1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN ĐỀ TÀI Lý luận về hàng hóa sức lao

18 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 474,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm sức lao động Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vậ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -

ĐỀ TÀI: Lý luận về hàng hóa sức lao động của

H ọ và tên: Bùi Thanh Hương

L ớp tín chỉ: 08

Mã SV: 11192242

Hà N ội, Năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -

ĐỀ TÀI: Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác

Liên h ệ thực tiễn Việt Nam

H ọ và tên SV: Bùi Thanh Hương

L ớp tín chỉ: 08

Mã SV: 11192242

Hà N ội, Năm 2020

Trang 3

Mục lục

Đặt vấn đề 4

Nội dung 5

I/ Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác 5

1 Sức lao động và những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá 5

1.1 Khái niệm sức lao động 5

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 5

2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5

2.1 Giá trị hàng hoá sức lao động 5

2.2 Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động 6

3 Phân biệt hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường 6

3.1 Hàng hóa 7

3.2 Phân biệt hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động 8

II/ Liên hệ thực tiễn về hàng hóa sức lao động ở Việt Nam 9

1 Thực trạng của hàng hóa sức lao động ở Việt Nam 9

2 Nguyên nhân 12

3 Một số vấn đề đặt ra 13

4 Giải pháp khắc phục 15

Kết Luận 17

Tài liệu tham khảo 18

Trang 4

Đặt vấn đề

Đối với mỗi quốc gia, để tăng trưởng kinh tế thì nguồn lao động chính là tài sản quý giá và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật Hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà quan trọng nhất chính là việc xây dựng nền tảng văn minh trí tuệ của con người Tuy nhiên, việc đào tạo, phát triển và những chính sách đãi ngộ người lao động trên thế giới vẫn còn nhiều bất cập Do đó, việc đề ra những chính sách và giải pháp nhằm bình ổn thị trường đặc biệt này luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn

Để đưa ra các chính sách và giải pháp cho hàng hóa sức lao động thì chúng ta phải hiểu được thế nào là hàng hóa sức lao động? Hàng hóa sức lao động khác gì với hàng hóa thông thường? Với mong muốn được tìm hiểu những vấn đề này, em đã chọn đề tài “Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác Liên hệ thực tiễn Việt Nam.”

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài, em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Hậu - Giảng viên Bộ môn Kinh tế chính Mác – Lênin đã nhiệt tình giúp đỡ và chỉ bảo để em hoàn thành tốt đề tài này Mặc dù đã vận dụng tất cả các kiến thức được học tập và tìm hiểu, song

có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của thầy để có thể rút ra kinh nghiệm và hoàn thiện bản thân hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Nội dung

I/ Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác

1 Sức lao động và những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá

1.1 Khái niệm sức lao động

Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Để sức lao động trở thành hàng hóa thỏa mãn hai điều kiện

- Một, người lao động được tự do về thân thể

- Hai, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sức lac động của minh tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động

2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Khi sức lao động trở thành hàng hóa, nó cũng có hai thuộc tính như hàng hóa thông thường Đó là thuộc tính giá trị và thuộc tính giá trị sử dụng

2.1 Giá trị hàng hoá sức lao động

Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sân xuất ra sức lao động quyết định

Xét về cấu thành, do hàng hóa sức lao động tồn tại trong con người đang sống, nên để sống và tái sản xuất sức lao động, người lao động phải tiêu dùng lượng tư liệu sinh hoạt nhất định

Do vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mà người lao động tiêu dùng Tức là, về cách tính, giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tu

Trang 6

liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động Cho nên, cấu thành giá trị của hàng hóa sức lao động sẽ bao gồm:

Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động;

Hai là, phí tồn đào tạo người lao động,

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi con của người lao động

Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế giá cả của hàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên

2.2 Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu của người mua

Khác với nhu cầu thông thường, khi sử dụng hàng hóa sức lao động, người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm

Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần

và lịch sử Hơn thế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có

C.Mác khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động mà có

3 Phân biệt hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường

Sau khi tìm hiểu về hàng hóa sức lao động, chúng ta sẽ đi đến tìm hiểu thế nào là hàng hóa Từ đó phân biệt hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường

Trang 7

3.1 Hàng hóa

Hàng hóa được hiểu theo nghĩa hẹp là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa

là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, hàng hóa cũng được định nghĩa

là sản phẩm của lao động thông qua trao đôi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyền sách hay ở dạng vô hình như sức lao động Mác định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Để đồ vật trở thành hàng hóa cản phải có:

- Tính ích dụng đối với người dùng

- Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động

- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiểm

Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị (hay giá trị trao đổi)

Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động sản xuất hàng hóa có hai mặt: Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa, lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa

- Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Ví dụ, công dụng của một cái kéo là để cất nên giá trị

sử dụng của nó là để cất; công dụng của bút để viết nên giá trị sử dụng của

nó là để viết Một hàng hóa có thể có một công dụng hay nhiều công dụng nên nó có thể có nhiều giá trị sử dụng khác nhau

- Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Cả quần áo và thóc lúa đều là sản phẩm của quá trình sản xuất thông qua lao dộng, là sản phẩm của lao động, có lao động kết tinh vào trong đó Có sự chi phí về thời gian, sức lực và trí tuệ của con người khi sản xuất chúng

Khi đưa ra ngoài thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hóa thế hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả của hàng hóa Ví dụ một cái tủ có thể trao đổi dược với hai lượng bạc, trong khi một cái bàn có thể trao đổi được một

Trang 8

lượng bạc Như vậy giá trị của cái tủ lớn hơn giá trị của cái bàn Những nhà tư sản coi giá trị của hàng hóa là do sức cầu và công dụng của nó là hoàn toàn sai Mác đã nói: “Nếu người ta có cách biển than chì thành kim cương thì kim cương cùng sẽ re như gạch, Đó là vi lao động (trừu tượng) kết tinh trong nó giảm xuống Mặc dù sức câu và công dụng của nó kháng đôi

Ngày nay cùng với sự phát triên của nên kinh tế thị trường thi sự thay đổi và phát triển nhận thức đôi với đời sống kinh tẻ dẫn đến cách hiệu hàng hóa không như các nhà kinh tế cổ điển xác định Phạm trù hàng hóa mất đi ranh giới của

sự biểu hiện vật lý của vật thể và tiến sát đến gần phạm trù giá trị Tiền, cổ phiếu, quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sức lao động,… được xem là hàng hóa trong khi chúng không nhất thiết có những tính chất như

đã liệt kê ở trên

3.2 Phân biệt hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động

Giống nhau: hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động đều là hàng hoá và cùng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

Khác nhau:

Hàng hóa sức lao động Hàng hóa thông thường

Người mua có quyền sử dụng, không

có quyền sở hữu, người bán phải phục

tùng người mua

Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau

Giá cả nhỏ hơn giá trị Giá cả có thể tương đương với Giá Trị Giá trị bao gồm cả yếu tố tinh thần, vật

chất và lịch sử Chỉ thuần tuý là yếu tố vật chất

Trang 9

Giá trị sử dụng đặc biệt: tạo ra giá trị

mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, đó

chính là giá trị thặng dư

Giá trị sử dụng thông thường

Là nguồn gốc của giá trị thặng dư Biểu hiện của của cải

II/ Liên hệ thực tiễn về hàng hóa sức lao động ở Việt Nam

1 Thực trạng của hàng hóa sức lao động ở Việt Nam

Hiện nay nước ta mới bước vào những năm đầu của thời kì mới - thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, lao động nước ta mang những sắc thái, đặc thù gắn chặt với trình độ phát triển của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Việc phát triển thị trường lao động nước ta trong thời gian qua đã thu được những thành quả nhất định, làm cơ sở cho việc hoàn thiện quan hệ lao động, phát triển kinh tế - xã hội

Nền kinh tế thị trường nước ta vận động và phát triển gắn liền với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Vì vậy, vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động vào thị trường lao động nước ta chính là giải quyết vấn đề nguồn lao động chất lượng cao trong thời kì mới Mặt khác, theo xu thế hội nhập quốc tế phát triển nề kinh tế tri thức, đòi hỏi người lao động phải biết nắm bắt, xử lí nhanh nhạy, tức là, cần nâng cao giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động Tuy nhiên quá trình nhận thức và vận dụng lí luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác vẫn còn những giới hạn nhất định, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể là:

Về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động còn thấp hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường thế giới, giá trị hàng hóa sức lao động còn bất cập, chưa bao quát hết những yếu tố đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn những người làm công ăn lương, hệ thống thông tin lao động việc làm chưa được quản lí chặt chẽ, hệ thống giáo

Trang 10

dục – đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho

sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Theo quan điểm của C.Mác cần phải chăm lo cho công nhân và người thân của họ, về việc này thì nước ta cũng đã làm được: đời sống công nhân ngày càng được nâng lên nhất là về đời sống tinh thần công nhân được Công Đoàn tổ chức các hoạt động giao lưu văn nghệ, trao đổi kinh nghiệm lao động, khuyến khích, khen thưởng các công nhân có thành tích tốt trong lao động, có nhiều sáng kiến trong việc sản xuất…Đời sống của người thân công nhân cũng được chú trọng hơn Trong các khu công nghiệp, đã xây dựng các trường học cho con em các công nhân như các trường mầm non, nhà giữ trẻ, khu vui chơi dành cho thiếu nhi…Đời sống của công nhân và người thân của họ được đáp ứng đầy đủ hơn về các dịch vụ khác Việc làm này giúp cho công nhân có thể yên tâm làm việc, cống hiến hết mình cho công việc

Nhà nước ta cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực, trình độ cho người công nhân Ngày càng có nhiều trường đào tạo nghề được thành lập nhằn phục vụ cho việc học nghề của nhân dân và nâng cao tay nghề của công nhân Các nhà máy, xí nghiệp cũng tạo điều kiện cho công nhân nâng cao trình độ của mình như cử một số công nhân đi học tiếp thu khoa học kĩ thuật tiên tiến, tổ chức các lớp tập huấn cho công nhân, nhằm nâng cao tay nghề từ đó tăng năng suất lao động

Tuy nhiên, thị trường lao động nước ta vẫn còn nhiều điểm hạn chế Lực lượng công nhân Việt Nam dù là dồi dào nhưng tay nghề chưa cao lao động chủ yếu bằng cơ bắp, ít lao động trí óc Mặc dù các trung tâm, các trường đào tạo nghề được thành lập nhiều nhưng có một số cơ sở vẫn hoạt động không có hiệu quả công nhân học xong không thể làm việc có hiệu quả, hơn nữa chi phí học tập còn cao nên không phải ai cũng có điều kiện để có thể theo học được Công nhân và gia đình họ cũng còn gặp khó khăn trong việc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân chính đáng của mình như khó tiếp cận với các dịch vụ, việc đăng

kí học cho con cái Bên cạnh đó, mức tiền công, tiền lương người công nhân được trả chưa phù hợp với mức lao động của họ Ngoài ra, lao động nước ta tập trung chủ yếu chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, tác phong công nghiệp thấp

Trang 11

Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đến hết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữ chiếm khoảng 48,94% Gia tăng dân số trong những năm qua kéo theo gia tăng về lực lượng lao động Nhìn chung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiều hơn nữ với trên 50% lao động là nam giới Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng kể và cho thấy lao động nữ chiếm một lượng đông đảo Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ khá cao so với lao động nam do hạn chế về sức khỏe, những mâu thuẫn giữa sinh đẻ và làm việc, cơ hội tìm được việc làm vừa ý sau khi sinh là thấp

Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Hồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên 21%) và Đồng bằng sông Cửu Long Đây là các khu vực có diện tích đất rộng, tập trung nhiều thành phố lớn, khu đô thị và nhiều khu công nghiệp, thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh nên thu hút đông đảo lao động tập trung ở những khu vực này Những khu vực chiếm tỷ lệ thấp, là những khu vực có diện tích đất hẹp, nhiều đồi núi, ít khu đô thị và khu công nghiệp nên không thu hút nhiều lao động đến đây

Cơ cấu lao động Việt Nam theo giới tính

Năm

Lao động

(Nghìn người)

Tỷ trọng lao động

Ngày đăng: 27/05/2022, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w