1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn môn Triết học Mác - Lênin: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Vận dụng mối quan hệ này trong công cuộc đổi mới đất nước

32 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Vận dụng mối quan hệ này trong công cuộc đổi mới đất nước
Người hướng dẫn GVC.TS. Đỗ Thị Thùy Trang
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học Mác - Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 301,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 1.1. 1.2 CHƯƠNG 2 2.1. 2.2 I. Làm rõ các quan điểm về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong lịch sử triết học (0)
    • 1. Quan điểm của CNDT chủ quan và CNDT khách quan về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (6)
    • 2. Quan điểm của CNDV trước Mác về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.3 II. Phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức (7)
    • 1. Lý luận của triết học MÁC-LÊNIN về vật chất (10)
    • 2. Lý luận của triết học MÁC-LÊNIN về ý thức (15)
    • 3. Mối quan hệ biện chứng giữ vật chất và ý thức (18)
    • 4. Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (20)
    • III. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới của đất nước (21)
      • 1. Khái quát chung về công cuộc đổi mới đất nước do ĐCSVN lãnh đạo (21)
      • 2. Đảng đã vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất nước như thế nào (27)
  • KẾT LUẬN (0)
  • Tài Liệu Tham Khảo (32)

Nội dung

Bài tập lớn môn Triết học Mác - Lênin Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Vận dụng mối quan hệ này trong công cuộc đổi mới đất nước có nội dung gồm 2 chương. Chương 1: Làm rõ các quan điểm về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong lịch sử triết học; Chương 2: Phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Mời các bạn cùng tham khảo.

1.1 1.2 CHƯƠNG 2 2.1 2.2 I Làm rõ các quan điểm về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong lịch sử triết học

Quan điểm của CNDT chủ quan và CNDT khách quan về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Việc giải quyết mặt thử nhất của vấn đề cơ bản trong triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn: Chủ nghĩa duy vật (CNDV) và Chủ nghĩa duy tâm (CNDT) Trong đó, CNDT có hai hình thức là duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan, đều dựa trên lập trường triết học duy tâm, nhấn mạnh rằng ý thức và tinh thần là những yếu tố tối thượng, chi phối vật chất Theo triết học duy tâm, ý thức và tinh thần tồn tại trước và quyết định vật chất.

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ định sự tồn tại của thế giới khách quan, khẳng định mọi sự vật hiện tượng chỉ là cảm giác và biểu tượng của cá nhân, coi trọng vai trò của chủ thể nhận thức trong việc xây dựng thực tại Những nhà tư tưởng như Berkeley, Hume, Fichte cho rằng thế giới bên ngoài chỉ tồn tại trong ý thức của cá nhân, còn Kant cũng phát triển những ý tưởng mang đậm đặc tính của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Chính quan điểm này nhấn mạnh rằng thực tại khách quan không tồn tại độc lập, mà phụ thuộc vào cảm giác và ý thức của từng chủ thể.

Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức và tính thử của vật chất, nhưng cho rằng ý thức không phải của con người mà là ý thức của các lực lượng bên ngoài, tồn tại độc lập như một thực thể tinh thần khách quan Thực thể này thường được gọi là "ý niệm", "ý niệm tuyệt đối", hay "tinh thần tuyệt đối", được xem là khái niệm tuyệt đối hóa, tách rời khỏi vật chất để đối lập với nó Ví dụ, Platôn coi các khái niệm chung là vĩnh viễn tồn tại trong "thế giới ý niệm", còn các hiện tượng vật chất chỉ là bản sao mờ nhạt của ý niệm ấy; Hêghen cho rằng "ý niệm tuyệt đối" tồn tại và phát triển đến mức tạo ra thế giới vật chất, đồng thời cho rằng xã hội loài người là những "tồn tại khác" của "ý niệm tuyệt đối" Chủ nghĩa duy tâm khách quan thường kết hợp với thần học và là nền tảng triết học của các tôn giáo.

Quan điểm của CNDV trước Mác về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.3 II Phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Hiểu rõ phép biện chứng duy vật và cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên là nền tảng của tư duy đúng đắn về thế giới của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin Vật chất quyết định ý thức, nguồn gốc của ý thức xuất phát từ giới tự nhiên và vật chất, phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới này Các thành tựu khoa học hiện đại chứng minh rằng giới tự nhiên tồn tại khách quan trước con người và vật chất là yếu tố quyết định nội dung, bản chất, sự vận động, phát triển của ý thức qua quá trình phản ánh mang tính sáng tạo và tự giác trong hoạt động thực tiễn của con người Quá trình phát triển của tư duy và ý thức được thúc đẩy mạnh mẽ bởi hoạt động thực tiễn xã hội - lịch sử, góp phần nâng cao mức độ văn minh và nhận thức của loài người qua các thế hệ Sự biến đổi liên tục của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự thay đổi của ý thức, phản ánh rõ ràng qua từng bước phát triển của đời sống tinh thần và hình thành ý thức xã hội chủ nghĩa trong nền sản xuất tư bản Chính thực tiễn và hoạt động vật chất là nền tảng để ý thức con người không ngừng phản ánh và sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển của tư duy, hiểu biết về tự nhiên và xã hội.

Trong đời sống xã hội, vai trò của vật chất đối với ý thức thể hiện rõ qua mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần, sự phát triển của văn hóa bị quy định bởi sự phát triển của kinh tế Khi đời sống vật chất thay đổi, đời sống tinh thần cũng sẽ theo đó mà biến đổi, chứng tỏ mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập về bản chất, nhưng theo quan điểm của V.I Lênin, sự đối lập này mang tính tương đối và được thể hiện rõ qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt là bộ óc người và thuộc tính của nó Ý thức có tính độc lập tương đối, phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã xuất hiện, nó có “đời sống” riêng, có quy luật vận động và phát triển độc lập, không lệ thuộc hoàn toàn vào vật chất Ý thức có khả năng tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, giúp làm biến đổi điều kiện, hoàn cảnh vật chất và thậm chí tạo ra những thay đổi mới phù hợp với sự phát triển của xã hội.

Ý thức đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động và hành động của con người, giúp xác định đúng hoặc sai, thành công hay thất bại của các hoạt động đó Khi ý thức tiến bộ, cách mạng thâm nhập vào quần chúng, nó trở thành lực lượng vật chất có sức mạnh to lớn trong cuộc đấu tranh xã hội Trong thời đại thông tin, kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học công nghệ, vai trò của ý thức càng trở nên cấp thiết, đặc biệt khi tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Tuy nhiên, tính năng động và sáng tạo của ý thức phải dựa trên các tiền đề vật chất và điều kiện khách quan, để tránh sa vào chủ quan duy tâm và phiêu lưu dẫn đến thất bại thực tiễn Ý thức phản ánh đúng hiện thực giúp dự báo chính xác và hình thành lý luận định hướng đúng đắn, góp phần khai thác tiềm năng sáng tạo của cộng đồng Ngược lại, ý thức sai lệch, xuyên tạc hiện thực có thể tác động tiêu cực, gây suy giảm hiệu quả hoạt động của con người.

II Phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.

Lý luận của triết học MÁC-LÊNIN về vật chất

Vật chất là phạm trù triết học phức tạp, với nhiều quan niệm khác nhau dựa trên các giác độ khác nhau Theo Lênin, vật chất được định nghĩa là thực tại khách quan tồn tại độc lập với cảm giác của con người, được phản ánh thông qua cảm giác của chúng ta thông qua quá trình chép lại, phản ánh thế giới khách quan mà không lệ thuộc vào cảm giác.

Lênin nhấn mạnh rằng để định nghĩa vật chất, không thể chỉ quy một khái niệm đơn giản sang một khái niệm rộng hơn vì vật chất là khái niệm rộng nhất Ông đối lập vật chất với ý thức, xem vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với cảm giác và ý thức Cảm giác và ý thức đều phụ thuộc vào vật chất và phản ánh thực tại khách quan đó.

Lênin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học” để nhấn mạnh rằng vật chất là một khái niệm rộng vô hạn, phân biệt với các dạng vật chất cụ thể hay cảm tính Ông cho rằng vật chất dưới dạng phạm trù triết học không có đặc tính cảm thụ rõ ràng, giúp loại bỏ những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ Định nghĩa này giúp phân biệt vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó, phản ánh tính khái quát và trừu tượng của vật chất trong triết học.

Lênin cho rằng bản chất của vật chất là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào cảm giác hay ý thức con người, và không do ai sinh ra hay có thể tiêu diệt Ông khẳng định rằng vật chất hiện hữu bên ngoài và có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác, giúp con người nhận thức được thế giới Khái niệm vật chất của Lênin phản ánh quan điểm duy vật, phân biệt rõ ràng giữa chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan, đồng thời bác bỏ thuyết không thể biết về thế giới khách quan Theo ông, vật chất là kết quả của sự tổng hợp các sự vật và hiện tượng thực, có khả năng tồn tại độc lập và ảnh hưởng đến nhận thức của con người.

Lênin khẳng định rằng cảm giác phản ánh vật chất, nhưng vật chất tồn tại độc lập và không lệ thuộc vào cảm giác Ông nhấn mạnh tính khách quan của vật chất và vai trò quyết định của nó đối với ý thức, đồng thời làm rõ khả năng và phương pháp nhận thức thế giới khách quan của con người Điều này phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri, và nhấn mạnh sự khác biệt giữa chủ nghĩa duy vật và nhị nguyên luận.

Định nghĩa vật chất của Lenin là một khái niệm toàn diện và triệt để, giải đáp cả hai mặt của vấn đề triết học từ lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt rõ ràng với chủ nghĩa duy tâm, nhị nguyên luận và bất khả trị luận, đồng thời khắc phục những thiếu sót, hẹp hòi trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ Nó giúp nhận diện yếu tố vật chất trong đời sống xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, và có ý nghĩa định hướng trực tiếp trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, thúc đẩy khoa học tự nhiên đi sâu vào nghiên cứu dạng cụ thể của vật chất ở quy mô lớn Đồng thời, định nghĩa này cũng khuyến khích thái độ khách quan, yêu cầu phải xuất phát từ thực tế khách quan trong suy nghĩ và hành động của con người.

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất.

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại không thể tách rời của vật chất, bao gồm tất cả các dạng biến đổi và quá trình diễn ra trong vũ trụ Anghen nhấn mạnh rằng vận động không chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi vị trí trong không gian mà còn là bản chất tất yếu của mọi sự thay đổi, bao gồm cả các quá trình từ vận động vật lý đơn giản đến tư duy phức tạp Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, phản ánh sự liên tục biến đổi của mọi hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội.

Vận động có nhiều hình thức đa dạng, trong đó có 5 hình thức vận động cơ bản Thứ nhất, vận động cơ học liên quan đến việc di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian Thứ hai, vận động vật lý bao gồm vận động của các phân tử, hạt cơ bản, cũng như các quá trình điện nhiệt và điện tử Thứ ba, vận động hoá học đề cập đến sự vận động của nguyên tử và các quá trình hoá hợp, phân giải chất Thứ tư, vận động sinh học liên quan đến trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường Thứ năm, vận động xã hội thể hiện qua sự biến đổi và thay thế của các hình thái kinh tế xã hội.

Các hình thức vận động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mỗi hình thức vận động cao luôn bao gồm những hình thức vận động thấp hơn và không đơn thuần là tổng các hình thức thấp Một sự vật hoặc hiện tượng thường gắn liền với nhiều hình thức vận động khác nhau, nhưng luôn được đặc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản duy nhất.

Thế giới vật chất luôn trong trạng thái vận động không ngừng, chứng minh rằng vật chất tồn tại chính qua quá trình vận động Vật chất không thể tồn tại tĩnh lặng mà phải biểu hiện qua sự vận động liên tục Vận động là phương thức cốt lõi thể hiện sự tồn tại của vật chất, giúp chúng ta nhận diện các thuộc tính của vật thể Theo nhận định của Anghen, các dạng khác nhau của vật chất chỉ tồn tại thông qua vận động, và chính vận động mới là chìa khóa để hiểu rõ đặc điểm của các vật thể trong thế giới vật chất.

Trong thế giới vật chất, tất cả từ các hạt cơ bản đến hệ thống hành tinh lớn đều liên tục vận động và biến đổi Mọi dạng vật chất đều là một thể thống nhất, gồm các thành phần, kết cấu và xu hướng khác nhau, cùng tồn tại và tác động lẫn nhau gây ra sự biến đổi không ngừng Sự vận động của vật chất bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, thể hiện rõ qua quá trình tự thân vận động của các thể vật.

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên ngoài vật chất hoặc do ai sáng tạo ra Vận động không thể bị tiêu diệt và được bảo toàn về số lượng lẫn chất lượng, thể hiện tính khách quan và vĩnh viễn của nó Khoa học chứng minh rằng khi một hình thức vận động của sự vật mất đi, nó sẽ được thay thế bởi một hình thức vận động khác, qua quá trình chuyển hoá lẫn nhau Vận động của vật chất nói chung tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của chính vật chất đó.

Mặc dù vật chất luôn trong quá trình vận động không ngừng, hiện tượng đứng im tương đối vẫn tồn tại và đóng vai trò quan trọng trong sự phân hóa của thế giới vật chất Anghen nhấn mạnh rằng khả năng đứng im tương đối và cân bằng tạm thời của các vật thể là những điều kiện chủ yếu thúc đẩy sự đa dạng và phong phú của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên.

Vận động là sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng, còn đứng im thể hiện sự ổn định và bảo toàn tính qui định của chúng Đứng im là trạng thái vận động trong thăng bằng, biểu thị sự ổn định tương đối của các hiện tượng tự nhiên Trạng thái đứng im còn có thể được xem như là quá trình vận động trong giới hạn của sự ổn định, chưa xảy ra biến đổi rõ rệt, và chỉ là tạm thời Trong khi đó, vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, nhưng toàn thể của các hiện tượng vẫn luôn thay đổi, chuyển hoá lẫn nhau, tạo nên quá trình vận động liên tục của tự nhiên.

Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, trong đó không gian phản ánh các thuộc tính về vị trí, hình dạng, kích thước của các đối tượng vật chất như độ dài, chiều cao và cấu trúc của chúng Không gian thể hiện sự cùng tồn tại, tách biệt và sắp xếp trật tự các sự vật trong môi trường xung quanh Trong khi đó, thời gian phản ánh tính chất diễn ra của các quá trình vật chất, bao gồm tốc độ, trình tự các giai đoạn và sự chuyển đổi của các hiện tượng, giúp xác định khoảng cách thời gian giữa các sự kiện Cả không gian và thời gian đều đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ bản chất và sự vận động của vật chất trong thế giới tự nhiên.

Lý luận của triết học MÁC-LÊNIN về ý thức

NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT a) Kết cấu của ý thức TRÌNH BÀY SAU

Theo chủ nghĩa duy vật, ý thức là sản phẩm của vật chất và phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ Karl Marx nhấn mạnh rằng tinh thần và ý thức chỉ là dạng thức của vật chất được chuyển vào trong bộ óc và được biến đổi trong quá trình đó Ý thức là một hiện tượng phức hợp của lớp xã hội, bao gồm ý thức, tri thức, cảm xúc và ý chí, trong đó tri thức giữ vai trò quan trọng nhất như là phương thức tồn tại của ý thức.

Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, góp phần hình thành và phát triển ý thức thông qua quá trình nhận thức và cải biến thế giới tự nhiên Việc tích luỹ tri thức giúp con người hiểu sâu sắc bản chất sự vật và cải tạo chúng một cách hiệu quả hơn, làm tăng tính năng động của ý thức Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của ý thức nhằm chống lại quan điểm xem ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin hay ý chí đơn thuần, đồng thời phản ánh sự phản đối chủ quan duy ý chí, niềm tin mù quáng và sự tưởng tượng chủ quan Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phủ nhận vai trò của các yếu tố tình cảm và ý chí trong quá trình hình thành và phát triển ý thức.

Tự ý thức đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành ý thức của con người Theo chủ nghĩa duy tâm, tự ý thức được xem như một thực thể độc lập, có sẵn trong bản thân mỗi cá nhân và thể hiện qua mối quan hệ xã hội Ngược lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thức phản ánh về nhận thức bản thân dựa trên mối quan hệ giữa con người và thế giới bên ngoài Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt và đối lập mình với thế giới, nhận thức về bản thân như một thực thể hoạt động, có cảm giác, tư duy, hành vi đạo đức và vị trí xã hội Bên cạnh đó, hoạt động giao tiếp xã hội và thực tiễn xã hội đòi hỏi con người phải nhận thức rõ về bản thân để tự điều chỉnh theo các quy tắc và tiêu chuẩn xã hội đề ra Đồng thời, văn hóa đóng vai trò như một “cái gương soi”, giúp con người tự ý thức và nhận diện chính mình một cách rõ ràng hơn.

Vô thức là một hiện tượng phức tạp nhưng có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động diễn ra ngoài ý thức của con người Có hai loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến những hành vi chưa được ý thức kiểm soát của con người, trong khi loại thứ hai liên quan đến các hành vi đã từng được ý thức nhận thức nhưng do lặp lại nhiều lần trở thành thói quen tự động, diễn ra ngoài sự chỉ đạo của ý thức Vô thức ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong đời sống, thậm chí giúp giảm căng thẳng trong công việc và hoạt động hàng ngày Việc rèn luyện để chuyển những hành vi tích cực thành thói quen đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, ý thức vẫn giữ vai trò chủ đạo trong quyết định hành vi cá nhân của con người.

Ý thức ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên, bắt đầu từ thời kỳ vĩ đại của trái đất trước khi con người xuất hiện, và hoạt động ý thức dựa trên hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não con người Bộ não đóng vai trò là khí quan của ý thức và hoạt động của ý thức bị ảnh hưởng rõ rệt khi bộ não bị tổn thương Tuy nhiên, ý thức không hoàn toàn là quá trình sinh lý mà còn phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc, phản ánh này phát triển cùng với sự tiến hóa của tự nhiên và sự hình thành của loài người Sự xuất hiện của xã hội loài người đã tạo ra hình thức phản ánh ý thức, góp phần hình thành quá trình nhận thức và phản ánh thế giới khách quan trong ý thức của con người.

Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội.

Sự ra đời của ý thức bắt nguồn từ quá trình hình thành và phát triển của bộ óc con người, chịu tác động mạnh mẽ của lao động, giao tiếp và các quan hệ xã hội Quá trình này thể hiện rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động thực tiễn và sự nhận thức, giúp con người ngày càng hoàn thiện ý thức cá nhân và cộng đồng Phát triển của ý thức không thể tách rời khỏi sự tiến bộ của nền văn minh xã hội, đồng thời thúc đẩy sự sáng tạo và nâng cao đời sống tinh thần của con người.

Lao động của con người là nguồn lực vật chất mang tính xã hội, nhằm cải tạo tự nhiên, đáp ứng nhu cầu và phục vụ mục đích cá nhân Chính nhờ lao động, con người và xã hội mới hình thành và phát triển, tạo ra mối quan hệ khách quan và tất yếu trong quan hệ cộng đồng Ngôn ngữ xuất hiện như một phương tiện biểu hiện tư duy và là kết quả của nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, giúp hình thành ý thức cá nhân và ý thức xã hội Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt cảm xúc, tư tưởng mà còn là công cụ trừu tượng hóa, giúp con người đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng và tổng kết hoạt động trong quá trình phát triển lịch sử.

Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.

Bản tính phản ánh thể hiện thông tin về thế giới bên ngoài thông qua nội dung nhân được truyền tải từ các tác động vật lý, phản ánh khách quan của ý thức Ý thức phải dựa trên thực tại khách quan của thế giới, phản ánh đúng nội dung của nó và bị các yếu tố khách quan quy định Từ khi hình thành, ý thức đã gắn liền với lao động và hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến và thống trị tự nhiên, trở thành yếu tố không thể thiếu trong quá trình phản ánh Tính sáng tạo của ý thức thể hiện qua khả năng không chỉ thụ động chép lại sự vật mà còn phản ánh gắn liền với quá trình cải biến, xử lý và khái quát hóa thông tin về thế giới khách quan Ngoài ra, ý thức còn thể hiện tính sáng tạo qua khả năng tác động gián tiếp, chủ động vào thế giới để phản ánh và hiểu biết về nó một cách toàn diện hơn.

Phản ánh và sáng tạo liên kết chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, vì phản ánh là điểm xuất phát và cơ sở của sáng tạo, trong khi sự sáng tạo thể hiện rõ ý thức của con người; mối quan hệ này thể hiện qua quá trình thu nhập và xử lý thông tin, kết hợp giữa yếu tố khách quan và chủ quan trong ý thức Ý thức chỉ xuất hiện trong quá trình lao động, hoạt động xã hội nhằm cải tạo thế giới, là sản phẩm của xã hội từ ban đầu; nó bao gồm tri thức của con người về xã hội, hoàn cảnh và mối liên hệ giữa người với người trong xã hội Do đó, ý thức xã hội hình thành và bị ảnh hưởng bởi các quy luật và tồn tại xã hội, đồng thời mang trong lòng ý thức của mỗi cá nhân, phản ánh sự thống nhất và tính năng động chủ quan của ý thức trong hoạt động sáng tạo của con người.

Mối quan hệ biện chứng giữ vật chất và ý thức

Lênin nhấn mạnh rằng sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ mang tính tương đối trong phạm vi nhận thức luận, nơi xác định thứ tự về trước sau Để phân định rõ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức, nhằm xác định bản chất và sự thống nhất của thế giới Sự đối lập này là cần thiết để tránh nhầm lẫn giữa hai đường lối triết học, cũng như lẫn lộn vật chất với ý thức, dẫn đến xa rời quan điểm duy vật Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn của con người, vật chất và ý thức đều là những yếu tố không thể thiếu, vì ý thức tự nó không thể biến đổi thực tại mà không thông qua hoạt động cải tạo thế giới của con người.

Thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có khả năng cải biến và thâm nhập vào tự nhiên, thực hiện mục đích của mình trong hoạt động này Chính bản tính phản ánh sáng tạo và xã hội của ý thức là nền tảng giúp con người có khả năng kiểm soát và biến đổi tự nhiên, biến nó từ trạng thái hoang dã, xa lạ thành tự nhiên gần gũi, sinh động và phong phú hơn Điều này cho thấy rằng, nhờ ý thức, con người có thể thống trị và khai thác tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống và phát triển của mình.

Tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện qua tính độc lập tương đối và tính năng động của ý thức Đời sống con người là sự kết hợp không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, trong đó các nhu cầu tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú, đồng thời những nhu cầu vật chất cũng trở nên tinh thần hoá Mặc dù nhận thức về tính tương đối của sự đối lập này, nhưng triết học Mác-Lênin khẳng định rằng vật chất và ý thức không vai trò như nhau; trong hoạt động của con người, các yếu tố vật chất và ý thức tác động lẫn nhau, nhưng sự tác động đó diễn ra dựa trên nguyên tắc ưu tiên của yếu tố vật chất so với yếu tố ý thức.

Trong hoạt động của con người, nhu cầu vật chất giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mọi hoạt động, bởi vì yếu tố vật chất ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia của các yếu tố tinh thần Nhân tố vật chất tạo điều kiện để các yếu tố tinh thần biến thành hiện thực và xác định mục đích, chủ trương, biện pháp hoạt động của con người qua quá trình lựa chọn, điều chỉnh và cụ thể hóa Hoạt động nhận thức của con người luôn hướng đến mục tiêu biến đổi tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Ngoài ra, đời sống tinh thần của con người bị chi phối và phụ thuộc vào việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất cũng như các điều kiện vật chất hiện có.

Vai trò của cơ sở vật chất là yếu tố quyết định của nhân tố vật chất trong triết học Mác-Lênin, nhưng không làm giảm đi vai trò của nhân tố tinh thần và tính năng động chủ quan Nhân tố ý thức có ảnh hưởng phản hồi quan trọng đối với nhân tố vật chất, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển Trong hoạt động, con người không hoàn toàn bị động trước thế giới khách quan và quy luật khách quan, mà chủ động hướng chúng theo lợi ích của mình Ý thức không thể tạo ra các đối tượng vật chất hay thay đổi quy luật vận động của chúng, do đó, con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ đề ra mục tiêu phù hợp với hoàn cảnh vật chất trong quá trình hành động.

Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhấn mạnh rằng trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất luôn có trước và quyết định ý thức, xem vật chất là nguồn gốc của ý thức Tuy nhiên, ý thức cũng có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, đòi hỏi con người phải tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình để thúc đẩy sự phát triển và chuyển biến của thực tại.

Tôn trọng khách quan đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng tính khách quan của vật chất và các quy luật tự nhiên, xã hội Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, con người cần xuất phát từ thực tế khách quan và lấy nó làm nền tảng cho mọi hành động V.I Lênin nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan hay cảm xúc cá nhân làm cơ sở cho chính sách hay chiến lược cách mạng Việc đặt ý chí chủ quan lên trên thực tế, hoặc dựa vào ảo tưởng thay thế hiện thực, sẽ dẫn đến chủ quan duy ý chí, gây sai lầm nghiêm trọng trong hoạt động của con người.

Nếu ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn, thì con người cần phát huy tính năng động chủ quan để thúc đẩy sự phát triển và thay đổi trong cuộc sống Việc nhận thức rõ vai trò của ý thức giúp chúng ta chủ động vận dụng trí tuệ và hành động phù hợp nhằm cải thiện nguyên lý vật chất Tăng cường khả năng tự chủ và sáng tạo của con người là yếu tố cốt lõi để khai thác tối đa mối liên hệ giữa ý thức và vật chất, hướng tới mục tiêu tiến bộ xã hội.

Phát huy tính năng động của ý thức là để khai thác vai trò tích cực của ý thức và nhân tố con người trong quá trình cải tạo thế giới khách quan Ý thức không thể thay đổi hiện thực một cách trực tiếp mà cần thông qua hoạt động của con người, bắt đầu từ nhận thức đúng đắn về quy luật khách quan, ý chí và phương pháp tổ chức hành động phù hợp Vai trò của ý thức là trang bị kiến thức để xác định mục tiêu, đề ra phương hướng và biện pháp thực hiện các hoạt động thực tiễn thành công, dựa trên phản ánh đúng đắn thế giới khách quan Con người thông qua ý thức có thể hướng hoạt động đúng đắn, mang lại thành công hoặc sai lầm, thất bại nếu phản ánh sai về thế giới khách quan Do đó, cần phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức và vai trò của con người trong công cuộc đổi mới, đồng thời khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại, để thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển.

CHƯƠNG, SANG TRANG MỚI, VIẾT HOA, CANH GIỮA

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới của đất nước

1 Khái quát chung về công cuộc đổi mới đất nước do ĐCSVN lãnh đạo:

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc bị suy giảm nghiêm trọng do cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, năng suất lao động thấp, khiến sản xuất nông nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hóa xuất khẩu Bên cạnh đó, miền Bắc còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ chiến tranh và tàn phá của đế quốc Mỹ Trong khi đó, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế miền Nam cũng đảo lộn hoàn toàn, nông nghiệp hoang hóa ở nhiều vùng đất, gây tổn thất lớn cho phát triển kinh tế của cả hai miền.

Trong Báo cáo tổng kết, Đại hội Đảng lần IV đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn 1976-1980, bao gồm xây dựng kế hoạch vượt khả năng của năm 1975 với các chỉ tiêu như: sản lượng lương thực đạt 21 triệu tấn, cá biển 1 triệu tấn, khai hoang 1 triệu hectare, rừng mới 1.2 triệu hectare, và than sạch 10 triệu tấn Đồng thời, đề xuất xây dựng các cơ sở công nghiệp mới như cơ khí và cải tạo XHCN ở miền Nam Tuy nhiên, các chủ trương sai lầm này đã gây tổn hại đến nền kinh tế, đến cuối năm 1980, nhiều mục tiêu chỉ đạt 50-60%, tăng trưởng kinh tế chậm lại, công nghiệp tăng 2.6%, nông nghiệp giảm 0.15% Đến Đại hội Đảng lần V, vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân của sự trì trệ hoặc đề ra chính sách mới cho giai đoạn 1981-1985 Chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế còn tồn tại cũng như các sai lầm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông, khiến nền kinh tế chưa đạt được mục tiêu đề ra ban đầu.

Ngoài các yếu tố khách quan như chiến tranh và tình hình quốc tế ảnh hưởng đến sự trì trệ của nền kinh tế, chúng ta vẫn mắc phải sai lầm chủ quan trong quản lý cán bộ và phát triển lực lượng sản xuất Những vấn đề này làm hạn chế khả năng phục hồi và tăng trưởng kinh tế, đòi hỏi cần có các giải pháp quản lý hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển bền vững Quản lý cán bộ và phát triển lực lượng sản xuất là yếu tố then chốt để khắc phục những khó khăn của nền kinh tế do những sai lầm chủ quan gây ra.

Trước khi tiến hành công cuộc đổi mới, đã nhận thức rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất, đồng thời thấy rõ mối quan hệ qua lại giữa kinh tế và chính trị.

Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải

Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, Đảng và nhà nước đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng, phân tích tình hình và lấy ý kiến của nhân dân để đưa ra các chính sách phù hợp Đại hội Đảng VI nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới tư duy về kinh tế, bắt nguồn từ việc luôn xuất phát từ thực tế và tôn trọng quy luật khách quan Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, tạo bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tại đại hội VI, Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình, xác định đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đề ra nhiều phương hướng đổi mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Chương trình kinh tế đặt ra ba mục tiêu chính: đảm bảo lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và thúc đẩy xuất khẩu, hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận vai trò của kinh tế tư sản sản xuất hàng hóa và kinh tế tư nhân, cùng với đổi mới cơ chế quản lý Trong quá trình thực hiện nghị quyết của Đảng, những diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân đã nỗ lực vượt qua khó khăn và tìm ra đường lối đổi mới thích hợp Tại đại hội VII, đánh giá sau nhiều năm thực hiện đổi mới cho thấy những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế – chính trị của đất nước Nhờ sự ổn định chính trị, nền kinh tế phát triển theo hướng hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, huy động tốt hơn lực lượng lao động xã hội, tránh được lạm phát, cải thiện đời sống nhân dân và giảm bớt cuộc khủng hoảng, góp phần thúc đẩy sinh hoạt dân chủ ngày càng phát triển.

Dưới tác động qua lại giữa vật chất và ý thức, nền kinh tế ngày càng phát triển nhờ vào đường lối đổi mới, góp phần ổn định đời sống và thúc đẩy dân chủ xã hội Tuy nhiên, vẫn tồn tại các mặt tiêu cực như lạm phát cao, nhiều cơ sở đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm và quản lý còn nhiều lúng túng Đại hội xác định rõ mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị, tập trung đổi mới kinh tế để đáp ứng nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Đảng đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới đất nước, trong đó, Đại hội VIII nhấn mạnh mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 1991-1995, đặc biệt là việc kết hợp động lực kinh tế và chính trị, thúc đẩy đổi mới để phát triển các lĩnh vực khác của nền kinh tế-xã hội.

Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới, đã nhấn mạnh sự đổi mới tư duy về kinh tế trong Đảng, hướng tới tinh thần độc lập sáng tạo Đảng ta đã cụ thể hóa và phát triển nghị quyết đại hội VII, qua đó hình thành hệ thống các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Sau đại hội ban chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra các nghị quyết nhằm giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã đánh giá cao những thành quả trong công cuộc khắc phục khủng hoảng kinh tế và định hướng phát triển bền vững Quá trình này đã giúp khắc phục nhiều tồn tại và thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc gia.

Trong 3 năm qua, lạm phát đã được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định Tổng sản phẩm GDP tăng trung bình 8.2%, vượt xa mức dự kiến ban đầu hàng năm từ 5,5-5,6% của giai đoạn 1991-1995, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp đạt mức toàn diện, với sản lượng lương thực tăng 26% so với 5 năm trước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống đầy đủ và phát triển nhiều ngành nghề mới Nhờ các nỗ lực này, vấn đề lương thực đã được giải quyết tốt, mang lại sự ổn định và phát triển bền vững cho xã hội.

Quan hệ kinh tế đối ngoại đã phát triển mạnh theo hướng đa dạng hóa và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1991-1995 đạt mức 17 tỷ USD, vượt kế hoạch đề ra là 12 tỷ USD Đặc biệt, lĩnh vực khoa học công nghệ đã có bước tiến vượt bậc, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước Đồng thời, các hoạt động văn hóa tinh thần được nâng cao, nâng cao đời sống nhân dân, trong khi quốc phòng và an ninh vẫn giữ vững ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

Hội nghị đại biểu toàn quốc nhấn mạnh những thành tựu nổi bật trong việc duy trì ổn định chính trị và củng cố hệ thống chính trị vững mạnh Công cuộc mở rộng quan hệ đối ngoại được coi là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc vững chắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tác động của kinh tế đối với chính trị và xã hội thể hiện rõ qua quá trình đổi mới, đồng thời các yếu tố chính trị xã hội, đối ngoại cũng góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững Hội nghị đại biểu toàn quốc đã chỉ rõ những hạn chế như nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầng yếu kém, mặc dù tăng trưởng nhưng năng suất và hiệu quả còn thấp, đồng thời còn tồn tại các vấn đề về văn hóa, xã hội cần giải quyết Đảng đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời quan tâm xây dựng văn hóa xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, và xây dựng nhà nước pháp quyền vì nhân dân Chính sách đổi mới nhằm chỉnh đốn Đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là những bước đi chiến lược hướng tới phát triển đất nước vững mạnh.

Sau đại hội Trung ương Đảng khóa VII, nghị quyết về phát triển công nghiệp mới đến năm 2000 đã đặt ra mục tiêu hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hội nghị Trung ương lần thứ VIII đã cụ thể hóa chiến lược phát triển khoa học xã hội và cương lĩnh phát triển của Đảng, đồng thời đề ra các bước cải cách nền hành chính nhà nước để thúc đẩy tiến trình này.

Chúng ta nhận thấy thành công trong những năm qua chứng tỏ đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường Đảng đã nhận thức rõ những sai lầm trong quá khứ khi vội vàng xoá bỏ mô hình kinh tế nhiều thành phần và duy trì cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp, gây ra những tồn tại về quản lý tiền tệ và giai cấp lãnh đạo Việt Nam đã nghiên cứu các mặt mạnh và hạn chế của chủ nghĩa tư bản để khai thác một cách tổng hợp vào thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là hướng đi phù hợp, trong đó các bước phát triển cần gắn kết với tiến bộ và công bằng xã hội.

Ngày đăng: 23/12/2022, 18:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w