [51]
GVữi đoạn thứ ba' So sánh sự tương thích các quy định của pháp luật
hình sự về tội mua bán người với các tình, các tiết tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của vụ án trên cơ sở đó ra quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
Quyết định hình phạt có ý nghĩa vô cùng to lớn, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố, kể cà việc tranh tụng tại phiên toà) sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Toà án không làm tốt việc quyết định hình phạt Việc quyết định hình phạt đúng pháp luật sẽ là điều kiện pháp lý đầu tiên đế đạt được mục đích của hình phạt được quy định tại Điều 31 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đó là: Mục đích cũa hình phạt không chỉ nhằm trừng trì người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của
39
Trang 40cuộc sông, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Hình phạt luôn có tác dụng trừng phạt răn đe và giáo dục Hai mục đích này của hình phạt này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Tòa án cần cân bằng được cả hai mục đích khi đưa ra quyết định hình phạt Nếu hình phạt đặt nặng vấn đề trừng trị người phạm tội, dẫn đến quyết định hình phạt quá nặng Trong trường hợp này, sẽ tạo ra tâm lý cho người phạm tội là họ phẫn
nộ khi nhận hình phạt không công bằng không tương xứng với hành vi phạm tội Từ đó thiếu niềm tin vào pháp luật, không cải tạo tốt
Ngược lại, nếu quan trọng hoá việc giáo dục, cải tạo mà coi nhẹ mặt trừng trị Không thấy hết được hình phạt là công cụ để đấu tranh phòng, chống tội phạm và việc trừng trị bằng hình phạt, là sự phản ứng của Nhà nước đổi với tội phạm, thì có thể dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cua tội phạm Đây chính là nguyên nhân dẫn đến làm nảy sinh ở người phạm tội và những người khác ý thức coi thường pháp luật, không tạo ra sự tin tưởng, đồng tình cần thiết để giáo dục quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
13 Mối quan hệ giữa định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán người
Mối quan hệ giữa định tội danh và quyết định hình phạt nói chung và đối với tội mua bán người nói riêng là quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó định tội danh đóng vai trò quyết định Định tội danh đúng tức
là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật Định tội danh mua bán người đúng và chính xác có ý nghĩa quyết định đối với vụ án hình sự, bởi vì
40