BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài “Vai trò của khoa học – công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất” Sinh viên MSV Số thứ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: “Vai trò của khoa học – công nghệ đối với sự
phát triển của lực lượng sản xuất”
Sinh viên:
MSV:
Số thứ tự:
Lớp:
Khóa:
Giảng viên hướng dẫn:
Hà Nội - 01/2021
Trang 2MỤC LỤC
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ 4
3 Quan hệ biện chứng giữa khoa học và công nghệ 5
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 6
1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất 6
2 Đặc trưng của lực lượng sản xuất 7
3 Sự phát triển của lực lượng sản xuất 8 III VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
IV VAI TRÒ HIỆN NAY CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM 10
1 Đối với tư liệu sản xuất 10
2 Đối với người lao động 11
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trang 4NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
1 Khoa học
a Khái niệm
Khoa học được hiểu là tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy được thể hiện bằng những phát minh dưới dạng các lí thuyết, định lí, định luật và nguyên tắc.
Như vậy, thực chất khoa học là sự khám phá các hiện tượng, thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan Sự khám phá này đã làm thay đổi nhận thức của con người, tạo điều kiện cho con người nghiên cứu, ứng dụng hiểu biết này vào thực tế
b Đặc điểm
Tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, chúng ta có thể phân tích khái niệm khoa học ở nhiều khía cạnh khác nhau Ở mức độ khái quát, khoa học được hiểu ở các góc độ sau:
Thứ nhất, khoa học là một hình thái ý thức xã hội.
Thứ hai, khoa học là một hoạt động xã hội đặc thù.
Thứ ba, khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại về tự nhiên, xã
hội và con người
Vậy, theo quan điểm hiện nay, khoa học vừa là một loại hình hoạt động tinh thần sáng tạo, vừa là kết quả của hoạt động này
Khoa học thường được chia làm hai loại: Khoa học tự nhiên (nghiên cứu các sự vật hiện tượng và quy luật vận động của tự nhiên) và Khoa học xã hội
(nghiên cứu các hiện tượng, quá trình, các quy luật vận động và phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.)
2 Công nghệ
a Khái niệm
Công nghệ là tập hợp một hệ thống kiến thức và kết quả của khoa học được ứng dụng nhằm mục đích biến các tài nguyên thiên nhiên thành các sản phẩm.
Công nghệ gồm hai bộ phận: phần cứng và phần mềm.
- Phần cứng: gồm các trang thiết bị như: máy móc, nhà xưởng, thiết bị, các
công cụ sản xuất…
- Phần mềm: bao gồm thành phần con người (tinh thần lao động, kiến thức
nghề nghiệp, kĩ năng lao động, khả năng tiếp thu và vận dụng sáng tạo…),
thành phần thông tin (các bí quyết, quy trình công nghệ, tài liệu khai thác,
Trang 5bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thông tin về thị trường…), thành phần tổ
chức quản lí (tổ chức hoạt động công nghệ, dịch vụ, tổ chức tiếp thị…).
b Đặc điểm
Trong thực tiễn, quá trình sản xuất nào cũng phải đảm bảo bốn yếu tố là:
các trang thiết bị, con người, thông tin và tổ chức quản lí Sự kết hợp chặt chẽ
giữa bốn thành tố này là điều kiện cơ bản đảm bảo sản xuất đạt hiệu quả cao
Khác với khoa học, các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống, do đó được sự bảo hộ của nhà nước và là thứ hàng hóa để mua bán, trao đổi
3 Quan hệ biện chứng giữa khoa học và công nghệ
a Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau song chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Những phát minh của khoa học giúp con người hành động phù hợp với sự vận động của thế giới khách quan, nhờ đó hoạt động của con người có hiệu quả hơn Vì vậy, con người luôn tìm cách phát minh và ứng dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất Điều này cho phép và đòi hỏi khoa học phải phát triển Ngược lại, chính sự phát triển của công nghệ làm cho những phát minh khoa học nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn Công nghệ cao giúp cho khoa học phát triển nhanh hơn, thời gian nghiên cứu khoa học được rút ngắn
b Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn lịch sử
Vào thế kỉ XVII – XVIII, khoa học, công nghệ tiến hóa theo con đường riêng, có khi công nghệ đi trước khoa học
Vào thế kỉ XIX, khoa học và công nghệ bắt đầu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ là động lực cho khoa học và ngược lại, những phát minh khoa học tạo điều kiện cho các nghiên cứu, ứng dụng
Sang thế kỉ XX, khoa học chuyển sang vị trí dẫn dắt cho công nghệ Ngược lại, sự đổi mới công nghệ tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển
c Liên hệ thực tế
Việt Nam đang diễn ra quá trình đổi mới khoa học công nghệ Quá trình
đó đã bao gồm nhiều mặt, nhiều dạng hoạt động nhưng tập trung chú ý vào đổi mới công nghệ, nhập công nghệ mới, nắm bắt và đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải thiện và sáng tạo công nghệ Quá trình đổi mới công nghệ được diễn ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, công ty đến các hợp tác xã, các địa phương…
Trang 6Có hai hướng đổi mới công nghệ, đó là: đổi mới công nghệ sản phẩm và đổi
mới quy trình công nghệ sản xuất.
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất
a Khái niệm
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản
xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật
chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
b Cấu trúc
Lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kĩ
thuật (tư liệu sản xuất) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động) Lực lượng sản
xuất chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” với “lao động vật hóa” tạo ra sức sản xuất, là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở
các thời kì nhất định Như vậy, lực lượng sản xuất là một hệ thống gồm các yếu
tố (người lao động và tư liệu sản xuất) cùng quan hệ (phương thức kết hợp), tạo
ra thuộc tính đặc biệt (sức sản xuất) để cải biên giới tự nhiên, sáng tạo ra của cải
vật chất theo mục đích của con người Đây là sự thể hiện năng lực thực tiễn cơ bản nhất – năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động
và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng của mọi của cải vật chất
xã hội Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất Ngày nay, trong nền sản xuất xã hội, tỉ trọng lao động cơ bắp đang có xu thế giảm, trong
đó lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày càng tăng lên
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao
gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động.
- Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động con
người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng phù hợp với mục đích sử dụng của con người
- Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa
vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người Tư liệu lao động
gồm công cụ lao động và phương tiện lao động.
+ Phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với
công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất
Trang 7+ Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp
sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người và xã hội
Công cụ lao động là yếu tố vật chất “trung gian”, “truyền dẫn” giữa người lao động và đối tượng lao động trong tiến hành sản xuất Đây chính
là “khí quan” của bộ óc, là tri thức được vật thể hóa do con người sáng tạo ra và được con người sử dụng làm phương tiện vật chất của quá trình sản xuất Công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động
Ngày nay, trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển, công cụ lao động được tin học hóa, tự động hóa và trí tuệ hóa càng có vai trò đặc biệt quan trọng Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội trong lịch sử; là thước đo trình độ tác động, cải biến tự nhiên của con người và tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại
kinh tế khác nhau Chính vì vậy, C.Mác khẳng định: “Những thời đại
kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào.”
2 Đặc trưng của lực lượng sản xuất
Đặc trưng chủ yếu của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định Sở dĩ như vậy là vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động Suy đến cùng, các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động Hơn nữa, trong quá trình sản xuất, nếu như công cụ lao động bị hao phí và di chuyển dần giá trị vào sản phẩm, thì người lao động do bản chất sáng tạo của mình, trong quá trình lao động họ không chỉ sáng tạo ra giá trị bù đắp hao phí lao động, mà còn sáng tạo
ra giá trị mới lớn hơn giá trị bỏ ra ban đầu Người lao động là nguồn gốc của mọi sáng tạo trong sản xuất vật chất, nguồn gốc của sự phát triển sản xuất
Cùng với người lao động, công cụ lao động là yếu tố cơ bản, quan trọng không thể thiếu được, đặc biệt, trình độ phát triển của công cụ lao động là một nhân tố quyết định năng suất lao động xã hội Lực lượng sản xuất là kết quả năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị quy định bởi những điều kiện khách quan mà trong đó có con người sống và hoạt động Vì vậy, lực lượng sản xuất luôn có tính khách quan Tuy nhiên, quá trình
Trang 8phát triển lực lượng sản xuất là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan
3 Sự phát triển của lực lượng sản xuất
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình
độ Tính chất của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính chất xã
hội hóa trong việc sử dụng tư liệu sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất là
sự phát triển của người lao động và công cụ lao động Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ của công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; trình độ, kinh nghiệm kỹ năng của người lao động và đặc biệt là trình độ phân công lao động xã hội Trong thực tế, tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là không tách rời nhau
III VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Khi bàn đến các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, ngoài việc đề cao vai trò của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, C.Mác nhấn mạnh vai trò của khoa học, coi đó là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất
Nghiên cứu tiến trình vận động và phát triển của xã hội loài người thông
qua hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác nhận định: “Sự phát triển của tư bản cố
định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến (wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào đó thành lực lượng sản xuất trực tiếp.” C.Mác còn khẳng
định tiếp: “Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu
khi nền đại công nghiệp đã đạt được một trình độ phát triển cao hơn và tất cả các môn khoa học đều được phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có thì có những nguồn lực to lớn.” Luận điểm trên của C.Mác cho thấy
khoa học tự bản thân nó không thể tạo ra bất kỳ tác động nào, mà phải thông qua sự ứng dụng và hoạt động thực tiễn của con người thì nó mới có thể phát huy được tác dụng, hay nói cách khác, khoa học trở thành lực lượng sản xuất với điều kiện là khoa học phải tồn tại dưới dạng lao động được vật hóa thành máy móc
Phán đoán của C.Mác về khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp cần được hiểu ở những khía cạnh sau:
- Khoa học vốn là một hệ thống những tri thức được con người vận dụng vào hoạt động sản xuất vật chất, được vật hóa trong các thao tác lao động và đem lại những hiệu quả nhất định Như vậy, từ chỗ là lực lượng sản xuất tiềm
Trang 9năng, khoa học đã từng bước tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
- Khoa học có sự gắn kết chặt chẽ với kỹ thuật và công nghệ, trở thành cơ sở
lý thuyết cho các phương tiện kỹ thuật, công nghệ mà thông qua đó, khoa học được vật chất hóa trong các yếu tố vật thể của lực lượng sản xuất Sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với kỹ thuật và công nghệ là một xu thế tất yếu của phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bởi khoa học muốn phát triển nhanh cần phải có sự trợ giúp của công nghệ hiện đại; đồng thời, muốn sản xuất ra công nghệ mới đòi hỏi con người phải dựa trên những phát minh khoa học mới Điều đó cũng chứng tỏ khoa học gắn bó chặt chẽ và là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời đại ngày nay
- Thời gian để lý thuyết khoa học đi vào thực tiễn sản xuất ngày càng được rút ngắn Trong những thế kỷ trước, thời gian từ phòng thí nghiệm đến thực tế sản xuất thường rất dài Nhưng từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nhờ sự phát triển không ngừng của khoa học hiện đại, quá trình trên đã được rút ngắn rất nhiều
- Khoa học thâm nhập vào tất cả các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Nhờ có khoa học:
+ Công cụ lao động ngày càng được cải tiến, sức lao động của con người được giải phóng
+ Con người ngày càng tạo ra được nhiều đối tượng lao động nhân tạo, khắc phục được hạn chế về thời gian sử dụng và một số đặc tính khác của đối tượng lao động tự nhiên
+ Trình độ, tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động được nâng cao Trong nhiều nhà máy, xí nghiệp, số lượng nhân lực khoa học tham gia vào quá trình sản xuất chiếm tỷ lệ ngày càng cao, vượt trội so với số lượng lao động làm việc cơ bắp thông thường Đội ngũ công nhân trí thức xuất hiện và có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng
+ Nhờ có khoa học, hoạt động của các nhà lãnh đạo, quản lý, điều hành sản xuất ngày càng có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất
Như vậy, theo C.Mác, khoa học không phải là một lực lượng sản xuất độc lập, đứng bên ngoài con người, mà khoa học chỉ có thể tạo ra những biến đổi trong quá trình sản xuất thông qua hoạt động của con người Khoa học đã được thẩm thấu vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất, góp phần cải tiến công cụ
Trang 10lao động, tạo ra những đối tượng lao động mới, những phương tiện sản xuất tiên tiến, góp phần nâng cao kỹ năng, tay nghề, trình độ cho người lao động Do vậy, trong thời đại ngày nay, khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại
IV VAI TRÒ HIỆN NAY CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM
1 Đối với tư liệu sản xuất
a Với đối tượng lao động
Tài nguyên thiên nhiên không còn là đối tượng lao động chính Khoa học – công nghệ phát triển làm thay đổi toàn diện các yếu tố của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện tìm và sử dụng những nguồn năng lượng mới, vật liệu nhân tạo với thuộc tính hoàn toàn mới
Trong nông nghiệp: Nhờ ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ, các
nhà khoa học (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi) kết hợp với nông dân đã đạt thành tựu xuất sắc trong ứng dụng và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi với năng suất, chất lượng cao, kĩ thuật canh tác tiên tiến, hệ thống thủy lợi phát triển, công nghệ sau thu hoạch và chế biến có bước tiến rõ rệt… Một số công nghệ rất hiện đại của sinh học phân tử (công nghệ tế bào, công nghệ tái tổ hợp gen…) cũng đã bắt đầu được nghiên cứu và ứng dụng
Trong y học: Tiếp cận phương pháp điều trị mới trên thế giới; từng bước
hiện đại hóa, nâng cao chất lượng khám và điều trị; ứng dụng khoa học công nghệ mới Trong phòng chống dịch COVID-19, ngành Y tế đã nghiên cứu, sản xuất các test, KIT chẩn đoán nhanh COVID-19; Nghiên cứu đánh giá tính an toàn và hiệu quả của thuốc nhằm xây dựng phác đồ điều trị COVID-19; Nghiên cứu sản xuất máy thở; Nghiên cứu, sản xuất và đánh giá thử nghiệm vaccine COVID-19
Trong xây dựng: Công nghệ sản xuất vật liệu cao cấp (gạch ceramic,
granite), công nghệ thiết kế và thi công nhà cao tầng, công nghệ khoan đường hầm lớn (qua đèo Hải Vân) đạt trình độ quốc tế
Trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa: trước đây: nhập khẩu máy móc
hoàn toàn; hiện nay: đã hình thành các ngành chế tạo máy cơ - tự động hóa, cơ
khí tự động hóa…, sản xuất các thiết bị tự động, nhà máy tự động hóa… với chất lượng tương đương mà giá thành thấp hơn
Khoa học – công nghệ hiện đại với những thành tựu kì diệu đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Tự động hóa, tin học hóa không chỉ thay lao động cơ bắp, mà còn thay một phần lao động trí óc và có thể thay một phần sáng tạo của thiên nhiên bằng công nghệ sinh học, chế tạo vật liệu mới…