1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

43 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội Dung Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức Và Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Biện Chứng Này Trong Công Cuộc Đổi Mới Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Dương Quốc Phong, Nguyễn Thanh Phú, Phạm Thị Vân Phụng, Mai Thành Phước, Lê Nhật Quang
Người hướng dẫn ThS. Đoàn Văn Re
Trường học Đại học Bách Khoa
Chuyên ngành Triết học Mác-Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 327,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là nội dung quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa duy vật biện chứng.Tìm hiểu về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nghiên cứu sâu xa hơn về mốiquan hệ này sẽ giúp cho con người c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

ĐỀ TÀI:

NỘI DUNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ

Ý THỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY

LỚP DT15 - NHÓM 14 - HK213 NGÀY NỘP ………

Giảng viên hướng dẫn: ThS ĐOÀN VĂN RE

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL

Môn: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN (MSMH: SP1031)

Họ và tên nhóm trưởng: , Số ĐT: Email:

Nhận xét của GV:

Trang 4

I MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Mục tiêu nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Kết cấu của đề tài 2

II NỘI DUNG 4

Chương 1 KHÁI QUÁT QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA 4

VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 4

1.1 Quan niệm về vật chất của chủ nghĩa Mác-Lênin 4

1.1.1 Quan điểm về vật chất của C.Mác và Ph.Ăngghen

1.1.2 Quan điểm về vật chất của V.I.Lênin

1.2 Quan niệm về ý thức của chủ nghĩa Mác-Lênin 8

1.2.1 Khái niệm về ý thức

1.2.2 Nguồn gốc của ý thức

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 19

1.3.1 Vật chất quyết định ý thức

1.3.2 Ý thức tác động trở lại vật chất

Tổng kết chương 1 22

CHƯƠNG 2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ 24

BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG CÔNG CUỘC 24

ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 24

2.1 Ý nghĩa phương pháp luận rút ra khi nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 24

2.1.1 Tôn trọng quy luật khách quan

2.1.2 Phát huy tính năng động sáng tạo

2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong hoàn cảnh của nước ta hiện nay 26

Trang 5

2.2.1 Hoàn cảnh đất nước Việt Nam hiện nay

2.2.2 Vận dụng ý nghĩa của phương pháp luận rút ra khi nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong hoàn cảnh nước ta hiện nay.

Tổng kết chương 2 35 III KẾT LUẬN 36

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 6

I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học trong mọi thờiđại Đây cũng là nội dung quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa duy vật biện chứng.Tìm hiểu về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nghiên cứu sâu xa hơn về mốiquan hệ này sẽ giúp cho con người chúng ta trở nên tích cực hơn, phát huy cách nhậnthức của mọi vấn đề trong cuộc sống thường nhật qua nhiều mặt khác nhau bằngphương diện khách quan hay chủ quan, giải quyết công việc một cách tối ưu nhất.Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó có triết học Mác –Lênin và quan điểm và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa hết trong việcsoi đường cho sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam hiện nay

Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là làm sao để cho dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng dân chủ văn minh, theo đúng như những gì mà Bác Hồ luôn mongmỏi:” Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta đượchoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áomặc, ai cũng được học hành.”Bởi vậy, Đảng và Chính phủ luôn đặt nhiệm vụ xâydựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế lên hàng đầu Tuy nhiên, làm thế nào đểthực hiện tốt nhiệm vụ đó thì Đảng ta đã chỉ ra rằng phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động Ngày nay, triếthọc là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tếnào Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa ý thức và vật chất luôn là

cơ sở, là phương hướng cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội

Sau gần 35 năm đổi mới, phát triển thì Việt Nam đã có nhiều thành tựu nhưngvẫn còn những thách thức lớn đang tồn tại Vì thế việc làm rõ cơ sở lý luận quán triệt,vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cần thiết, có giá trị lý luận vàthực tiễn cao

Với tất cả những gì được nêu trên, nhóm 14 chúng em đã chọn nghiên cứu đề tài

“Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của việc nghiên cứu mốiquna hệ biện chứng này trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm bài tập

Trang 7

lớn cho môn Triết học Mác – Lênin Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm em đã sửdụng nền tảng lý thuyết từ Tài liệu hướng dẫn ôn tập môn học Triết học Mác–Lênin.Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, nhóm emrất mong nhận được sự góp ý quý báu của thầy để bài tiểu luận của nhóm được hoànthiện hơn.

2 Đối tượng nghiên cứu

Thứ nhất, khái quát quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vật chất, ý thức và

mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Thứ hai, ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý

thức trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vậtchất và ý thức trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Thứ nhất, làm rõ quát quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vật chất, ý thức

và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Thứ hai, làm rõ ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật

chất và ý thức trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, trong đó chủ yếu nhất là các phương pháp: phương pháp thuthập số liệu; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử - logic;…

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2chương:

Chương 1: Khái quát quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vật chất, ý thức

và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Trang 8

Chương 2: Ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và

ý thức trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

II NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ

VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA

VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1.1 Quan niệm về vật chất của chủ nghĩa Mác-Lênin

1.1.1 Quan điểm về vật chất của C.Mác và Ph.Ăngghen

Các nhà triết học duy tâm trước C.Mác, tuy thừa nhận sự tồn tại của các sự vật,

hiện tượng của thế giới nhưng lại phủ nhận đặc trưng “tự thân tồn tại” của chúng, đốivới chủ nghĩa duy tâm khách quan họ cho rằng, nguồn gốc của sự vật hiện tượng là do

“sự tha hóa” của “tinh thần thế giới” Còn đối với các nhà triết học theo chủ nghĩa duytâm chủ quan, họ lại cho rằng đặc trưng cơ bản nhất của mọi sự vật, hiện tượng là sựtồn tại lệ thuộc vào chủ quan, tức là một hình thức tồn tại khác của ý thức Do đó vềmặt nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm cho rằng con người hoặc là không thể, hoặc làchỉ nhận thức được cái bóng, cái bề ngoài của sự vật, hiện tượng Thậm chí theo họ,quá trình nhận thức của con người chẳng qua chỉ là quá trình ý thức đi “tìm lại” chínhbản thân mình dưới hình thức khác Như vậy, nhìn chung, các nhà triết học duy tâm đãphủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất Trái lại với chủ nghĩa duy tâm, cácnhà triết học duy vật thừa nhận đặc tính tồn tại của vật chất tuy nhiên vẫn còn nhiềuhạn chế trong quan điểm và cách nhìn nhận Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, họ quy vậtchất về những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài, đặc biệt làhai nhà triết học Hy Lạp cổ đại là Leucippus (Lơxíp) (khoảng 500 - 440 trước Côngnguyên) và Democritos (Đêmôcrít) (khoảng 460 - 370 trước Công nguyên) cho rằngvật chất là nguyên tử và nguyên tử - theo định nghĩa của họ là những hạt nhỏ nhất,không thể phân chia, không khác nhau về chất, tồn tại vĩnh viễn và sự phong phú củachúng về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp quy định tính muôn vẻ của vạn vật Quanniệm này không những thể hiện một bước tiến khá xa của các nhà triết học duy vậttrong quá trình tìm kiếm một định nghĩa đúng đắn về vật chất mà còn có ý nghĩa nhưmột dự báo khoa học tài tình của con người về cấu trúc của thế giới vật chất nói chung.Đến với chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV – XVIII, tuy đã có cái nhìn tổng quan hơn vềkhái niệm vật chất, nhưng các nhà triết học giai đoạn này thường đồng nhất vật chất

Trang 10

với khối lượng, coi những định luật cơ học như những chân lý không thể thêm bớt vàgiải thích mọi hiện tượng của thế giới theo những chuẩn mực thuần túy cơ học; xemvật chất, vận động, không gian, thời gian như những thực thể khác nhau, không có mốiliên hệ nội tại với nhau Một vài nhà triết học chẳng hạn như Descartes, Kant tuy có

cố gắng đưa ra những quan điểm chứng minh sự sai lầm trong thuyết nguyên tử nhưngnhìn chung không thể làm thay đổi căn bản cái nhìn cơ học về thế giới, không đủ đưađến một định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù vật chất Mãi đến cuối thế kỷ XIX, đầuthế kỷ XX, những khám phá mới trong vật lý (chẳng hạn như: năm 1895, WilhelmConrad Rontgen phát hiện ra tia X, năm 1897, Joseph John Thomson, phát hiện ra điệntử,…) đã chứng tỏ rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất mà nó có thể bịphân chia và chuyển hóa Trước những phát hiện trên của khoa học tự nhiên, không ítnhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoangmang, dao động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật Đồng thời, cũng tronggiai đoạn này, hai nhà triết học C Mác và Ph Ăngghen đã đưa ra những tư tưởng rấtquan trọng về vật chất góp phần đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri

và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc

Theo Ph.Ăngghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có sựphân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học với bản thâncác sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất “Vật chất, với tư cách là vật chất, làmột sáng tạo thuần túy của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ qua những sựkhác nhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tư cách là những vậttồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất Do đó, khác với những vật chất nhất định vàđang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính”1 Nhưvậy, vật chất với tính cách là vật chất, một sáng tạo thuần túy của tư duy, và là mộttrừu tượng thuần túy, không có sự tồn tại cảm tính

Cũng theo Ph.Ăngghen, bản thân phạm trù vật chất cũng không phải là sự sángtạo tùy tiện trong tư duy con người, mà trái lại, là kết quả của con đường trừu tượnghóa tư duy con người về các sự vật, hiện tượng có thể cảm biết được bằng các giácquan Các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn hình, vạn trạngnhưng nhìn chung vẫn tồn tại một đặc tính rất chung, rất thống nhất đó là tính vật chất

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.751, 737.

Trang 11

- tính tồn tại độc lập không lệ thuộc vào ý thức Để bao quát được tất cả các sự vật,hiện tượng một cách cụ thể, rõ ràng, thì tư duy cần phải nắm lấy đặc tính chung này vàđưa nó vào trong phạm trù vật chất “Ê-te có tính vật chất không? Nếu ê-te nói chungtồn tại thì ê-te phải có tính vật chất, nó phải nằm trong khái niệm vật chất”1.

Đặc biệt, Ph Ăngghen khẳng định, xét về thực chất, nội hàm của phạm trù vậtchất chẳng qua chỉ là sự tóm tắt, tập hợp theo những thuộc tính chung của tính phongphú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng các giác quan của các sự vật, hiệntượng của thế giới vật chất “Thực thể, vật chất không phải cái gì khác hơn là tổng sốnhững vật thể từ đó người ta rút ra khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hóa; vậnđộng với tính cách là vận động không phải là cái gì khác hơn là tổng số những hìnhthức vận động có thể cảm biết được bằng các giác quan; những từ như “vật chất” và

“vận động” chỉ là những sự tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tínhchung của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan

Vì thế chỉ có thể nhận thức được vật chất và vận động bằng cách nghiên cứu những vậtthể riêng biệt và những hình thức riêng lẻ của vận động, và khi chúng ta nhận thứcđược những cái ấy thì chúng ta cũng nhận thức được cả vật chất và vận động với tínhcách là vật chất và vận động”2

C Mác không đưa ra một định nghĩa về vật chất, nhưng đã vận dụng đúng đắnquan điểm duy vật biện chứng về vật chất trong phân tích những vấn đề chính trị - xãhội, đặc biệt là trong phân tích quá trình sản xuất vật chất của xã hội và mở rộng quanđiểm duy vật biện chứng về vật chất để phân tích tồn tại xã hội và mối quan hệ biệnchứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội C Mác và Ph Ăngghen đã khẳng địnhquan điểm duy vật biện chứng của mình trong nghiên cứu lịch sử như sau: Những tiền

đề xuất phát của tôi, “Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và nhữngđiều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng nhưnhững điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra ”3 Như vậy, vật chất trong xã hộichính là tồn tại của chính bản thân con người với những điều kiện sinh hoạt vật chấtcủa con người, hoạt động vật chất và những quan hệ vật chất giữa người với người

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.751, 737.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd,t.20, tr.726-727.

3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.28-29.

Trang 12

1.1.2 Quan điểm về vật chất của V.I.Lênin

Từ những khái niệm thời cổ đại cùng với bộ óc siêu phàm của mình, VladimirIlyich Lenin đã đưa ra được khái niệm hoàn chỉnh về vật chất sau nhiều năm nghiêmcứu: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lạicho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh

và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” 1

Theo định nghĩa của V.I Lênin về vật chất: Thứ nhất , “Vật ᴄhất” trong địnhnghĩa ᴄủa Lênin là một phạm trù triết họᴄ, tứᴄ là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất,rộng đến ᴄùng ᴄựᴄ, không thể ᴄó gì kháᴄ rộng hơn

Thứ hai, vật ᴄhất tồn tại kháᴄh quan trong hiện thựᴄ, nằm bên ngoài ý thứᴄ ᴠàkhông phụ thuộᴄ ᴠào ý thứᴄ ᴄủa ᴄon người “Tồn tại kháᴄh quan” là thuộᴄ tính ᴄơ bảnᴄủa ᴠật ᴄhất, là tiêu ᴄhuẩn để phân biệt ᴄái gì là ᴠật ᴄhất, ᴄái gì không phải là ᴠật ᴄhất

Dù ᴄon người đã nhận thứᴄ đượᴄ haу ᴄhưa, dù ᴄon người ᴄó mong muốn haу khôngthì ᴠật ᴄhất luôn tồn tại ᴠĩnh ᴠiễn trong ᴠũ trụ

Thứ ba, vật ᴄhất là một phạm trù triết họᴄ, tuу rộng đến ᴄùng ᴄựᴄ nhưng đượᴄbiểu hiện qua ᴄáᴄ dạng ᴄụ thể (ѕắt, nhôm, ánh ѕáng mặt trời, khí lạnh, ᴄái bàn, quảtáo…) mà ᴄáᴄ giáᴄ quan ᴄủa ᴄon người (tai, mắt, mũi…) ᴄó thể ᴄảm nhận đượᴄ Giáᴄquan ᴄủa ᴄon người, ᴠới những năng lựᴄ ᴠốn ᴄó, ᴄó thể ᴄhép lại, ᴄhụp lại, phản ánh ѕựtồn tại ᴄủa ᴠật ᴄhất, tứᴄ là nhận thứᴄ đượᴄ ᴠật ᴄhất Sự ᴄhép lại, ᴄhụp lại, phản ánhᴄủa giáᴄ quan đối ᴠới ᴠật ᴄhất ᴄàng rõ ràng, ѕắᴄ nét thì nhận thứᴄ ᴄủa ᴄon người ᴠề ᴠậtᴄhất ᴄàng ѕâu ѕắᴄ, toàn diện Nói rộng ra, tư duу, ý thứᴄ, tư tưởng, tình ᴄảm… ᴄủa ᴄonngười ᴄhẳng qua ᴄhỉ là ѕự phản ánh, là hình ảnh ᴄủa ᴠật ᴄhất trong bộ óᴄ ᴄon người.Thứ tư, vật ᴄhất, tứᴄ là thựᴄ tại kháᴄh quan, là ᴄái ᴄó trướᴄ ᴄảm giáᴄ (nói rộng ra

là ý thứᴄ) Như thế, ᴠật ᴄhất “ѕinh ra trướᴄ”, là tính thứ nhất Cảm giáᴄ (ý thứᴄ) “ѕinh

ra ѕau”, là tính thứ hai Do tính trướᴄ – ѕau như ᴠậу, ᴠật ᴄhất không lệ thuộᴄ ᴠào ýthứᴄ, nhưng ý thứᴄ lệ thuộᴄ ᴠào ᴠật ᴄhất Trướᴄ khi loài người хuất hiện trên trái đất,ᴠật ᴄhất đã tồn tại nhưng ᴄhưa ᴄó ý thứᴄ ᴠì ᴄhưa ᴄó ᴄon người Đâу ᴠí dụ ᴄho thấу ᴠậtᴄhất tồn tại kháᴄh quan, không lệ thuộᴄ ᴠào ý thứᴄ

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.28-29.

Trang 13

Qua định nghĩa của V.I Lênin về vật chất, ta có thể thấy được ý nghĩa quan trọngđối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:

Một là, bằng việc tìm ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của vật chất làthuộc tính tồn tại khách quan, V.I Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa kháiniệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách làphạm trù của các khoa học chuyên ngành (vật lý học, hóa học, sinh vật học,…) từ đókhắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cungcấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lýluận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chếduy tâm trong quan niệm về xã hội

Hai là, khi khẳng định vật chất là “thực tại khách quan”, “được đem lại cho conngười trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”,V.I Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ýthức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thứcđược thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con ngườiđối với thực tại khách quan

1.2 Quan niệm về ý thức của chủ nghĩa Mác-Lênin

1.2.1 Khái niệm về ý thức

Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của Triết học Nó là hình

thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới

có Bằng lý luận và thực tế chứng minh rằng “ý thức của con người không chỉ phảnánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo thế giới” Tác động của ý thức xã hội đối vớicon người vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn màcòn là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cựchay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộcvào vai trò chỉ đạo của ý thức tạo nên sự tiến bộ vượt bậc của con người trong xã hội

1.2.2 Nguồn gốc của ý thức

1.2.2.1 Các quan điểm của các nhà triết học về nguồn gốc của ý thức

Trang 14

Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm

Các nhà triết học duy tâm cho rằng ý thức là nguyên thể đầu tiên tồn tại vĩnh viễncũng chính là nguyên nhân sinh ra, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vậtchất Chủ nghĩa duy tâm khách quan với những đại biểu tiêu biểu như Plato, Hegel đãtuyệt đối hóa vai trò của lý tính, khẳng định thế giới “ý niệm” hay “ý niệm tuyệt đối”

là bản thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực Ý thức của con người chỉ là sự “hồitưởng” về “ý niệm”, hay “tự ý thức” lại “ý niệm tuyệt đối” Ý thức có trước vật chất,sinh ra vật chất và quyết định vật chất Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan với những đạibiểu như G Berkeley, E Mach lại tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác, coi cảm giác làtồn tại duy nhất, “tiên thiên”, sản sinh ra thế giới vật chất, ý thức của con người là docảm giác sinh ra Đó là những quan niệm hết sức phiến diện, sai lầm của chủ nghĩaduy tâm, cơ sở lý luận của tôn giáo

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình

Ngược lại với các quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, nhà duy vật siêu hình phủnhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần Họ xuất phát từ thế giới hiện thực để

lý giải nguồn gốc của ý thức Các nhà duy vật siêu hình đã đồng nhất ý thức với vậtchất Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra

Từ thời cổ đại, Democritos quan niệm ý thức là do những nguyên tử đặc biệt(hình cầu, nhẹ, linh động) liên kết với nhau tạo thành Các nhà duy vật tầm thường thế

kỷ XVIII như là Can Vogt, Jacob Moleschott, Ludwing Buchne lại cho rằng: “Óc tiết

ra ý thức như gan tiết ra mật” Một số nhà duy vật khác thuộc phái “Vật hoạt luận” nhưJ.B Robinet, E Hechken, Diderot lại quan niệm ý thức là thuộc tính phổ biến của mọidạng vật chất - từ giới vô sinh đến giới hữu sinh, mà cao nhất là con người Nhà triết

học Pháp Diderot cho rằng: “Cảm giác là đặc tính chung của vật chất, hay là sản phẩm của tính tổ chức của vật chất”.

Những sai lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hìnhtrong quan niệm về ý thức đã được các giai cấp bóc lột, thống trị triệt để lợi dụng, lấy

đó làm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần quần chúng lao động

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 15

Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng “ý niệm” có trước,sáng tạo ra thế giới, C Mác đồng thời khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý

thức: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người

và được cải biến đi ở trong đó”.

Dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học - thầnkinh hiện đại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, xét vềnguồn gốc tự nhiên, ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất; nhưng không phải của mọidạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ ócngười Óc người là khí quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ óc người.Mối quan hệ giữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức không thể tách rời bộ

óc Tất cả những quan niệm tách rời hoặc đồng nhất ý thức với óc người đều dẫn đếnquan điểm duy tâm, thần bí hoặc duy vật tầm thường Ý thức là chức năng của bộ ócngười hoạt động bình thường

Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, đồngthời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội lịch sử của con người Theo quan điểmduy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

1.2.2.2 Nguồn gốc tự nhiên

Bộ óc người là trung tâm điều khiển của hệ thần kinh trung ương, chịu tráchnhiệm điều khiển hành vi Ở hầu hết các loài động vật, não được đặt trên đầu, đượcbảo vệ bởi hộp sọ, và gần với các giác quan chính như thị giác, thính giác, vị giác,khứu giác, và cơ quan cảm giác về thăng bằng Bộ óc người có cấu trúc đặc biệt pháttriển, rất tinh vi và phức tạp, tế bào thần kinh của bộ não rất lớn khoảng 14 - 15 tỷ tếbào thần kinh, các tế bào thần kinh liên kết với nhau vô cùng chặt chẽ liên hệ với cácgiác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ, hình thànhnhững phản xạ có điều kiện và không có điều kiện

Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình thức phảnánh cao nhất của thế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi bộ óccon người Phải có thế giới khách quan tồn tại bên ngoài con người Như vậy, nguồngốc tự nhiên của ý thức là sự tương tác giữa bộ óc người và thế giới khách quan Đây

là sự phản ánh, phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất, được biểu hiện

Trang 16

trong sự liên hệ, tác động qua lại giữa các đối tượng vật chất với nhau Đó là sự tái tạonhững đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một hệ thống vật chất khác trong quátrình tác động qua lại của chúng Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vậtchất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp.

Một là, phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô

sinh Phản ánh vật lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kếtcấu, vị trí, tính chất lý – hoá qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mangtính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động

Hai là, phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự

nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phảnánh sinh học được thể hiện qua sự kích thích, sự phản xạ Sự kích thích là phản ứngcủa thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, pháttriển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, … khi nhận sự tác động trong môi trườngsống Sự phản xạ là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác,được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ khôngđiều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống

Ba là, phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến

trình độ có hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điềukiện đối với những tác động của môi trường sống

Bốn là, phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động, sáng tạo chỉ có ở con

người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo

ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin

1.2.2.3 Nguồn gốc xã hội

Để tồn tại, con người phải tạo ra những vật phẩm để thoả mãn nhu cầu của mình.Lao động là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất người Đó là hoạt

Trang 17

động chủ động, sáng tạo, có mục đích Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳngđứng, giải phóng hai tay.

Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiênnhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong

đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mìnhvới giới tự nhiên Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới kháchquan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luậtvận động của nó, giúp con người từng bước nhận thức được thế giới, có ý thức ngàycàng sâu sắc về thế giới

Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ý thức vềmục đích của hoạt động biến đổi thế giới Hoạt động của lao động là tác động vào thếgiới khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Nhờ có lao động, bộ não conngười được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm khả năng tư duy trừu tượng củacon người ngày càng cao Ph Ăngghen đã chỉ rõ những động lực xã hội trực tiếp thúcđẩy sự ra đời của ý thức: "Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với laođộng là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn,làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc con người" “Lao động là điều kiện

cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức độ và trênmột ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”

Là phương thức tồn tại cơ bản của con người, lao động mang tính xã hội đã làmnảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội Từnhu cầu đó, bộ máy phát âm, trung tâm ngôn ngữ trong bộ óc con người được hìnhthành và hoàn thiện dần Ph Ăngghen viết: “Đem so sánh con người với các loài vật,người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với laođộng, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Ngôn ngữ xuấthiện trở thành “vỏ vật chất” của tư duy; là hiện thực trực tiếp của ý thức; là phươngthức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội - lịch sử, là phương tiện để conngười giao tiếp trong xã hội vừa là công cụ để tư duy, là yếu tố quan trọng để pháttriển tâm lý, tư duy của con người Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn đối

Trang 18

với sự tồn tại và phát triển của ý thức Nhờ ngôn ngữ, con người có thể khái quát, trừutượng hóa, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính Ý thức là một hiện tượng cótính xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thứckhông thể hình thành và phát triển được.

Lao động và ngôn ngữ là sự kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc củaloài vượn người thành bộ óc con người và tâm lý động vật thành ý thức con người Ýthức là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc của con người, nhưng không phải

cứ có thế giới khách quan và bộ óc người là có ý thức, mà phải đặt chúng trong mốiquan hệ với thực tiễn xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, một hiện tượng xã hội đặctrưng của loài người

Ý thức ra đời từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội Trong đó, nguồn gốc xã hộiquan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức, có ý nghĩa quyết định sự ra đờicủa ý thức bởi vì nguồn gốc trực tiếp cho sự ra đời của ý thức là hoạt động thực tiễn

1.2.3 Bản chất của ý thức

Chủ nghĩa duy tâm, do không hiểu được nguồn gốc ra đời của ý thức nên đã cónhững quan niệm sai lầm về bản chất của ý thức Chủ nghĩa duy tâm đã cường điệu vaitrò của ý thức một cách thái quá, trừu tượng tới mức thoát ly đời sống hiện thực, biến

nó thành một thực thể tồn tại độc lập, thực tại duy nhất và nguồn gốc sinh ra thế giớivật chất

Ngược lại, chủ nghĩa duy vật siêu hình đã tầm thường hoá vai trò của ý thức Họcoi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất; hoặc coi ý thức chỉ là sự phản ánh giản đơn,thụ động thế giới vật chất, tách rời thực tiễn xã hội rất phong phú, sinh động Nhữngquan niệm sai lầm đó đã không cho phép con người hiểu được bản chất của ý thức,cũng như biện chứng của quá trình phản ánh ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên cơ sở nhận thức đúng đắn nguồn gốc ra đờicủa ý thức và nắm vững thuyết phản ánh đã luận giải một cách khoa học bản chất của

ý thức Vật chất và ý thức là hai hiện tượng chung nhất của thế giới hiện thực, mặc dùkhác nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn có mối liên hệ biện chứng Do vậy,muốn hiểu đúng bản chất của ý thức cần xem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vậtchất, mà chủ yếu là đời sống hiện thực có tính thực tiễn của con người

Trang 19

1.2.3.1 Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.

Khi xem xét về mặt bản thể luận, ý thức chỉ là "hình ảnh" của hiện thực khách

quan trong bộ óc con người Đối với con người, cả ý thức và vật chất đều là hiện thực,nghĩa là đều tồn tại thực Nhưng giữa chúng có sự khác nhau, đối lập về bản chất: vậtchất là hiện thực khách quan; còn ý thức là hiện thực chủ quan Ý thức là cái phản ánh

thế giới khách quan, ý thức không phải là sự vật, mà chỉ là "hình ảnh" của sự vật ở

trong bộ óc con người Ý thức tồn tại phi cảm tính, đối lập với các đối tượng mà nóphản ánh Thế giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ nhất Còn ý thức chỉ là bảnsao, chỉ là hình ảnh của thế giới đó, là tính thứ hai Đây là căn cứ quan trọng nhất đểkhẳng định thế giới quan duy vật biện chứng, đồng thời phê phán về chủ nghĩa duytâm và duy vật siêu hình trong quan niệm về bản chất của ý thức

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Về mặt nội dung mà ý thứcphản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức là cái vật chất bênngoài "di chuyển" vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong đó Kếtquả phản ánh của ý thức phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đối tượng phản ánh, điềukiện lịch sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thể phản ánh.Cùng một đối tượng phản ánh nhưng có sự khác nhau giữa các chủ thể, có đặc điểmtâm lý, tri thức, kinh nghiệm, thể chất khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khácnhau, cho nên kết quả phản ánh cũng rất khác nhau Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ tínhchất biện chứng phức tạp của quá trình phản ánh: "Trên thực tế, bất kỳ phản ánh nàocủa hệ thống thế giới vào trong tư tưởng cũng đều bị hạn chế về mặt khách quan bởinhững điều kiện lịch sử, và về mặt chủ quan bởi đặc điểm về thể chất và tinh thần củatác giả" Trong ý thức của chủ thể, sự phù hợp giữa tri thức và khách thể chỉ là tươngđối, biểu tượng về thế giới khách quan có thể đúng đắn hoặc sai lầm, cho dù phản ánhchính xác đến đâu thì đó cũng chỉ là sự phản ánh gần đúng, có xu hướng tiến dần đếnkhách thể

Ý thức có tính tích cực, sáng tạo gắn liền với thực tiễn xã hội Đây là đặc tính cơbản dùng để phân biệt trình độ phản ánh ý thức người với trình độ phản ánh tâm lýđộng vật Ý thức không phải là kết quả của sự phản ánh ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động

Trang 20

thế giới khách quan Trái lại, đó là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, cómục đích rõ rệt Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, phát triển gắn liền với hoạtđộng thực tiễn xã hội Thế giới không thoả mãn con người và con người đã quyết địnhbiến đổi thế giới bằng hoạt động thực tiễn đa dạng, phong phú của mình.Thông quathực tiễn, con người biến đổi thế giới, thông qua đó khám phá không ngừng cả về bềrộng và chiều sâu của các đối tượng phản ánh.

Ý thức phản ánh ngày càng sắc bén, xâm nhập vào bản chất, quy luật, điều kiệnđem lại hiệu quả cho thực tiễn Dựa trên cơ sở đó, tư duy trừu tượng đem lại những trithức mới để chỉ đạo hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới thực, sáng tạo ra "thiênnhiên thứ hai" mang đậm dấu ấn của con người Như vậy sáng tạo là đặc trưng lớnnhất của bản chất ý thức Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người, songđây là sự phản ánh đặc biệt, gắn liền với thực tiễn sinh động cải tạo thế giới kháchquan theo nhu cầu của con người

Phản ánh ý thức có sự thống nhất của ba mặt sau:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, mang tính hai

chiều, có định hướng và chọn lọc thông tin cần thiết

Hai là, mô hình hóa đối tượng dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất đây là

quá trình "sáng tạo lại" hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hoá các đối tượng vật chấtthành các ý tưởng tinh thần phi vật chất

Ba là, chuyển hoá mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình hiện

thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại,biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực Đểthúc đẩy nó, con người cần chủ động sáng tạo đồng bộ nội dung, phương pháp, công

cụ phù hợp nhằm tác động vào hiện thực khách quan để thực hiện mục đích của mình.Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của bản chất ý thức

1.2.3.2 Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử

Ý thức không phải là cái không nhận thức được chủ nghĩa duy tâm quan niệm,nhưng nó cũng không tầm thường như người duy vật tầm thường gán cho nó Thực

Trang 21

chất, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất đặc biệt là bộ óc người;nói cách khác, chỉ có con người mới có ý thức Loài người xuất hiện là kết quả của lịch

sử vận động, phát triển lâu dài của thế giới vật chất Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc conngười là nền tảng vật chất để ý thức hoạt động; cùng với hoạt động thực tiễn và đờisống xã hội phong phú tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy ý thức hình thành và khôngngừng phát triển Không có bộ óc con người dẫn đến không có hoạt động thực tiễn xãhội thì không thể có ý thức Sức sáng tạo của ý thức trong tinh thần và sức sáng tạocủa con người trong thực tiễn khác nhau về bản chất nhưng chỉ là những biểu hiệnkhác nhau của năng lực sáng tạo, khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức

và cải tạo thế giới

Ý thức có đặc tính năng động sáng tạo gắn liền với hoạt động thực tiễn nhằmphục vụ cuộc sống của con người một cách tốt hơn Giả thuyết về người ngoài hànhtinh (alien), từ những tư liệu, hình ảnh đĩa bay, hay những nghi vấn về sự có mặt củangười ngoài hành tinh Từ đó các nhà khoa học đã đưa ra những dự đoán, giả thuyết về

sự tồn tại của người ngoài hành tinh, cho thấy sự sáng tạo của con người về những trithức mới, lĩnh vực mới

Hơn thế nữa lĩnh vực trí tuệ nhân tạo không ngừng phát triển Robot Sophia làmột robot được thiết kế có hình dạng giống như con người, suy nghĩ về cử động giốngnhư con người Nó được tạo ra nhằm giúp con người có nhiều thời gian để nghỉ ngơi

và nghiên cứu, làm cho cuộc sống con người trở nên tốt hơn Qua đó cho thấy conngười không ngừng vận động và sáng tạo để cải biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Về nội dung mà ý thứcphản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Trong câu chuyện thầybói xem voi, người thì sờ vào cái vòi chỉ nhận thức được cái vòi, người sờ vào cái taichỉ nhận thức được cái tai, …vì họ mù nên họ không thể nhìn thấy được và không biếtrằng tất cả các bộ phận đó mới cấu thành con voi, dẫn đến ý thức của họ về con voi bịlệch lạc theo chủ quan của mỗi người

Từ thời xa xưa, con người tranh cãi nhau về hình dạng của Trái Đất Mỗi người

có một nhận thức khác nhau phụ thuộc vào bộ óc của họ, có người cho rằng Trái Đất

có dạng hình lập phương, có người cho rằng Trái Đất có dạng hình cầu

Ngày đăng: 10/10/2022, 00:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Giáo trình Triết học Mác-Lênin. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXBChính trị quốc gia
Năm: 2021
3. Nguyễn Văn Dương. (02/04/2022). Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay . Truy cập từ https://luatduonggia.vn/moi-quan-he-bien-chung-giua-vat-chat-va-y-thuc-trong-nen-kinh-te-nuoc-ta-hien-nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ýthức trong nền kinh tế nước ta hiện nay
4. Minh Khuê. Sự vận dụng ý nghĩa mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Truy cập từ https://luatminhkhue.vn/su-vandung-y-nghia-moi-quan-he-giua-khach-quan-va-chu-quan-trong-su-nghiepdoi-moi-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận dụng ý nghĩa mối quan hệ giữa khách quan và chủ quantrong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
5. Phạm Kim Oanh (15/12/2021), Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Truy cập từ https://luathoangphi.vn/moi-quan-he-giua-vat-chat-va-y-thuc/amp/ Link
2. Chủ nghĩa Lênin và công cuộc đổi mới trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta (NXB Thông tin lý luận, năm 1995) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL - BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w