MỞ ĐẦU Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng thống nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. I. Thế giới quan Phật giáo. Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua 4 luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên khởi. 1. Thuyết vô thường. Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thường trụ, bất biến. Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh, là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng. Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức. a) Một là Sátna( Kshana ) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt. Phật dùng danh từ Satna để chỉ một khoảng thời gian hết sức ngắn. b) Hai là: Nhất kỳ vô thường. Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn. Sự vô thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi, thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai. Nhất kỳ vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một trạng thái mới. Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành Trụ Hoại Không. Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại, không. Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt. Một hành tinh, một ngôi sao có thời kỳ vũ trụ kéo dài hàng triệu năm, một cây có thể trụ hàng ngàn năm, một sinh vật có thể trụ được hàng trăm năm, bông hoa phù dung chỉ trụ trong một ngày sớm nở, chiều tàn. Xung quanh ta sự vật chuyển biến không ngừng. Theo luật vô thường, không phải khi sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà từng phút, từng dây, từng Satna, vạn vật sống để mà chết và chết để mà sống. Sống, chết tiếp diễn liên tục với nhau bất tận như một vòng tròn. Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng không ngừng chuyển biến. Như dòng nước thác, như bọt bể, trong Satna này, trong tâm ta nổi lên một ý niệm thiện, chỉ trong Satna sau, trong tâm ta đã có thể khơi lên một ý niệm ác. Tâm ta luôn luôn chuyển biến như thế Phật gọi là tâm phan duyên. Trong kinh Thủ năng Nghiệm quyển một Phật gọi cái tâm phan duyên ấy là cái tâm biết cái này, nghĩ cái khác, cái tâm vọng động do duyên với tiền trần mà có, theo cách trần mà luôn luôn thay đổi, chuyển biến mà không Satna nào ngừng. Không những tâm, thân ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thời gian cũng chuyển biến: Xã hội công xã nguyên thuỷ > Xã hội chiếm hữu nô lệ > Xã hội phong kiến > Xã hội tư bản > Xã hội XHCN. Đó là quy luật xã hội và cũng không phù hợp với thuyết vô thường của Đạo Phật. Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý phật. Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, có những nhận thức sai lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến. Nhận thức sai lầm như thế phật giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác. Vì nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo giác muốn kéo dài sự sống để hưởng thụ, để thoả mãn mọi dục vọng. Khi luật vô thường tác động đến bản thân thì sinh ra phiền não đau khổ.
Trang 1Tiểu luận triết học: Triết học Phật giáo
MỞ ĐẦU
Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng thống nhất quy tụ về Nhất Thừa Phậtpháp Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coicuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha
và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người
từ, bi, hỷ, xả, con người Phật
I Thế giới quan Phật giáo
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua 4luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyếtnhân duyên khởi
1 Thuyết vô thường
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Luật vô thườngchi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì làthường trụ, bất biến Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yêntĩnh, là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến khôngngừng Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức
a) Một là Sátna( Kshana ) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh,trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, mộtniệm, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt Phật dùng danh từ Satna đểchỉ một khoảng thời gian hết sức ngắn
b) Hai là: Nhất kỳ vô thường Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn Sự
vô thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi,thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai Nhất kỳ
vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyểnsang một trạng thái mới Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành - Trụ -Hoại - Không
Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành,hoại, không
Trang 2Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt.
Một hành tinh, một ngôi sao có thời kỳ vũ trụ kéo dài hàng triệu năm, mộtcây có thể trụ hàng ngàn năm, một sinh vật có thể trụ được hàng trăm năm, bônghoa phù dung chỉ trụ trong một ngày - sớm nở, chiều tàn Xung quanh ta sự vậtchuyển biến không ngừng Theo luật vô thường, không phải khi sinh ra mới gọi
là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà từng phút, từng dây, từng Satna, vạnvật sống để mà chết và chết để mà sống Sống, chết tiếp diễn liên tục với nhaubất tận như một vòng tròn
Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng khôngngừng chuyển biến Như dòng nước thác, như bọt bể, trong Satna này, trong tâm
ta nổi lên một ý niệm thiện, chỉ trong Satna sau, trong tâm ta đã có thể khơi lênmột ý niệm ác Tâm ta luôn luôn chuyển biến như thế Phật gọi là tâm phanduyên Trong kinh Thủ năng Nghiệm quyển một Phật gọi cái tâm phan duyên ấy
là cái tâm biết cái này, nghĩ cái khác, cái tâm vọng động do duyên với tiền trần
mà có, theo cách trần mà luôn luôn thay đổi, chuyển biến mà không Satna nàongừng
Không những tâm, thân ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thờigian cũng chuyển biến: Xã hội công xã nguyên thuỷ > Xã hội chiếm hữu nô lệ > Xã hội phong kiến > Xã hội tư bản > Xã hội XHCN Đó là quy luật xãhội và cũng không phù hợp với thuyết vô thường của Đạo Phật
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là
cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người
tu dưỡng theo giáo lý phật
Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, cónhững nhận thức sai lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, khôngchuyển biến Nhận thức sai lầm như thế phật giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác
Vì nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo giác muốn kéo dài sự sống đểhưởng thụ, để thoả mãn mọi dục vọng Khi luật vô thường tác động đến bản thânthì sinh ra phiền não đau khổ
Trang 3Ngược lại, nếu thấu lý vô thường một cách nông cạn, cho chết là hết, đờingười ngắn ngủi, phải mau mau tận hưởng những thú vui vật chất, phải sốnggấp, sống vội Cuộc sống như thế là sống trụy lạc, sa đọa trong vũng bùn củangũ dục, sống phiền não đau khổ trước sự chuyển biến của sự vật, trước sự sinh-trụ, dị diệt, trước sự thành, trụ hoại không nó diễn ra hàng ngày.
2 Thuyết vô ngã
Từ thuyết vô thường Phật nói sang vô ngã Vô ngã là không có cái ta.Thực ra làm gì cũng có cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi khôngngừng, biến chuyển từng phút, từng giờ, từng Satna
Một câu hỏi được đặt ra vậy cái ta ở giây phút nào là cái ta chân thực, cái
ta bất biến ? Cái ta mà Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần:
Cái ta sinh tức thân
Cái ta tâm lý tức tâm
Theo kinh Trung Quốc Ahàm, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tốcủa bốn đại là: địa , thuỷ, hoả , phong
Địa đại là cái đặc cứng như tóc, răng, móng chân, móng tay, da ,thịt, các cơ, xương, tủy, tim gan, thận,
Thủy đại là những chất lỏng như mật ở trong gan, máu, mồ hôi,bạch huyết, nước mắt,
Hoả đại là những rung động của cơ thể như hơi thở, chất hơi ởtrong dạ dầy, ở ruột
Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là nhưng thứ đó, những thứ
đó không thuộc về ta
Trang 4Cái mà ta gọi là cái ta sinh lý chỉ là một khoảng không gian giới hạn bởi
sự kết hợp của da thịt, cũng như cái mà ta gọi là túp lều chỉ khoảng không giangiới hạn bởi gỗ, tranh, bùn để trát vách mà thôi
Tứ đại ( địa, thuỷ, hoả, phong) nêu trên thoáng là của ngoại cảnh, thoáng
là của ta Vậy thực sự nó là của ai ? Vả lại khi bốn yếu tố này rời nhau trở về thểcủa nó thì không có gì ở lại để có thể gọi là cái ta được nữa Cho nên cái mà ragọi là cái ta sinh lý chỉ là một giả tưởng, một nhất hợp sinh lý mà thôi
Còn cái ta tâm lý gồm : thụ, tưởng, hành, thức Bốn ấm này cùng với sắc
ấm che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phậttính, cái chân ngã của chúng ta Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác,suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: Hỷ, nộ, ai, lạc, ái , nỗ, dục
Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnhcửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác Sự tin có một linhhồn dẫn dắt đến sự cúng tế linh hồn là hành động của sự mê tín
Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh
ra những tình cảm, những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻdựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi làthường còn, bất biến Còn đối với những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mêtín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng tiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh,
hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau
Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật.Chấp ngã chấp có cái ta thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh làđầu mối của luân hồi sinh tử sinh ra đau khổ cho con người Căn cứ trên haithuyết vô thường và vô ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một phương thức sống,một triết lý sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay nóimột cách khác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi người vì một người
Trang 53 Thuyết Lý nhân duyên sinh.
Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý Theo định lý ấy sựvật vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sựvật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã
Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh Nhưcây lúa thì hạt lúa là nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng làduyên Nhân duyên đó hội họp sinh ra cây lúa Tất cả mọi hiện tượng đều nươngnhau mà hành động Nói nương nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chiphối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành Đó là nhân duyên Nói về thứ nhân duyêntrong kinh Phật có câu:
Nhược sử hữu, tắc bỉ hữu
Nhược sử sinh, tắc bỉ sinh
Nhược thử vô, tắc bỉ vô
Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt
Có nghĩa là:
Cái này có thì cái kia có
Cái này sinh thì cái kia sinh
Cái này không thì cái kia không
Cái này diệt, thì cái kia diệt
Tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết vớinhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối
Sự vật chỉ “ có “ một cách giả tạo, một cách vô thường
Nhân duyên hội họp thì sự vật là “ có “
Nhân duyên tan dã thì sự vật là “ Không “
Người thế gian không tu dưỡng tưởng lầm sự vật, vạn pháp là thực có, làvĩnh viễn nên bám giữ vào các pháp vào sự vật ( sinh mệnh, danh vọng, tiềntài ) Nhưng thực ra các pháp là vô thường, là chuyển biến và khi tan dã thìngười thế gian thương tiếc, đau khổ
Trang 6Thế giới vũ trụ, vạn pháp đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùngtrùng điệp điệp Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hoà hợp mà có,một cáh giả hợp mà sinh ra Bởi thế tìm kiếm đến cùng cũng không thấy vạnpháp có “ thủy “ và xét đến muôn đời cũng không thấy vạn pháp có “ chung “.Vạn pháp là vô thủy, cái nguyên nhân đầu tiên của các pháp hay cái chung cùngcủa sự vật.
Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoàhợp, sự vật là hư giả, là giả hợp không có tính tồn tại Như vậy con người làmchủ đời mình, làm chủ vận mệnh của mình
Cuộc sống của con người có tươi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ làđều do nhân duyên mà con người tạo ra Với nhận thức như vậy, con người tìmđược một phương thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc củamọi người, sống an lạc, tự tại, giải thoát
4 Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả
Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong nhữngthuyết cơ bản của giáo lý Phật Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có,
mà sinh ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêngliêng nào tạo ra sự vật Sự vật sinh ra là có nhân nguyên nhân Cái nguyên nhânmột mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quảđược
Người ta nói rằng:
Trồng đậu được đậu
Trồng dưa được dưa
Trang 7Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân sinh ra nó Quả có thể hơnnhân nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu Nhângặp đủ duyên thì sẽ biến thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biếnthành nhân rồi để sinh ra quả khác.
Sự vật là một chuỗi nhân quả, là một tràng nhân quả nối tiếp nhau, ảnhhưởng lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng
Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhưng quả không nhất địnhphải đúng như nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết
“Bất định pháp” trong luật nhân quả
Sự vật là bất định, người tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dưỡng vàtiến tới trên con đường giải thoát về nhân Suy rộng ra theo giáo lý Phật thì mỗi
ý nghĩ của tâm ta, mỗi hành động của thân ta, mỗi lời nói của chúng ta cũng lànhững hạt nhân của chúng ta gieo hàng ngày Những hạt nhân khi gặp đủ duyên
sẽ nảy nở thành quả
Theo danh từ Phật học, những hạt nhân này gọi là nghiệp Gieo nhân tức
là gây nghiệp: Ý nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp Kết quả đền đáp những hànhđộng nói trên phật gọi là nghiệp báo Thời gian giữa gieo nhân và hái quả có thểdài ngắn khác nhau Vì vậy có nhân quả đồng thời: Tức là nhân quả nối liềnnhau, vừa tạo nhân, quả liền phát sinh không phải đợi một thời gian sau mớithành thục Lại có nhân quả dị thời: Tức là nhân tạo ra đời trước, đời sau mới kếtthành quả
Người nào gieo nhân, người ấy hái quả, không một hành động nào, thiệnhay ác, dù nhỏ đến đâu, dù ta khôn khéo bưng bít, giấu giếm đến mức nào cũngkhông thể thoát khỏi cán cân nhân quả Người học Phật, tu Phật chân chính thấmnhuần thuyết nhân quả phải là người có đạo lý, không thể nào khác được
Trang 8Với những luận thuyết cơ bản như trên đã hình thành nên thề giới quanphật giáo Phật quan niệm các hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn biến chuyểnkhông ngừng theo quy luật nhân duyên Một hiện tượng phát sinh không phải là
do một nhân mà do nhiều nhân và duyên Nhân không phải tự mà có mà donhiều nhân duyên đã có từ trước Như vậy một hiện tượng có liên quan đến tất
cả các hiện tượng trong vũ trụ
Kinh Hoa Nghiêm có ghi:
Tóm lại thế giới quan Phật giáo là thế giới quan nhân duyên Tất cả sự vật
có danh có tướng, có thể nhận thức được, ý niệm được Cảm giác được hay dùngngôn ngữ luận bàn, được đều được Phật gọi là pháp Các pháp đều thuộc mộtgiới gọi là Pháp giới Bản tính của pháp giới là các pháp duyên khởi ra nhau.Tính ấy là tính của pháp giới nên gọi là pháp giới tính Do pháp giới tính là bảntính của các pháp nên gọi là chân, vì vậy pháp giới tính còn gọi là chân như tính
Trang 9Giác ngộ được chân như tính thì gọi là tự giác, nhưng thế thì chưa nhậnthức đầy đủ, sâu sắc về pháp giới tính vì vậy các nhà tu hành giác ngộ được bảnlai tự tính còn phải vận dụng pháp giới tính vào nhiều trường hợp khác để thấyđược cái dụng to lớn của pháp giới tính.
Như vậy, người tu hành chỉ khi nào công hạnh giác tha được viên mãn lúc
đó mới chứng thực được toàn thể, toàn dụng của pháp giới tính Nói một cáchkhác là chứng được toàn thể của sự vật gồm cả ba vẻ: thể, tưởng, dụng, chứngđược pháp thân
II Nhận thức luận Phật giáo
1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận
Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ Cònđối tượng của nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tượng, là cả vũ trụ
Vạn vật là vô thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vậtcuối cùng Mọi vật đều liên quan mật thiết đến nhau Toàn thể dù lớn đến đâunếu không có quan hệ với hạt bụi thì cũng không thành lập được Để diễn đạt ýtrên, một thiền sư đã dùng hai câu thơ:
Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao hàm giới trí trung
Có nghĩa là:
Trời đất rút lại đầu lông nhỏ xíu
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng
Trang 10Như vậy đạo Phật không phân biệt vật chất và tinh thần vì đó chỉ là haitrạng thái của tâm, của năng lượng khi ở thể tiềm tàng.
Sau khi đã tìm hiểu về sự vật, hiện tượng chúng ta sẽ tìm hiểu cái tâmtrong đạo Phật để thấy được quan niệm của đạo Phật về tâm và vật
Thông thường người ta cho rằng đạo Phật là duy tâm vì trong kinh phật cócâu ”Nhất thiết duy tâm tạo “ Nhưng chữ “ duy tâm “ ở đây không phải là duytâm trong triết học Tây Phương nên ta không thể nhận định như trên Chữ tâmtrong đạo Phật có nghĩa là một năng lượng, nó làm bản thể cho tất cả mọi hiệntượng tâm lý, cho mọi hiện hành Bản thể là cái chất, là cội gốc của vạn vật Khi
ta phân tích, chia chẻ một vật đến một phần tử nhỏ nhiệm nhất, đến phần cuốicùng thì phần tử ấy là bản thể mà ở đây cũng có vật có chất nên đâu đâu cũngthấy có bản thể, vì vậy tâm cũng lại là to lớn vô biên
Những tình cảm, ý thức phát sinh phải nương vào hiện tượng sinh lý, vật
lý Nói nương nhau để phát sinh chứ không phải các hiện tượng sinh lý, vật lýsinh ra các hiện tượng tâm lý
Hiểu như vậy thì thấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm Nhữnghiện tượng sinh lý vật lý và những hiện tượng tâm lý ấy chỉ tương sinh tươngthành
2 Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức
Sự nhận thức phát triển theo hai con đường tư trào: Hường nội và hướngngoại Phật giáo thường quan tâm đến tư trào hướng nội tức là mỗi người tựchiêm nghiệm suy nghĩ của bản thân Có hai phương pháp để nhận thức là :
Trang 11Tiệm ngộ : là sự giác ngộ, nhận thức một các dần dần, có tính chất là “ tríhữu sư”.
Đốn ngộ : là sự giác ngộ bột phát, bùng nổ có tính chất là “ trí vô sư
“
Với hai phương pháp ấy sự nhận thức Phật giáo được chia làm hai giađoạn:
Giai đoạn một là từ tuỳ giác đến thể nhập Nhận thức bắt đầu từ cảm giác
và phụ thuộc vào cảm giác đưa lại Kết quả là con người biết được cái tiếp xúcgiữa thế giới khách quan và giác quan của con người và từ sự tiếp xúc này tạonên yếu tố” thọ “ trong ngũ uẩn Theo nhà Phật nói chữ thọ ở đây là sự tiếp xúccủa sáu căn với sáu trần tạo nên yếu tố thọ Căn cứ ở đây là những khả năngnhận thức của các giác quan Trần là loại kích thích từ thế giới bên ngoài Nếukích thích tương ứng với các căn thì con người có cảm giác Sáu căn là : nhăn,nhỉ, tù, thiệt, thân, ý Sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp “ Thọ”, chochúng ta nhận biết được những hiện tượng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫunhiên Trong một số trường hợp khác gọi đó là kinh nghiệm Từ những tri thứccảm tính kinh nghiệm nêu trên, con người sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sựvật để biết được cái bên trong, bản chất đó là tri thức định lý
Giai đoạn hai sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến cái tâm siêu thể Từ kếtquả của giai đoạn trước , con người bắt được cái tâm tính của những sự vật hữuhình tái thế và đặc biệt là cái tâm ở trong mỗi con người và nâng lên để nắmđược cái tâm siêu thoát, cái tâm trung
Để đạt được sự nhận thức đó thì có nhiều phương pháp song hai phươngpháp sau: Tam học và Tam huệ là chủ yếu
Trang 12Tam học là giới, định, tuệ.
Giới: Gồm có nhứng phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinhhoạt hàng ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng vềthiện
Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung
tư tưởng suy nghĩ để làm mọi việc yên lành
Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đóchỉ nghĩ đến làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh
Tam huệ: là văn, tu, tư
Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanhtịnh, sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp
Tư : là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộbản lai tư tính của mình
Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụtập gột rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với mộtpháp giới tính
Các phương pháp trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấppháp để đi đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có, chẳng không Vớinhận thức như thế, người tu hành sẽ được sống trong sự giải thoát, sinh tử luânhồi sẽ không còn nữa
III Nhân sinh quan Phật giáo
Trang 13Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sựvật duyên khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vôthường, vô ngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật
về vấn đề nhân sinh quan Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:
Con người là gì ? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu ?
Vị trí của con người trong Đạo Phật
Quan niệm của Phật về các vấn đề:bình đẳng, tự do, dân chủ
Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ ? và vấn đề giải thoát trongĐạo Phật là gì ?
Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứdiệu đế vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đềtrên
Trang 14a Khổ đế:
Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy vì sao
mà khổ , phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ
Nói như thế có người hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉtoàn là khổ, và đạo Phật là đạo yếm thế Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời mộtcách khách quan, không ru người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc vàcũng không làm cho người ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộcsống Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó
và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát
Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hếtnghĩa nên mới dẫn đến những hiểu lầm trên
Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ.Như vậy không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ Đối với cảnh nghịch sinh
ra khổ thụ nhưng đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú Các cảnh có thể làm chongười ta vui hoặc khổ hoặc không vui, không khổ Đạo phật không phủ nhậnnhững cảm giác vui (lạc thú ) của cuộc đời mà còn phân tích ra nhiều hình thứcvui Nhưng những cái vui ấy, cũng như những cái khổ ấy đều bao gồm trongdanh từ Dukkha, vì những cái vui, cũng như những cái khổ ấy đều là vô thường
hư giả
Dù người tu hành chứng được những trạng thái thiền định cao siêu thìnhững lạc thú siêu thoát ấy vẫn là Dukkha vì những người tu hành ấy chưa thoátkhỏi tam giới vô thường, hư giả
Trang 15Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cáiDukkha ấy chứ không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu,thường lầm.
Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vôthường chi phối nên khổ
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn
cứ đến Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da,xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếuđến ấy làm cho người ta phiền não
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi giàyếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ
4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết Chứng sinh do nghiệp báo chịucái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khichết thì phiền não vô cùng
5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích,mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầuđược rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc
6, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bênmình
Trang 168, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm,thức ấm Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượngkiếp.
b Tập đế:
Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ.Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta.Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:
6 Thân kiến ( tưởng thân thể là thực có là trường tồn)
7 Biên kiến ( sự hiểu biết một mặt như chấp đoạn, chấp thưởng )
8 Tà kiến ( sự hiểu biết không đúng )
9 Kiến thử ( chấp trí hiểu biết của riêng mình là đúng)
10 Giới cấm tu ( tu hành không chính đạo )
Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồngốc của mọi sự khổ Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thểhiện trong công thức sau:
Nghiệp
Ái dục + Vô minh ––––> Sự khổ
Trang 17Ái dục: là tham ái, yêu thích do cảm thụ đi đến suy đắm trước những cảnhyêu thích, vừa lòng, chán ghét cảnh trái ý Vì say đắm với những cảnh nên rongruổi theo cảnh, bám lấy cảnh hình thành nên tham vọng và ước muốn.
Vô minh: là mê lầm, không sáng suốt Đối với những hiện tượng trụkhông nhận rõ chân tướng, thực tướng của nó là sự chuyển biến không ngừng, là
vô thường mà lại lầm tưởng các hiện tượng đó là thực có, là thường còn Vôminh che lấp ta không nhận thấy được chân tâm mà luôn luôn chạy theo vọngtâm, làm ta thấy có thân, có cảnh, có ta, có người của ta và thấy quý thân ta,không quan tâm đến người sống quanh ta
Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là thânnghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp
Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo Không phải hoạt động nàocủa ta cũng gây nghiệp báo Những việc như : đi, đứng, nhìn, ngồi, thì khônggây nghiệp báo
Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác
Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho người và đem lại quả báo tốt chomình
Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngươi và đem lại quả báo xấu chomình
Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ Tự conngười đã gây nên nỗi khổ cho mình Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhân
Trang 18duyên để thấy được nguồn gốc của sự vật trong thế gian 12 nhân duyên là sợidây liên tục nối tiếp con người trong vòng sinh tử luân hồi đó là:
c Diệt đế:
Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại
Trang 19Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hếtkhông còn luân hồi sinh tử nữa.
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả Ấy là khi diệt đế vọng niệm không cònkhởi lên, tâm hồn luôn an trụ trong cảnh vắng lặng là do cảnh giới Niết Bàn
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh
Thường là thường còn, không biến đổi
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở mộtnơi nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự
tu hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái
an lạc, siêu thoát, tịnh diệt
Phật dạy rằng: khi môn đệ làm cho lòng mình sạch hết tham lam, nónggiận và si mê thì môn đệ đã đến được bến giác, tức là cảnh giới Niết Bàn Do đó,con người phải dày công tu dưỡng, xoá bỏ được lửa dục, lửa sân, lửa si mê đểchứng được cảnh giới Niết Bàn ngay trong cõi đời hiện tại
d Đạo đế:
Trang 20Đạo đế là con đường, là môn pháp hướng dẫn cho chúng sinh đạt đượcđến quả giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử.
Pháp môn tu dưỡng ra khỏi luân hồi sinh tư rất nhiều, nhưng thường được
đề cao là phương pháp 37 đạo phẩm
1 Chính ngữ : là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái
2 Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người
Trang 217 Chính kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải có ý biến lấytiêu biểu là các vị Phật.
8 Chính tư duy: Sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ mộtcách chân chính, làm chủ được dòng tư duy
Để đi qua tám con đường trên thì không ngoài ba nguyên tắc: giới, định,tuệ hay còn gọi là tam học Các nguyên tắc này có sự liên hệ mật thiết bổ xungcho nhau
1 Giới học: là cả một thiên luân lý thực hành của Đạo Phật, mục đích
để kiềm chế rồi đi đến diệt lục Giới gồm những phương tiện để thay đổi lối suynghĩ, lối sinh hoạt hàng ngày của con người, hướng con người sống theo đạo,thích hợp với đạo, tức là luôn hướng về thiện
Phật chỉ định ra nhiều giới đạo cho người tu hành tại gia, tu xuất gia, chonam giới, nữ giới, cho người mới vào đạo và người tu lâu ngày Người tu hànhphải giữ giới nghiêm túc thì mới định được Nếu không giữ được tất con ngườiluôn bị vọng dộng, bị cảnh chuyển, không vào cảnh định được
2 Định học là đình chỉ mọi tư tưởng xấu ý nghĩa xấu nguyên nhân phátsinh những hành động xấu đi đến gây nghiệp báo xấu Định còn là tập trung tưtưởng, suy nghĩ làm những việc lành, từ đó nảy sinh một trạng thái an lạc, tạođiều kiện cho tuệ phát ra
3 Tuệ học : là trí tuệ sáng suốt của người tu hành đã diệt được dục vọng,
đã diệt được tam độc là tham, sân, si, đã thấu được lý vô thường, vô ngã do đóchỉ nghĩ đến làm điều thiện, mưu lợi cho chúng sinh
Trang 22Với pháp tứ diệu đế Phật muốn cho chúng sinh thấy 2 cảnh giới khácnhau là Niết Bàn và Thân Lụy: một con đường giác ngộ, an lạc và một conđường mê lầm tội lỗi Và cùng phương pháp tứ diệu đế, bây giờ chúng ta có thểtrả lời được các câu hỏi đã đặt ra ở trên.
2 Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo
Từ nhận thức trên, con người tu Phật lúc nào cũng phải cẩn thận trongmột ý nghĩ, lời nói việc làm
b Nhân vị trong đạo Phật
Trang 23Đạo Phật là đạo chủ trương tự do, bình đẳng, từ bi, bác ái Ở một thời đại
cổ xưa cách chúng ta trên 25 thế kỷ Phật đã có một quan niệm hết sức tiến bộđối với vấn đề bình đẳng trong xã hội Phật đã từng nói:
“ Không có đẳng cấp trong dòng máu đỏ như nhau, trong dòng nước mắtcũng mặn như nhau Mỗi người sinh ra không phải ai cũng mang sẵn dây chuyền
ở cổ hay dấu tica trên trán ( dấu hiệu đẳng cấp của Ấn Độ ) ”
Và những quan niệm đó được Phật thực hiện ngay trong giáo hội củamình Phật thu nạp vào giáo hội của Người tất cả mọi đẳng cấp, không phân biệtsang hèn, giàu nghèo Những người ở tầng lớp dưới sau khi tu đắc đạo đã đượccác đệ tử khác tôn trọng, cho đến các vua quan khi đến thăm hỏi cũng phải tỏlòng kính mến
Không dừng lại ở sự bình đẳng giữa con người với con người mà Phật còn
đi xa hơn, nêu lên sự bình đẳng giữa các chúng sinh đều có Phật tính như nhau
và đang cùng nhau: người trước, vật sau, tiến bước trên con đường giải thoát
Tự do theo quan niệm của Phật là con người sống trong an lạc, giải thoát,không có áp bức, nô lệ, cũng không bị chi phối bởi ngũ dục Con người bị ràngbuộc bởi ngoại cảnh và một phần bởi nội tâm Những sự áp bức, những day dứtgây ra bởi dục vọng còn khắc nghiệt bằng vạn ngoại cảnh Nhà lao, cườngquyền, tham nhũng, tàn ác còn chưa khắc nghiệt bằng cái ta ích kỷ
Từ đó, Phật chú trọng đến giải phóng con người ra khỏi xiềng xích củadục vọng bằng phương pháp tu hành diệt dục Để sống tự do phật tử phải đấutranh với bản thân mình để diệt trừ dục vọng và đấu tranh để chống mọi sự ápbức bất công
Người ta gọi đạo phật là đạo từ bi, người tu hành là người giàu lòng từ bi
Từ là hiền hoà, cho vui
Bi là thương xót, cứu khổ
Từ bi là đen lại an lạc, hạnh phúc cho người khác, cứu khổ, cứu nạn chochúng sinh, quên đi mọi ích lợi của bản thân mình Nhưng từ bi không phải là
Trang 24thủ tiêu mọi sự đấu tranh, giữ thái độ tiêu cực, thụ động trước mọi sự bất công,
áp bức, tham nhũng Có sức mạnh hung bạo thì phải có sức mạnh của từ bi đểchống lại Sức mạnh đó thể hiện bằng sự giáo hoá và bằng cả bạo lực, bạo lực từbi
Hai chữ từ bi càng đẹp biết bao nhiêu đối với những con người thực tâm
tu luyện thì càng xấu xa bao nhiêu đối với những kẻ lợi dụng đạo để mưu cầu lợiích cho mình Vấn đề giải thoát là vấn đề cơ bản trong đạo Phật vì mục đích cuốicùng của đạo Phật là giải thoát con người khỏi cuộc sống đau khổ trong vôminh
Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội vềkinh tế như lịch sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tậngốc mọi đau khổ là tham lam và dục vọng Việc giải phóng này là con ngườiphải tự lực đảm nhiệm, không ai có thể làm thay được và mỗi người phải coi sựgiải thoát là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời
Như vậy, Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng vàcao quý Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên Con ngườithấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hộihoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tànbạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xãhội của những con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột
IV ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI XÂY DỰNG ĐỜI SỐNGCON NGƯỜI VIỆT NAM
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I sau công nguyên kết hợp vớiphong tục, tập quán truyền thống dân tộc Việt Nam hình thành nên Phật giáoViệt Nam Trải qua một khoảng thời gian dài, Phật giáo ở Việt Nam khôngngừng phát triển, lớn mạnh và đã tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong việc hìnhthành đạo đức, nhân cách con người Việt Nam, nền văn hoá Việt Nam Nhữngảnh hưởng tích cực của Phật giáo vẫn đang được con người Việt Nam phát huy