Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, dân tộc học, triết học... Song, giải đáp những vấn đề chung nhất về con người như bản chất con người, ý nghĩa cuộc sống của con người, trước hết phải là nhiệm vụ của triết học, bởi vì, đặc trưng của tư duy triết học là sự phản ánh của tư duy con người đối với bản thân mình. Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?... Đây cũng là nội dung cơ bản của nhân sinh quan một nội dung cấu thành thế giới quan triết học.Triết học Mác Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử, đồng thời, khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội; trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa nhưng quan hệ xã hội và con người là sản phẩm của lịch sử.Còn Phật giáo lại tiếp cận vấn đề con người từ góc độ khác. Góc độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý đối với những vấn đề nhân sinh quan. Kết luận về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật. Tìm hiểu về con người, bản chất và mục tiêu giải phóng con người nói chung và theo quan niệm của triết học Phật giáo nói riêng có một ý nghĩa và giá trị rất thiết thực, không chỉ giúp định hướng một nhân sinh quan sống cho mỗi cá nhân mà hơn thế nữa, nó còn giúp chúng ta thực hiện chiến lược phát triển đất nước: Tất cả cho con người và vì con người, ngày hôm nay cũng như cho các thế hệ mai sau.
Trang 1ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
-TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VỀ CON NGƯỜI, ẢNH
HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NÀY ĐẾN NHẬN THỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Sinh viên: Nguyễn Nam Lớp: Kinh tế nông nghiệp
Trang 2A MỞ ĐẦU
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như sinh vật học,tâm lý học, đạo đức học, dân tộc học, triết học Song, giải đáp những vấn đề chung nhất về conngười như bản chất con người, ý nghĩa cuộc sống của con người, trước hết phải là nhiệm vụ củatriết học, bởi vì, đặc trưng của tư duy triết học là sự phản ánh của tư duy con người đối với bảnthân mình Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử nhân loại Đó
là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người vàthế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do? Đây cũng là nội dung cơbản của nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết học
Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hay vấn đề kia.Đồng thời, tùy theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết họctrong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc lý giải về con người
Thời kỳ cổ đại, Protagoras cho rằng: “Con người là thước đo của vạn vật” và đặc biệt khiSocrate kêu gọi “Con người hãy tự biết mình” thì khi đó, đối tượng con người, đối tượng gần gũi
và thân cận nhất là con người mới được các nhà triết học đương thời chú ý và quan tâm Ngàynay, con người không chỉ được nghiên cứu như là đối tượng khách quan của nhiều ngành khoahọc mà còn trở thành một phần chủ thể góp phần kiến tạo và hình thành nên diện mạo thế giớikhách quan Ở Ấn Độ, con người là “tiểu vũ trụ”, sống chính là nhằm hòa tan cái “tiểu vũ trụ”nhỏ bé vào “đại vũ trụ” rộng lớn như giọt nước hòa vào đại dương mênh mông Ở Trung Quốc,con người và trời đất là một, xuất phát từ Đạo và cuối cùng cũng quay trở về với cái Đạo của nó.Những điều vừa đề cập ở trên cho ta thấy rằng vấn đề con người được các nhà triết học thời kỳ
cổ đại bàn đến là vấn đề trung tâm, xoay quanh việc giải đáp vấn đề xã hội và đề cao chính bảnthân con người
Trong thời kỳ phục hưng và cận đại, Bêcơn cho rằng con người là sản phẩm của tạo hóa;Hốpxơ thì quan niệm con người là sự thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội Còn theoLépnít thì con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác; trong quan niệm của Hium, bản thân
“con người không là cái gì khác ngoài sự liên hệ hay một chùm các giá trị khác nhau, cái này kếtiếp cái kia, và tất cả chúng nằm trong quá trình biến đổi một cách nhanh chóng lạ kỳ” Ở thời
kỳ phục hưng con người là vấn đề trung tâm của triết học, vấn đề con người được nghiên cứu vớimục đích nhằm giải thoát con người khỏi xiềng xích chật hẹp mà các tôn giáo thời trung cổ áp
Trang 3đặt cho nó.
Triết học Mác - Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử, đồng thời, khẳngđịnh con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội; trong tính hiệnthực của nó, bản chất con người là tổng hòa nhưng quan hệ xã hội và con người là sản phẩm củalịch sử
Còn Phật giáo lại tiếp cận vấn đề con người từ góc độ khác Góc độ suy tư về con người
và đời người ở tầm chiều sâu triết lý đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính
Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ làmột trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật Tìm hiểu về con người, bản chất vàmục tiêu giải phóng con người nói chung và theo quan niệm của triết học Phật giáo nói riêng cómột ý nghĩa và giá trị rất thiết thực, không chỉ giúp định hướng một nhân sinh quan sống chomỗi cá nhân mà hơn thế nữa, nó còn giúp chúng ta thực hiện chiến lược phát triển đất nước: Tất
cả cho con người và vì con người, ngày hôm nay cũng như cho các thế hệ mai sau
Với những lý do trên nên tôi chọn đề tài “ Triết học phật giáo về con người, ảnh hưởng
của triết lý này đến nhận thức và hoạt động sống của người Việt” làm đề tài tiểu luận.
Trang 4CHƯƠNG 1 DƯỚI GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI ĐƯỢC PHẢN ÁNH TRONG NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
1.1 KHÁI LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO
1.1.1 Con đường hình thành và phát triển Phật giáo ở Ấn Độ
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách ngày nay khoảng 2500 năm Người sáng lập là Tất Đạt Đa
họ Cù Đàm Ông sinh ra vào ngày trăng tròn tháng Vaisaka mà ngày nay cho rằng là ngày rằmtháng Tư, lấy đó làm ngày Phật Đản Ông thuộc dòng dõi quý tộc, tộc Thích Ca Cha là vua TịnhPhạn, mẹ là hoàng hậu Ma Da, thuộc vương quốc Ca Tì La Vệ (ngày nay thuộc lãnh thổ nướcNêpan) Ông sinh năm 563 tr.CN mất năm 483 tr.CN (có sách ghi 623 - 543, và sinh ngày 08/04).Theo truyền thuyết thì Đức Phật có tới 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm con vua Sakya Trongnhững tiền kiếp trước dù ông là con người hay là con vật thì điều đầy lòng từ -bi-hỷ-xả, sẵn sàng
hy sinh vì đồng loại Kiếp gần nhất của ông là con voi trắng 6 ngà Khi mới sinh ra, Phật có 32 dịtướng (tam thập nhị), 82 đặc điểm phi thường (bát thập nhị chủng hảo) và đã được tiên đoán làthành Hoàng Đế trị vì thiên hạ, nếu không thì cũng là đức Phật cứu nhân độ thế
Năm 19 tuổi, ông kết hôn với Da Du Đà La sinh hạ một người con trai là La Hầu La.Năm 29 tuổi ông xuất gia tu hành theo phương pháp khổ hạnh, hành khất về phương Nam.Ôngthiền định trong 6 năm, đến mức thân hình gầy yếu chỉ còn da bọc xương, nhưng vẫn không đắcđạo Ông đã suy nghĩ “ta tu khổ hạnh, ép xác như thế này mà không thấy đạo, thì cách tu của tachưa phải, chi bằng ta phải theo trung đạo, tức không say mê việc đời, mà cũng không quá khắckhổ ” Năm đạo sĩ cùng tu hành với Tất Đạt Đa, tưởng Ngài thoái chí nên bỏ Ngài đi tu chỗkhác Còn lại một mình, một buổi trưa sau khi tắm rửa xong và uống một cốc sữa của người chăn
bò đưa cho, ông cảm thấy khoan khoái, tinh thần tỉnh táo hẳn lên, ông một mình đến ngồi gốccây Bồ Đề (Bobdi - Tâtbatla) thiền tịnh trong 49 ngày thì quả nhiên giác ngộ, thấy được cănnguyên sinh - thành - biến - hóa của vạn vật, vũ trụ, nhân sinh; tìm ra nguồn gốc của nổi khổ vàphương pháp trừ nổi khổ cho sinh linh Ông xuất gia ngày 8/2/535(595) tr.CN, giác ngộ thànhPhật ngày 8/12/529 (589) tr.CN Ông đã truyền đạo của mình trong 45 năm nữa và nhập NiếtBàn ở Câu Thi Na năm 80 tuổi (ngày 15/2/483(543) tr.CN)
Sau khi Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn thì trong giáo đoàn có nhiều ý kiến khác nhau
Cho nên ngay trong năm đó đã triệu tập cuộc kết tập lần thứ nhất tại thành Vương Xá 500 tì
kheo hiệp tụng những lời Thích Ca Mầu Ni dạy dưới sự chủ tọa của Ma Ha Ca Diếp, đệ tử thứ
Trang 5ba, mệnh danh là người tu định đệ nhất A Nan, đệ tử thứ năm, mệnh danh là đa văn đệ nhất, em
họ của Thích Ca, tụng pháp sau này là cơ sở của Kinh Tạng Ưu Bà Ly, đệ tử thứ mười, mệnhdanh trì luật đệ nhất, xuất thân thợ cạo, tụng giới sau này là cơ sở của Giới Tạng Vốn Thích CaMầu Ni không phân biệt Pháp, Giới trong khi thuyết pháp Lần kết tập này mới hệ thống lại nhưthế Lần kết tập này kéo dài 7 tháng và không có văn bản Sau này Tam Tạng (ba bộ A Hàm)được coi là mang nội dung của cuộc kiết tập lần này Thực tế nội dung Tam Tạng đã phong phúphát triển hơn mà ngay sự có mặt của Luận Tạng cũng đã chứng minh điều đó
Điều đáng lưu ý, ngay lần kết tập thứ nhất đã không thống nhất được giáo đoàn Phú Lâu
Na, đệ tử thứ chín, mệnh danh biện tài đệ nhất, không dự cuộc kết tập này Và, trong khi Ca Diếpchủ trì cuộc họp trong thành Vương Xá tại hang Thất Diệp thì ở ngoài thành tại tịnh xá Trúc Lâmlại có một số đệ tử khác hội họp và tỏ ý không tán thành nội dung cuộc họp ở Thất Diệp
Thành phần giáo đoàn phức tạp Có tín đồ thuộc tín ngưỡng khác (như thờ Lửa, Bà laMôn giáo ), có tín đồ thuộc các đẳng cấp khác nhau (Bà La Môn như Ma Ha Ca Diếp, Sát Đế Lợinhư A Nan, Thủ Đà La như Ưu Bà Ly ) Cho nên ngay từ khi Thích Ca Mầu Ni còn sống thì đã cónhiều ý kiến khác nhau Tiêu biểu nhất là Đề Bà Đạt Đa, em họ Thích Ca Mầu Ni đã từng phảnđối quyết liệt Thích Ca, đưa ra lý luận gọi là Ngũ Pháp, chủ trương khổ hạnh cực đoan
Cuộc kết tập lần thứ hai tiến hành sau kết tập lần thứ nhất khoảng 100 năm tại Phệ Xá Lị.
Nguyên nhân triệu tập kết tập lần này là để thảo luận Thập Sự do các tì kheo tộc Bạt Kỳ đông Ấn
Độ nêu ra Kết tập do trưỡng lão Da Xá chủ trì với 700 tì kheo tham dự, tiến hành thảo luậntrong 8 tháng Kết quả dẫn đến sự phân biệt thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ (tiền thâncủa Tiểu thừa và Đại thừa sau này) Có tư liệu cho rằng người sáng lập Đại Chúng Bộ là ĐạiThiên, người đề xướng Ngũ Sự
Khoảng sau hơn 100 năm nữa thì cuộc kết tập lần thứ ba được triệu tập theo sáng kiến
của vua A Dục Một nghìn người họp ở thành Hoa Thị dưới sự chủ tọa của Mục Kiền Liên diễn
ra ròng rã suốt 9 tháng Chủ đề kết tập lần này là phê phán ngoại đạo Kết tập lần này, Tam Tạng
đã được ghi lại thành văn bản với cả hai thứ tiếng Sanskrit và Pali Sau khi kết tập, được sự bảotrợ của vua ADục, các tăng đoàn được thành lập và bắt đầu truyền bá đạo Phật ra nước ngoài
Cuộc kến tập lần thứ tư do vua Ca Nhị Sắc Ca (125 - 150 s.CN) khởi xướng Hiếp Tôn
Giả đề xuất, Thế Hữu chủ trì có 500 A la hán dự tại Ca Thấp Nhi La (nay thuộc Cátsơmia) Cótài liệu lại cho rằng cuộc kết tập lần này do Ca Chiên Diên Tử thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộtriệu tập 500 A la hán và 500 Bồ Tát họp ở Khê Tân (tây bắc Ấn Độ), mời Mã Minh chấp bút bộ
Trang 6A Tì Đạt Ma Tì Bà Sa Thời gian đó là sau khi Phật nhập diệt 500 năm, tức là vào khoảng thế kỷI/II Kết tập lần này đã hoàn chỉnh “kinh điển” của Phật giáo và tồn tại cho đến ngày nay Cũng
từ lần kết tập này, Phật giáo chính thức chia thành hai phái lớn là Đại thừa và Tiểu thừa
- Tiểu thừa có nghĩa là cỗ xe nhỏ, phái này chủ trương ai tu thì tự độ lấy mình Kinh sáchban đầu chủ yếu viết bằng tiếng Paly, và chủ yếu truyền đạo về phía Nam như Xrilanca, Lào,Thái Lan, Campuchia, Miến Điện, nên còn gọi là Nam tông Phái này “chấp hữu”, tức phủ nhậnbản thể (Ngã, Tự Tính) nhưng không phủ nhận sự tồn tại khách quan vật chất của thế giới (Pháp,vạn pháp, chư pháp) Tiểu thừa cơ bản coi Thích Ca Mầu Ni là người thầy dẫn đường, một vĩnhân lịch sử Và học tập Thích Ca Mầu Ni đến chỗ Vô học, không còn phải học nữa, đạt đếntrình dộ thánh nhân rồi, quả vị tối cao của Tiểu thừa Tiểu thừa bám chắt Tam Học (Giới ĐịnhTuệ), Bát Chính Đạo và chỉ thờ Thích Ca Mầu Ni mà thôi Tiểu thừa lấy độc thiện kỳ thân
Tiểu thừa có hai phái lớn là: Phái “Nhất thiết hữu bộ” (Savatyvada), tập trung nghiên cứuphạm trù thời gian Phái Kinh bộ (Sautramtica), xây dựng “lý thuyết về tính chốc lát” Về sau,Tiểu thừa còn nhiều phái khác như Câu xá tông, Thành thực tông, Luật tông
- Đại thừa có nghĩa là cỗ xe lớn, phái này không chỉ là giác ngộ cho mình mà còn giácngộ cho mọi người Kinh sách thường viết bằng tiếng Sanskrit và phát triển mạnh mẽ về phíaBắc như Nêpan, Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Nhật, Việt Nam nên còn gọi là Bắc tông Pháinày “chấp không” (không luận), tức vừa phủ nhận bản thể, vừa không thừa nhận sự tồn tại kháchquan chân thực (chứ không phải phủ nhận sự tồn tại đó) Đại thừa đưa ra khái niệm Tam Thân(Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân) Phật không còn là nhân vật lịch sử mà là Thần với vô vànthân, tức Thiên Phật Đại thừa đã thần thánh hóa Thích Ca Mầu Ni, coi người chỉ là một Phậtxuống trần cứu vớt nhân loại mà thôi Đại thừa phê phán A la hán là chưa đạt tới quả vị tối cao,đưa ra khái niệm Bồ Tát mà chữ Phạn là BODHISATTWA, BODHI là Giác, SATWA là Chúngsinh (hữu tình chúng sinh), nghĩa là chúng sinh đã giác ngộ Đại thừa giải thích “thượng cầu bồ
đề, họa há chúng sinh”, tức là mình Giác rồi giáo hóa chúng sinh cho chúng sinh Giác Đó là tưtưởng Lợi Tha, Tự Giác Giác Tha - Đó là tinh thần vị tha cứu thế, cứu khổ, cứu nạn, sau này sẽcàng phát triển Người tu hành đạt đến trình độ Bồ Tát, nên có Bồ Tát Mã Minh, Bồ Tát LongThọ là những nhân vật lịch sử
Đại thừa có hai phái lớn là: Phái Trung luận (Madhymika) do sư Long Thọ lập ra ở thế kỷ
II s.CN Phái Trung luận truyền tụng chủ yếu là các kinh Hoa Nghiêm, Trung luận, Thập nhi mônluận, Thập trụ luận Phái Du Già (Yogacara) do hai anh em Vô Trước (Asangha) và Thế Thân
Trang 7(Vasubhandha) sáng lập ở thế kỷ IV s.CN Kinh sách truyền tụng của phái này thường là Du già
sư địa luận (duy thức luận), Đại thừa luận, Kim cương bát nhã luận Về sau Đại thừa còn cónhiều tông phái khác như Pháp tường tông, Tam luận tông, Hoa nghiêm tông, Thiên tai tông, Mậttông (Chân ngôn tông), Thiền tông, Tịnh độ tông
Hay có thể tóm gọn lại Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI tr.cn; ngườisáng lập là thái tử Sidharta (Tất-đạt-đa), họ là Gotama (Cồ-Đàm) Ông sinh năm 624 tr.cn, vàolúc ở Ấn Độ đạo Balamon đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội Nỗi bấtbình của thái tử về sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nổi khổ của muôn dân
là những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một tôn giáo mới
Thực chất đạo Phật là một Học Thuyết về “nỗi khổ và sự giải thoát” Đức Phật từng nói:
“Ta chỉ dậy một điều: Khổ và Khổ Diệt” Cốt lõi của học thuyết này là Tứ diệu đế (Bốn chân lý
kỳ diệu) hay Tứ thánh đế (Bốn chân lý thánh), đó là: Khổ đế, Nhân đế, Diệt đế, Đạo đế Toàn bộgiáo lý Phật được xếp thành ba tạng là: Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng Phật giáo coi trọngPhật-Pháp-Tăng, gọi là tam bảo: Đức Phật sang lập ra Phật giáo; pháp (giáo lí) là cốt tủy củaPhật; tăng chúng (người xuất gia tu hành) truyền bá Phật pháp trong thế gian
Năm 1193, những người Hồi giáo đã tàn sát tín đồ Phật giáo Ấn Độ, phá hủy các tu viện.Phật giáo bị tiêu diệt trên đất Ấn Độ Nhưng thật ra Phật giáo đã suy vong ở đầu thế kỷ IX.Nhưng trong thời gian tồn tại của nó, Phật giáo đã từ Ấn Độ truyền bá sang các nước sungquanh, trở thành hệ thống tôn giáo - triết học thế giới, có ảnh hưởng lớn đến tinh thần và lịch sửvăn hóa của nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt nam
1.1.2 Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về sự du nhập của Phật Giáo vào Việt Nam Nhưng ngàynay, nhiều học giả, giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Ðạo Phật đã được truyền vào ViệtNam rất sớm, nhất là từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua hai con đường HồTiêu và Ðồng Cỏ
Phật Giáo du nhập qua con đường Hồ Tiêu:
Con đường Hồ Tiêu (Chemi des epices) tức là đường biển, xuất phát từ các hải cảng vùngNam Ấn rồi qua ngã Srilanka, Indonesia, Việt Nam lợi dụng được luồng gió thổi định kỳ vàohai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ở khu vực Ðông Nam Á, những thương nhân Ấn
đã tới các vùng này để buôn bán bằng những con thuyền buồm Trong các chuyến đi viễn dươngnày, các thương nhân thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và
Trang 8các vị tăng này nhờ đó mà đến truyền bá Ðạo Phật vào các dân tộc ở Ðông Nam Á Giao Châutiêu biểu bấy giờ là trung tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền.Lịch sử chính thức xác nhận năm 240 trước Tây lịch, Mahoda - con vua A dục (Asoka) đã đưaÐạo Phật vào Việt Nam Tư liệu trong Lĩnh Nam Chính Quái cho biết một dữ kiện chứng tỏ sự
có mặt của Ðạo Phật vào đời Hùng Vương thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể từ trước côngnguyên 2879-258) Ðó là câu chuyện công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng Vương thứ 3 lấyChử Ðồng Tử Chuyện kể rằng Ðồng Tử và Tiên Dung lập phố xá buôn bán giao thiệp với ngườinước ngoài Một hôm Ðồng Tử theo một khách buôn ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đâyÐồng Tử đã gặp một nhà sư Ấn Ðộ ở trong một túp lều Nhờ đó mà Ðồng Tử và Tiên Dung đãbiết đến Ðạo Phật Qua dữ kiện này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các tăng sĩ Ấn Ðộtruyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch
Một bài nghiên cứu của Ngô Ðăng Lợi, viện nghiên cứu khoa học Hải Phòng viết: "Vùng
Ðồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng định chính là thành Nê Lê nơi có bảo tháp của vua Asoka.Nếu quả vậy thì từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, Ðạo Phật đã được trực tiếp truyền vào nước ta"
Và Thiền Uyển Tập Anh cũng ghi nhận cuộc đàm luận giữa thiền sư Thông Biện và Thái HậuPhù Thánh Linh Nhân (Ỷ Lan) (khi bà hỏi về nguồn gốc Ðạo Phật Việt Nam vào dịp các caotăng trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc - Hà Nội), vào ngày rằmtháng 2 năm 1096 Thông Biện dẫn chứng lời pháp sư Ðàm Thiên (542-607 TL) đối thoại với TùyCao Ðế (?-604 TL): "Một phương Giao Châu, đường sang Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thìGiang Ðông (Trung Hoa) chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng hơn 40người, dịch kinh được 15 quyển, vì nó có trước vậy, vào lúc ấy thì đã có Khâu Ðà La, Ma Ha KỳVực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó" Ma Ha Kỳ vực, Khâu Ðà La (188TL) người Ấn Ðộ hay Trung Á; Mâu Bác (165-170 TL) người Trung Hoa; Khương Tăng Hội(200-247 TL) người Ấn Ðộ; Chi Cương Lương (?-264 TL) người xứ Nhục Chi, theo sử chép đó
là các vị sư có mặt sớm nhất ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ II đến thế kỷ III Có lẽ đây chỉ lànhững vị được sử ghi lại tên tuổi, kỳ thực đây không phải là phái đoàn truyền bá đầu tiên đếnViệt Nam, vì từ thế kỷ III trước Tây lịch đến thế kỷ II sau Tây Lịch chắc chắn đã có nhiều tăng sĩđặt chân đến hoằng Pháp tại Việt Nam, cho nên Pháp sư Ðàm Thiên chỉ dẫn phần giới hạn và căn
cứ vào sự có mặt của tác phẩm Lý hoặc Luận của Mâu Bác
Qua nhiều tài liệu lịch sử và dựa vào địa lý, thiên nhiên, cư dân, lịch sử có thể cho chúng
ta một kết luận rằng Ðạo Phật đã được truyền trực tiếp vào Việt Nam chứ không thông qua Trung
Trang 9Hoa bằng con đường Hồ Tiêu Tuy nhiên, cũng có nhiều cứ liệu lịch sử chứng minh rằng ÐạoPhật đồng thời được truyền vào Việt Nam qua con đường Ðồng Cỏ.
Phật Giáo du nhập qua con đường Ðồng Cỏ:
Con đường Ðồng Cỏ (Chemin des Steppes) tức là đường bộ còn gọi là con đường tơ lụa Con đường này nối liền Ðông Tây, phát xuất từ vùng Ðông Bắc Ấn Ðộ, Assam hoặc phía Trung
Á, một nhánh của đường tơ lụa đi từ Châu Âu qua các vùng thảo nguyên và vùng sa mạc ở Trung
Á tới Lạc Dương bằng phương tiện lạc đà Cũng có thể các thương nhân và tăng sĩ qua vùng TâyTạng và các triền sông Mêkông, sông Hồng, sông Ðà mà vào Việt Nam Cuốn Lịch sử Phật GiáoViệt Nam (Hà Nội, 1988) có nói rõ: "Các thương nhân xuất phát từ Trung Ấn có thể dùng tuyếnđường bộ ngang qua đèo Ba Chùa và theo sông Kanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằngtuyến đường hiện nay vẫn nối liền cảng Moulmein với thành phố Raheng, nằm trên một nhánhcủa con sông Mênam ( ) chính tuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mêkông,địa bàn của vương quốc Kambijan Vương quốc này có thể là do những di dân Ấn Ðộ thành lậptrước công nguyên Rất có thể các tăng sĩ Ấn Ðộ vào đầu công nguyên đã theo con đường này
mà đến đất Lào, rồi từ đây vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An"
Từ thế kỷ thứ III, Phật giáo tại Giao Châu vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự xuấthiện của Tăng Hội (? - 280) và tư tưởng thiền của ông Ông không những là sáng tổ của Thiềnhọc Việt Nam, mà còn là người đầu tiên đem thiền học phát huy ở Trung Hoa (Tăng Hội đã ởtrên đất Ngô từ năm 255 đến 280)
Sự thâm nhập của Phật giáo theo con đường đồng cỏ còn được thể hiện ở việc các thiền
sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo ViệtNam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.Các phái thiền du nhập ở đất Bắc,thì sớm nhất là tổ Vinitaruci (549) đã lập nên thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi Việt Nam Vị tổ này
là Pháp lữ với đệ Tứ tổ Đạo Tín ở Trung Hoa Hai tổ đều là đệ tử đắc Pháp của đệ tam tổ TăngXán Phái Vinitaruci truyền được 19 thế hệ, có 28 thiền sư đắc Pháp, khởi đầu từ Ngài PhápHiền (626) đến Ngài Y Sơn (1216) phái này không thấy truyền vào phương Nam khi dân tộcViệt Nam làm cuộc Nam tiến lâu dài liên tục
Thiền phái thứ hai là Vô Ngôn Thông (826) Ngài Pháp lữ với Ngài Quy Sơn (853) bênTrung Hoa Hai tổ đều là đệ tử đắc pháp của tổ Bách Trượng (814) phái thiền này truyền được 15thế hệ, có đến 40 vị đắc pháp; truyền mãi cho đến niên hiệu Khai Hựu nhà Trần(1337) Phái nàycũng không thấy truyền vào phương Nam Mặc dầu, vào các thế kỷ XIII, XIV đời Lý, Trần thì
Trang 10người Đại Việt đã làm chủ đất Thuận Hóa.
Thiền phái thứ ba do chính một thiền sư Trung Quốc đã đến đất Châu Ô, Châu Rí cắmtích trượng để hoằng hóa giáo Pháp, nhưng cơ duyên lại đẩy vị thiền sư này ra Thăng Long đểkhai phá, đó là thiền sư Thảo Đường, phái này truyền thừa được 5 thế hệ, có 19 thiền sư đắcpháp Thời gian kéo dài từ 1069 đến 1205 Mặc dầu, từ Châu Ô, Châu Rí ra; nhưng về sâu thiềnnày cũng không truyền vào phương Nam
Thiền phái thứ tư do người Việt sáng lập, đó là dòng Thiền Trúc Lâm ở núi Yên Tử Pháinày long thịnh vào thời dân Đại Việt đã làm chủ cõi đất Thuận Hóa, tuy có đến cửa Tư Dung vàvùng Bắc Thuận Hóa mà không truyền bá rộng rãi ở vùng đất mới này
Như vậy, từ buổi đầu, cõi Tiên Bình, Thuận Hóa có Phật giáo, có chùa chiền, có Phật giáodân gian, có chùa làng, nhưng chưa thấy chùa Tổ có truyền thừa theo một dòng kệ nào
Kịp đến thời kỳ Nam Bắc phân tranh, con đương về Nam bị chặn bởi cuộc nội chiến quaphân Song tại Nam Hà thì công cuộc Nam tiến tiếp tục diển tiến
Như vậy, nếu không có một Phật giáo Nam Hà, có lẽ nếp sống tư duy, tình cảm tôn giáo
sẽ là chỗ trống lớn trong tâm hồn người Việt
Thiền phái thứ năm là thiền phái Nguyên Thiều và thiền phái thứ sáu là Thiền Tử Dung-Liểu Hạnh ở Huế cũng đã góp mặt tiếp nối sự hoằng hóa giáo Pháp của đức Phật, làm cho đạomạch Phật giáo Việt Nam lưu trường và tiến về phương Nam của dân tộc
Những dữ kiện về con đường Hồ Tiêu và con đường Ðồng Cỏ có liên quan đến sự giaolưu của Việt Nam tuy chưa nhiều chứng minh có những chứng tích mà lịch sử còn để lại, dù lịch
sử truyền miệng hay thành văn, theo lịch sử Phật Giáo Việt Nam thì vào thế kỷ thứ II trước Tâylịch, vua Ấn Ðộ Asoka sau cuộc đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, vua và trưởng lão TissaMoggaliputta đã gởi nhiều phái đoàn Như Lai sứ giả lên đường truyền bá chánh pháp cho cácnước thuộc vùng viễn đông, trong đó có đoàn của hai vị cao tăng là Uttara và Sona được pháiđến Suvana-Bhumi, xứ Kim Ðịa Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về vùng Kim Ðịa nhưng ý kiếntrong quyển lịch sử Phật Giáo Thế Giới thì cho rằng vùng Kim Ðịa này là bán đảo Ðông Dương
từ Miến Ðiện kéo dài đến Việt Nam Vấn đề này được sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (sđđ)viết: "Sử liệu Phật Giáo Miến Ðiện chép rằng hai vị cao tăng đó (Uttara và Sona) đã đến MiếnÐiện truyền giáo nhưng sử liệu Phật Giáo tại Thái Lan cũng ghi là hai cao tăng Uttara và Sona cóđến Thái Lan truyền giáo Có học giả dựa vào một tài liệu Trung Hoa nói rằng ở Giao Châu tạithành Nê Lê, có bảo tháp của vua Asoka, và học giả đó xác định thành Nê Lê chính là Ðồ Sơn
Trang 11hiện nay (cách Hải Phòng khoảng 12km)".
Tuy nhiên, ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, ta có thể xem việcnày đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ X, khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độcộng với sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sản sinh,hình thành nền thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh Từ đây
đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm làgiai đoạn thế kỷ X - XIV
Thứ nhất là Mật tông: Ra đời từ thế kỷ VII, khi Phật giáo Ấn Độ đã suy yếu và Ấn Độ
giáo hình thành Mật tông hình thành từ Phật giáo Đại thừa và các yếu tố bùa chú, pháp thuậtthần linh của Ấn Độ Những người tu hành trong tông phái mật tông đã ảnh hưởng lớn đến phậtgiáo Việt Nam thời nhà Lý với các sư Vạn Hạnh, tới đạo hạnh Không Minh không Mật tông đềcao vai trò của người xuất gia tu hành, thậm chí còn coi là liệu thân của Phật
Thứ hai là Tịnh độ tông: Ra đời vào thế kỷ IV ở TRung Quốc do sư Tuệ Viễn (Viễn
Công) lập ra, Tịnh độ tông thờ Tam Bảo: Tam bảo tức là ba ngôi báu Tam bảo là Phật Bảo, PhápBảo, Tăng Bảo Phật Bảo: Đại giác, đại ngộ, hiểu biết tất cả Pháp Bảo: những giáo thuyết củađức Phật Tăng Bảo: những người xuất gia cùng hòa hợp, cùng nhau tu học giáo thuyết của Phật.Quy y Tam bảo: là gửi thân vào đức Phật, vào đạo Phật, vào tăng chúng của Phật Tức là nươngtheo đức giác có đủ Phước và Huệ, tức là nương theo sự chính không tà kiến, là nương theo đứcTịnh không nhiễm ô trọc, không chấp nệ Như vậy, Phật tức là giác, Pháp tứ là chính, Tăng tức làtịnh Có 3 thứ Tam bảo là tổng thể Tam bảo (3 ngôi còn ở trong thế gian) Họ niệm Phật, chủtrương dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu Điều quan trọng là giữ cho tâm tính yên tĩnh,không vọng động, phải hướng thiện và hướng thượng, luôn nhớ công đức cũng như lời răng dạycủa Phật Phải luôn có niềm tin vào sự giác ngộ
Thứ ba là Thiền tông: Ra đời vào thế kỷ VI ở Trung Quốc sư tổ là Bồ Đề Đạt Ma, cho
rằng giáo thuyết Phật giáo trừu tượng, lại nhiều kinh sách, người bình dân khó tiếp thu chân lýcủa phật nên ông chủ trương tu thiền, yên lặng mà suy nghĩ Tu thiền là cách tốt nhất để thấyđược tâm, tính và giác ngộ, vì phật tại tâm, tại tính chứ không phải ở bên ngoài Có tu tiệm ngộthông qua 52 bậc mới đạt quả Phật Có tu đốn ngộ giác ngộ nhanh với điều kiện người tu hành phảitạo ra được công án làm trí tuệ bùng sáng Thật ra niệm là nhân của đốn, đốn là nhân của tiệmtrong quá trình tu hành Thiền tông Việt Nam là thiền tông nam phái Phật giáo có luật lệ lễ nghi và
Trang 12sự thờ phụng.
Người theo đạo Phật có 2 dạng là tu tại gia và xuất gia tu hành Người theo tại gia gọi là
Ưu bà tắc (Nam), Ưu bà di(Nữ) gọi chung là cư sĩ hoặc là phật tín đồ Cư sĩ tại gia phải thực hiệnngũ giới gồm không được sát sanh; không được trộm cắp; không được sinh hoạt như vợ chồngvới người không phải là chồng hoặc vợ của mình; không được vọng ngữ; không được uống rượusay và thập thiện gồm không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm (3 điều kiện về thân);không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều ác, không nói thêu dệt (4 điều thiện vế khẩu),không tham lam, không giận dữ, không tà kiến (3 điều thiện về ý)
Người mới xuất gia tu hành gọi là tiểu hay điệu Sau một thời gian tu tập (tập sự) sẽ đượcxuống tóc dần dần và khi được tăng chúng đồng ý sẽ thụ giới Sadi (ở ngoài bắc quen gọi là sưbác) Sa di phải thực hiện 10 giới cấm, ngoài 5 giới cơ bản trên còn phải thực hiện 5 giới nữa làkhông trang điểm, bao gồm cả không bôi nước hay xoa dầu thơm; không nằm giường nệm caosang và giường rộng giành cho 2 người; không xem ca hát nhảy múa; không cất giữ vàng bạc;không ăn quá giờ quy định Sau một thời gian làm Sadi ( từ 10 năm trở lên) nếu được tăng chúngthừa nhận có đủ tư cách và trình độ thì sẽ được thụ giới Tỳ Kheo Lễ thụ giới Tỳ Kheo được tổchức trọng thể theo một thiết chế gọi là giới đàn Tỳ Kheo có các bậc Đại đức (còn gọi là sưông); Thượng tọa (ngoài việc có đạo đức và trình độ Phật học cao còn phải có 45 tuổi đời và 25tuổi hạ trở lên); Hòa thượng (ít nhất phải có 60 tuổi đời và 45 tuổi hạ) Ni không có phẩm thượngtọa và hòa thượng mà được thay bằng phẩm ni sư và sư trưởng
Bậc Tỳ Kheo trở lên: Tăng phải giữ 250 giới, Ni phải giữ 348 giới Người xuất gia phảiđược phép của cha mẹ, không tàn tật, không nói ngọng, không phải là tội phạm, không phải là kẻtrốn nợ và phải được tăng chúng trong chùa hay tu viện đồng ý Người xuất gia tu hành được gọi
là tăng (Nam), Ni (Nữ) Giới luật quy định cho những người xuất gia là rất nghiêm ngặt, chi tiếtcho tất cả các sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, ngủ nghỉ, nói năng, quan hệ giao tiếp vói gia đình xãhội, đồng đạo và phương thức hành động Hàng tháng vào ngày 15, 29 hoặc 30 âm lịch nhữngngười xuất gia trong một chùa hay trong một tu viện phải tập họp lại để tụng giới Người phạmgiới được xử theo phép xết ma Giáo lý, giới luật của Phật giáo tạo ra những nội dung đạo đứckhá phong phú, điển hình như "từ bi hỷ xã", "vô ngã vị tha", "bình đẳng hòa hợp, khoan dungyêu thương giúp đỡ lẫn nhau"
Tính theo âm lịch thì những ngày lễ chính là:
Trang 13- Ngày 01 tháng 01, lễ vía Phật Di lặc.
- Ngày 15 tháng 01, lễ thượng nguyên
- Ngày 08/02, lễ vía Phật thích ca xuất gia
- Ngày 15/2, lễ vía Phật thích ca nhập diệt
- Ngày 04/04, lễ vía bồ tát văn thù
- Ngày 15/04, lễ vía Phật đản sinh; từ 15/04 -đến 15/07 mùa kiết hạ
- Ngày 19/6, lễ vĩa quán thế âm bồ tát thành đạo
- Ngày 13/07, lễ vía địa tạng bồ tát
- Ngày 19/9, lễ vía quán thế âm xuất gia
- Ngày 30/9 lễ vía Phật Dược sư
- Ngày 17/11, lễ vía Phật A di da
- Ngày 8/12, lễ vía Phật thích ca thành đạo
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG PHẬT GIÁO
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì con người là một thực thể thống nhất giữamặt sinh vật với mặt xã hội; trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa nhữngquan hệ xã hội; con người vừa là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Đó là những quan niệm cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, vậy Phật giáo có quan niệm như thế nào về conngười?
1.2.1 Quan niệm của Phật giáo về cấu tạo con người
Một trong những khái niệm trung tâm của Phật giáo chính là Pháp (Phạn: Dharma, Paly:Dhamman) Theo tiếng Phạn, chữ gốc của Dharma là nắm giữ, ra đời từ thời Rig Veda, ám chỉđến tác dụng của các thần linh với nghĩa trực tự và thứ lớp Đến khi Đức Phật tiếp nhận khái niệmnày, Ngài đã cung cấp cho nó nhiều tầng ý nghĩa hơn Bộ Abhidhaanappadiipikaa, bộ "từ điển" Pali
cổ viết bằng văn vần (vào thế kỷ XII), liệt kê đến 14 nghĩa khác nhau của từ Dhamma và khi kếtthúc bài kệ cũng phải thêm vào chữ aado (vân vân) 14 nghĩa được nêu lên trong bài kệ là: bảnchất, giáo pháp, trí tuệ, công lý, sự thật, điều kiện hay trạng thái bình thường, phước đức, đối tượngcủa nhận thức, đức tính, giới hạnh, thiền định, vô ngã, sư phạm giới, nguyên nhân
Trong các bản kinh, khái niệm này được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau chỉnhư tính chất thiện, bất thiện hoặc vô ký; có khi dùng để chỉ tóc trên đầu; cũng có khi dùng đểchỉ toàn bộ các đối tượng hiện hữu do nhân duyên như trong câu “vạn pháp vô ngã” (sabbedhammaa anattaa) nhưng tựu chung có hai nghĩa cơ bản:
Trang 14- Pháp là chỉ tất cả các sự vật, hiện tượng có tự tính, có bản chất riêng không thây đổi đểphân biệt với các sự vật hiện tượng khác.
- Pháp là pháp tắc tự nhiên, pháp tính hay quy tắc
Con người là một Pháp nghĩa là con người có tự tính hay có bản chất riêng biệt để dựavào đó mà nhận biết, lý giải và phân biệt với các sự vật, hiện tượng khác Mặt khác, con người làmột pháp còn có nghĩa con người là một thực thể chụi sự quy định của các pháp tắc tự nhiên và
dù Đức Phật có mặt hay không có mặt cũng không thây đổi được điều đó
* Các nhân tố hình thành con người.
- Con người là hợp thể của Danh và Sắc
Có nhiều cách giải thích khác nhau về những nhân tố hình thành nên con người, trong đó
có hai nhân tố cơ bản và chung nhất mà Phật giáo đề cập đến: Danh và Sắc (namarupa)
Danh - Sắc là tên gọi chung của Ngũ uẩn Danh chỉ cho phương diện tinh thần hay tâm;còn Sắc chỉ về cơ thể, thể xác hay vật chất Trong một số trường hợp, để nhấn mạnh mặt này haymặt khác, Đức Phật đã đề cập đến các khái niệm khác như Ngũ uẩn, Lục giới, Tứ thực, Thập nhị
xứ, Thập bát giới Chẳng hạn, khi nhấn mạnh về vật chất, đức Phật nói Lục giới (đất, nước, lửa,gió, không và thức); Tứ thực (đoạn thực, xác thực, tư thực và thức thực); khi nhấn mạnh đến yếu
tố nhận thức, Đức Phật nói Lục xứ (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân và ý), Nhị thập xứ (lục xứ kết hợpvới lục cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc), Thập bát giới (lục xứ kết hợp lục cảnh hình ra lục thức:nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức; cộng lại là 18)
Khi nói con người là hợp thể của Danh và Sắc, điều đó có nghĩa con người chỉ được gọi
là con người khi có sự tương hợp của hai yếu tố: tinh thần và vật chất Nói cách khác, nói conngười được sinh thành thuần túy từ vật chất hoặc từ tinh thần đều là sai lầm; thay vào đó, khi có
sự phối hợp hay tương hợp của hai yếu tố này cùng lúc thì khi đó mới có con người Quan niệm
về con người là hợp thể của Danh - Sắc này là quan niệm cơ bản và chung nhất trong tất cả cácquan niệm khác về con người, không chỉ tiếp tục tái khẳng định con người là Vô ngã vì là hệ quảcủa Duyên khởi mà còn muốn nhấn mạnh một điều: vật chất và tinh thần hay thể xác và tâm thứcchính là hai nhân tố hình thành nên con người
- Con người là hợp thể của Lục giới (Lục đại)
Lục giới (sad dhatavah) là sáu yếu tố hình thành ra con người gồm đất, nước, gió, lửa,không và thức Gọi là giới vì mỗi thứ đều có giới hạn riêng, có khi còn gọi là đại vì sáu yếu tốnày cấu tạo thành thế giới hữu tình và có mặt ở khắp mọi nơi Năm yếu tố đầu: đất, nước, gió,
Trang 15lửa và không thuộc về vật chất hay Sắc trong Danh -Sắc, hình thành ra thể tạng hay cơ thể conngười; thức là Tâm, thuộc về Danh trong Danh - Sắc Đức Phật nói con người là hợp thể của Lụcgiới hay Lục đại chính là nhấn mạnh khía cạnh vật chất của con người.
Theo đó, đất là yếu tố hình thành ra xương, thịt; nước là máu và chất lỏng; gió là hơi thở,
sự hô hấp; lửa là độ ấm hay nhiệt độ của cơ thể và không là các khoảng trống; thức là tinh thần,
là sinh khí mà nhờ nó, các đại thuộc vật chất mới có sự sống và khả năng hoạt động
Khi quan niệm con người là hợp thể của Lục giới hay Lục đại nghĩa là con người sinhthành và hoại diệt tùy thuộc vào sự dung hòa của sáu yếu tố trên Mỗi một đại hay một giới cũngkhông phải là một yếu tố độc lập, biệt lập hay tách rời mà ngược lại chúng chứa đựng trongnhau, một đại có đủ năm đại kia dung nhập trong nhau
Khi đề cập đến con người với tư cách là hợp thể của Lục đại, nhấn mạnh vào yếu tố thểxác vật chất, Đức Phật vừa muốn hành giả quán chiếu thân thể vốn không có Ngã thể thườnghằng mà chỉ là một tập hợp bất tịnh của đất, nước, gió, lửa và không; từ đó buông bỏ hay xả lykhỏi sự chấp trước vào thân thể, tiến tới tu tập và giải thoát; mặt khác, Ngài cũng muốn hành giảnhìn nhận vào sự viên dung vô ngại, thu nhiếp và dung hòa lẫn nhau của vạn pháp, cả Tâm vàvật, từ đó không còn chấp trước vào bất cứ một yếu tố hay một Ngã thể nào
- Con người là hợp thể của Ngũ uẩn
Ngũ uẩn (Panca skandha) còn gọi là Ngũ ấm, Ngũ chúng hay Ngũ tụ Ngũ uẩn gồm có:Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn vàThức uẩn Sắc uẩn thuộc Sắc, tức thuộc về vật chất;Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn thuộc về Danh, tức đề cập đến Tâm thức hay khíacạnh tinh thần Khác với quan niệm Lục đại nhấn mạnh khía cạnh vật chất của con người, quanniệm về Ngũ uẩn nhấn mạnh khía cạnh tinh thần hay Tâm thức của con người
- Ngoài ra để con người có thể tồn tại và phát triển thì con người cần phải ăn uống Ăn (thực)
là cái vô cùng quan trọng, trong Phật giáo có 4 loại thực:
(1) Đoạn thực: thức ăn là động vật, thức ăn vật chất
(2) Tư thực: thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi
(3) Xúc thực: thức ăn là những cảm xúc, cảm giác
(4) Thức thực: thức ăn là những món ăn tinh thần thuần khiết Đây la thức ăn của cõi vôsắc, sống bằng tinh thần thanh cao
1.2.2 Quan niệm của Phật giáo về thân thể con người
Khi phân tích con người, Đức Phật sử dụng khái niệm Ngũ uẩn Khi quán chiếu quá trình
Trang 16hình thành ra con người, nói đúng hơn là quá trình hình thành Ngũ uẩn, Đức Phật sử dụng kháiniệm Thập nhị nhân duyên Cả hai quan niệm Ngũ uẩn và Thập nhị nhân duyên đều nhằm mụcđích nhấn mạnh con người vốn dĩ Vô ngã, tức là không có ngã để thường hằng, thường trụ và bấtbiến Tuy vậy, mỗi một khái niệm có một chức năng riêng biệt nhằm nhấn mạnh các khía cạnhkhác nhau Ngũ uẩn nhằm phân tích sự hiện hữu của con người ở khía cạnh hiện hữu, Thập nhịnhân duyên nhằm chỉ rõ tiến trình sinh thành và hoại diệt của con người Thập nhị nhân duyêngồm 12 chi là: Vô minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Sinh và Lão Tử.
Ta cũng có thể tóm tắt quá trình ra đời của một con người theo một cách khác như sau:
Do Vô minh khởi lên làm duyên mà có Hành Hành là sự dao động của tâm thức, Vôminh khi kết hợp với Hành làm Ý lực tạo tác của tâm thức sinh khởi Ý lực tạo tác của tâm thứcsinh khởi chuyển sinh thành Thức năng Có Thức nên Nghiệp lực tìm được một chỗ để thoátsinh: hoặc noãn sinh, thai sinh, thấp sinh hoặc hóa sinh Thức này còn được gọi là Kiết sinh thứchay ý niệm tối sơ, đi vào bào thai để bào thai trở thành một sinh thể Cái Kiết sinh thức này khikết hợp với tinh cha huyết mẹ (đối với thai sinh) hay với những chất khác (thấp sinh, hóa sinh )hình thành nên Danh - Sắc Đó là một sinh thể trọn vẹn, là giao thoa của tâm lý (Danh) và vật lý(Sắc) Tâm lý và vật lý hòa hợp lẫn nhau biểu hiện ra Lục nhập gồm mắt, tai, mũi, thân, ý Khi
đã có Lục nhập rồi, đến ngày sinh đứa bé thì lục căn tiếp xúc với lục cảnh là sắc, thanh, hương,
vị, xúc và pháp Đức Phật gọi là Xúc, nhưng vì ở đây, trẻ từ 1 đến 3 tuổi nên còn hoàn toàn vô tư,không phân biệt tốt - xấu, hay - dở Từ 4 đến 6 tuổi, khi đó sự tiếp xúc mới nảy sinh phân biệt,mới nhận thấy cái nào đáng ưa, đáng ghét, đó gọi là “Xúc duyên Thọ” Khi có Thọ thì tìnhcảm luyến ái phát sinh, thích cái mình ưa và muốn tránh cái mình ghét Ái chính là Thọ đi đếnmột trạng thái chín muồi, khi Ái phát sinh thì từ Ái này sinh ra Thủ Thủ có nghĩa là níu kéo vàduy trì cái mà mình yêu Cũng chính Ái và Thủ là động lực để duy trì sự tồn tại, đồng thời cũngchính nó tạo nên tiến trình của tồn tại, vì thế “thủ duyên hữu” chính là như vậy Khi hữu hìnhthành thì năng lực tạo Nghiệp hình thành Vì năng lực tạo Nghiệp mà năng Sinh phát sinh Vìnăng Sinh mà có Lão - Tử
Theo quan niệm Vô thường thì mọi sự vật hiện tượng luôn luôn vận động biến đổi khôngngừng, không có cái gì là thường hằng, thường trụ Sở dĩ vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phốicủa luật nhân quả Vô thường có hai loại:
- Sát na vô thường: chỉ sự biến hóa trong từng sát na (1 sát na = 1/1 triệu giây - đây làđơn vị thời gian bé nhất trong Phật giáo) điều có sinh, trụ, dị, diệt (sinh ra, tồn tại, phát triển và
Trang 17diệt vong).
- Tương trụ vô thường chỉ trong một chu kỳ có 4 tương sinh, trụ, dị, diệt nối tiếp nhau.Như vậy con người là sự kết hợp của những yếu tố động nên không có gì định hình có thểgọi nó là nó được, và suy cho cùng nó là Vô ngã Với cách nhìn như vậy, mọi sự vật hiện tượngchỉ là giả danh, không thực, chỉ là giả hợp của Ngũ uẩn mà thành nên nó là hư vong, huyễn hoạt
Đủ nhân duyên hợp lại thì sống, nhân duyên tan ra thì chết Sống chết chỉ là sự hợp tan của NgũUẩn Vô thường mà tưởng là thường, Vô ngã mà tưởng là ngã, đó là cái mê lầm lớn nhất của conngười
Phật giáo cho rằng thân thể là gốc của mọi khổ đau (thân vi khổ bản), nhưng nếu không
có thân thì lo lắng sợ sệt, nóng giận, dâm dục thì đâu mà tới được Mọi sự vật hiện tượng điều
là vô thường nên thân thể con người cũng nằm trong quy luật đó, nó cũng Vô thường, hôm naythấy là còn trẻ vậy mà ngày mai đã thấy già
1.2.3 Quan niệm của Phật giáo về bản chất con người
Theo triết học Phật giáo thì bản chất con người là Vô ngã Tuy vậy, để hiểu Vô ngã thìtrước hết phải biết Ngã là gì ?
Ngã theo tiếng Phạn là Atman, âm Hán là A đặc man hay A thán ma được hình thành từthời Rig Veda Trong Upanishad, nguồn gốc của Ngã là sinh khí hay hơi thở, sau đó chuyểnthành Tự tính, Bản chất, Sinh mệnh, Tự ngã, Tự kỷ hoặc chỉ chung là một chủ thể độc lập, tồntại vĩnh viễn có sẵn trong con người Sang tiếng Hán, Ngã được hiểu theo hai nội dung: Chủ và
Tể (Ngã vi chủ tể) Chủ là tự tại và Tể là cắt đặt hay sắp đặt, nghĩa là mọi tư duy, lời nói, việclàm của mình biểu hiện ra bên ngoài đều do sự lãnh đạo, sắp xếp của Ngã Khái niệm Ngã cònđược gọi dưới nhiều tên gọi khác nữa như Linh hồn, Cái tôi tùy từng hoàn cảnh cụ thể Cáchhiểu này về sau được các học phái dựa trên thánh điển Veda và Upanishad chấp nhận, ngay cảPhật giáo khi phủ nhận học thuyết về Ngã của các triết thuyết khác cũng chính là phủ nhận Ngãvói nội dung như vậy
Vậy theo Phật giáo, Ngã là một phạm trù dùng để chỉ một thực thể vĩnh hằng, độc lập,tuyệt đối, bất biến, có trước con người và quy định bản chất con người Ngã có một số đặc điểmsau:
- Thứ nhất, Ngã là chủ thể độc lập, tuyệt đối, không bị phụ thuộc, ảnh hưởng hay tácđộng bởi bất cứ cái gì
- Thứ hai, Ngã thường hằng, bất sinh, bất diệt Ngã không ra đời lúc sinh và mất đi lúc