HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN LY HÔN NUÔI CON CHIA TÀI SẢN Mã hồ sơ ĐTC 06DS Diễn lần 03 Ngày diễn 30102021 Họ và tên NGUYỄN VĂN X Lớp 3 chung Khóa X Số báo danh 8. I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN Về quyền yêu cầu khởi kiện: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì bà Hảo có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho mình. Bà Hoàng Thị Hảo có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực tố tụng hành vi tố tụng dân sự quy định tại Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Hoàng Thị Hảo khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Nguyệt. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.” Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, có nơi cư trú tại: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của Hảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nên được xem xét giải quyết theo yêu cầu của pháp luật. Về yêu cầu khởi kiện: Bà Hảo yêu cầu được ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn. Các yêu cầu này chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định nào của Tòa án. Về thời hiệu khởi kiện: Trong vụ án này không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền thụ lý và xét xử theo Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015. Về tư cách đương sự: Căn cứ quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định: + Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hảo, địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. + Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. + Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND thành phố Hải Dương; Bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang, địa chỉ: Khu dân cư số 2, Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Về thủ tục tố tụng khác: Kể từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về nội dung vụ án: Ngày 02012016 bà Hoàng Thị Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu Tòa án giải quyết: + Yêu cầu ly hôn với anh Nguyệt; + Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nguyệt cấp dưỡng. + Yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Bà Hoàng Thị Hảo yêu cầu chia đôi nhà và đất. Ngày 10012016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ra thông báo thụ lý vụ án dân sự số 202016TLSTHNGÐ về việc: ly hôn, nuôi con, chia tài sản theo đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Hảo địa chỉ Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Theo lời khai của bà Hoàng Thị Hảo xác định: + Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 2631999. Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và hai người sống ly thân. + Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007. Khi ly hôn bà Hảo xin nuôi cả hai con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng. + Về tài sản chung: có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương; 1965 m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương sử dụng vào mục đích chuyến đổi cơ cấu cây trồng. Bà Hảo yêu cầu được thuê khoán lại một nửa diện tích đất trên. + Về nợ chung: bà Hảo xác định có một khoản nợ với Ngân hàng, nhưng không nhớ cụ thể. Theo lời khai của ông Nguyễn Văn Nguyệt xác định: + Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 2631999. Quá trình chung sống hai bên thường phát sinh mâu thuẫn do bà Hảo hay ghen và bỏ về nhà mẹ đẻ ở. + Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007. Khi ly hôn ông Nguyệt xin nuôi cả hai con và không yêu cầu bà Hảo cấp dưỡng. + Về tài sản chung: Không có tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216m đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m² lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m?, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m. + Về nợ chung: Khoản nợ đối với Ngân hàng Agribank, nợ gốc: 20.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng. Đã hoàn trả vào ngày 28062016 và ngân hàng Agribank đã trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496. Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải lần, hai bên chỉ thống nhất được về việc thuận tình ly hôn, về con chung, tài sản chung thì hai bên chưa thống nhất được. Ngày 03082017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án sơ thẩm về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt. Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: + Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 0507) – xác minh tư cách cá nhân của chị Hảo + Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26031999 (BL 02) – Hôn nhân giữa anh Nguyệt và chị Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật; + Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh số 38 quyến số 2007 (BL 0304) – chứng minh về con chung; + Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30 ) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Nhi; + Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Đức Anh; + Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo (BL 0811) – chứng minh về tài sản chung II. DỰ THEO KẾ HOẠCH XÉT HỎI 1. Hỏi nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo Anh, chị kết hôn vào ngày tháng năm nào? Chị và anh Nguyệt có tổng cộng bao nhiêu người con chung? Các cháu bao nhiêu tuổi, hiện đang sống với ai? Trong quá trình chung sống, hôn nhân của gia đình anh chị có hạnh phúc không? Tại sao chị lại quyết định ly hôn? Chị đang làm công việc gì? Thu nhập hằng tháng bao nhiêu? Chi phí chị nuôi bé Nhi một tháng khoảng bao nhiêu tiền? Hiện tại chị đã có nhà riêng chưa? Nếu chưa thì chị đang ở đâu? Nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là của ai? Chị có thể cho biết chi tiết? Ai là người đi kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Chị hay anh Nguyệt hay ai khác? Người đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay nêu trên là ai? Khi Chị và anh Nguyệt được cấp giấy chứng nhận, mọi người trong gia đình có biết không? Nếu biết họ có phản ứng gì không? Trong quá trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tôn tạo và xây dựng những gì? Có ai có ý kiến gì không 2. Hỏi bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt Anh có biết nguyên nhân vì sao chị Hảo lại quyết định ly hôn không? Khi chung sống với nhau, anh có từng có hành vi đánh chị Hảo không? Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không? Hiện tại anh đang làm gì? Thu nhập như thế nào? Công việc có ổn định không? Công việc hiện nay của anh như thế nào? Anh có thể mô tả lại? Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp mẹ mấy lần Anh hãy cho biết nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương? Việc chị Hảo cùng với anh đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên, anh lý giải như thế nào? Khi biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh và chị Hảo mọi người trong gia đình anh có phản ứng, ý kiến gì không? 3. Hỏi mẹ ruột của anh Nguyễn Văn Nguyệt ( người có quyền nghĩa vụ liên quan) Bà hãy cho biết nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là của ai? Bà có đồng ý cho anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo hay không? Phần diện tích 296 mét vuông này, chồng bà có ý kiến như thế nào? Hai vợ chồng bà có tặng cho anh Nguyệt đất không? Có giấy tờ chứng mình gì không? Về việc hai vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà có biết hay không? Bà biết được anh Nguyệt và chị Hảo cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào khi nào? Khi đó bà có ý kiến gì không? 4. Hỏi ông Bích công chức địa chính xã Thượng Đạt Sau khi vợ chồng anh chị Nguyệt Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không? Ông cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 không? 5. Hỏi ông Tư cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt Ông cho biết, việc anh Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp chị Hảo có được nhiều người biết không? III. LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CHO NGUYÊN ĐƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI CHO NGUYÊN ĐƠN BÀ HOÀNG THỊ HẢO Kính thưa: Hội đồng xét xử; Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát; Thưa các vị luật sư đồng nghiệp cùng toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa hôm nay. Tôi là Luật sư NGUYỄN VĂN X là luật sư thành viên tại Công ty Luật TNHH Hoàng Luật thuộc Đoàn Luật sư TP.Hồ Chí Minh. Theo yêu cầu của bà Hoàng Thị Hảo và được sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị Hảo. Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án. Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung của vụ án này. Tôi xin nêu lên một số luận điểm bảo vệ như sau: Thứ nhất, chấp thuận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Hảo Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyển số 011999 ngày 26031999. Tuy nhiên, chỉ sau 02 năm, đời sống hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo đã mâu thuẫn đến mức không thể hòa giải được. Hai anh chị đã ly thân từ cuối năm 2014. Từ đó đến nay, bà Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy, chị Hảo xin ly hôn với anh Nguyệt. Anh Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Hảo. Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt thể hiện trong quá trình chung sống bà Hảo và ông Nguyệt có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Nguyệt chơi bời, bà Hảo có đơn đề nghị hòa giải, tuy nhiên ông Nguyệt không đến nên hòa giải không thành. Do vậy, có thể khẳng định rằng cả hai bên không thể tiếp tục sống chung, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như lời khai của các bên tại phiên tòa hôm nay, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
LY HÔN NUÔI CON CHIA TÀI SẢN
Mã hồ sơ : ĐTC 06/DS
Diễn lần : 03
Ngày diễn : 30/10/2021
Họ và tên : NGUYỄN VĂN X
Lớp 3 chung : Khóa X
Số báo danh : 88
Trang 2I KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN
Về quyền yêu cầu khởi kiện: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều
51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì bà Hảo có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho mình
Bà Hoàng Thị Hảo có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực tố tụng hành vi tố tụng dân sự quy định tại Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Hoàng Thị Hảo khởi kiện yêu
cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con chung và chia tài sản khi ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Nguyệt Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.”
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, có nơi cư trú
tại: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của Hảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nên được xem xét giải quyết theo yêu cầu của pháp luật
Về yêu cầu khởi kiện: Bà Hảo yêu cầu được ly hôn, nuôi con và chia
tài sản khi ly hôn Các yêu cầu này chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định nào của Tòa án
Về thời hiệu khởi kiện: Trong vụ án này không áp dụng thời hiệu khởi
kiện, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền thụ lý và xét
xử theo Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015
Về tư cách đương sự: Căn cứ quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng
dân sự 2015 xác định:
+Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hảo, địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I,
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Trang 3+Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND thành phố Hải Dương; Bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang, địa chỉ: Khu dân
cư số 2, Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Về thủ tục tố tụng khác: Kể từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Về nội dung vụ án: Ngày 02/01/2016 bà Hoàng Thị Hảo nộp đơn khởi
kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương yêu cầu Tòa án giải quyết: + Yêu cầu ly hôn với anh Nguyệt;
+ Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001
và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nguyệt cấp dưỡng
+ Yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Bà Hoàng Thị Hảo yêu cầu chia đôi nhà và đất
Ngày 10/01/2016 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ra thông báo thụ lý vụ án dân sự số 20/2016/TLST-HNGÐ về việc: ly hôn, nuôi con, chia tài sản theo đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị Hảo địa chỉ Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
Theo lời khai của bà Hoàng Thị Hảo xác định:
+ Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 26/3/1999 Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và hai người sống ly thân
+ Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 Khi ly hôn bà Hảo xin nuôi cả hai con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Trang 4+ Về tài sản chung: có số thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương; 1965 m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương sử dụng vào mục đích chuyến đổi cơ cấu cây trồng Bà Hảo yêu cầu được thuê khoán lại một nửa diện tích đất trên
+ Về nợ chung: bà Hảo xác định có một khoản nợ với Ngân hàng, nhưng không nhớ cụ thể
Theo lời khai của ông Nguyễn Văn Nguyệt xác định:
+ Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt xác định đã kết hôn với bà Hoàng Thị Hảo vào ngày 26/3/1999 Quá trình chung sống hai bên thường phát sinh mâu thuẫn do bà Hảo hay ghen và bỏ về nhà mẹ đẻ ở
+ Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2001 và Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 Khi ly hôn ông Nguyệt xin nuôi cả hai con và không yêu cầu bà Hảo cấp dưỡng
+ Về tài sản chung: Không có tài sản chung là nhà đất có số thửa 496,
tờ bản đồ 01, diện tích 216m đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m² lợp ngói, 01 gian bếp và nhà
vệ sinh khoảng 10m?, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m
+ Về nợ chung: Khoản nợ đối với Ngân hàng Agribank, nợ gốc: 20.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Đã hoàn trả vào ngày 28/06/2016 và ngân hàng Agribank đã trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải lần, hai bên chỉ thống nhất được về việc thuận tình ly hôn, về con chung, tài sản chung thì hai bên chưa thống nhất được
Ngày 03/08/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án sơ thẩm về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt
Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện:
+ Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 05-07) – xác minh tư cách cá nhân của chị Hảo
+ Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/03/1999 (BL 02) – Hôn nhân giữa anh Nguyệt và chị Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật;
Trang 5+ Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh số 38 quyến số 2007 (BL 03-04) – chứng minh về con chung;
+ Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30 ) – chứng minh mong muốn được
ở với mẹ của cháu Nhi;
+ Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Đức Anh;
+ Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo (BL 08-11) – chứng minh về tài sản chung
Trang 6II DỰ THEO KẾ HOẠCH XÉT HỎI
1 Hỏi nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo
Anh, chị kết hôn vào ngày tháng năm nào?
Chị và anh Nguyệt có tổng cộng bao nhiêu người con chung?
Các cháu bao nhiêu tuổi, hiện đang sống với ai?
Trong quá trình chung sống, hôn nhân của gia đình anh chị có hạnh phúc không?
Tại sao chị lại quyết định ly hôn?
Chị đang làm công việc gì? Thu nhập hằng tháng bao nhiêu?
Chi phí chị nuôi bé Nhi một tháng khoảng bao nhiêu tiền?
Hiện tại chị đã có nhà riêng chưa? Nếu chưa thì chị đang ở đâu?
Nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là của ai? Chị có thể cho biết chi tiết?
Ai là người đi kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Chị hay anh Nguyệt hay ai khác?
Người đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay nêu trên là ai?
Khi Chị và anh Nguyệt được cấp giấy chứng nhận, mọi người trong gia đình có biết không? Nếu biết họ có phản ứng gì không?
Trong quá trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tôn tạo và xây dựng những gì? Có ai có ý kiến gì không
2 Hỏi bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt
Anh có biết nguyên nhân vì sao chị Hảo lại quyết định ly hôn không?
Khi chung sống với nhau, anh có từng có hành vi đánh chị Hảo không?
Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không?
Hiện tại anh đang làm gì? Thu nhập như thế nào? Công việc có ổn định không?
Trang 7 Công việc hiện nay của anh như thế nào? Anh có thể mô tả lại?
Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp mẹ mấy lần
Anh hãy cho biết nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương?
Việc chị Hảo cùng với anh đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên, anh lý giải như thế nào?
Khi biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh và chị Hảo mọi người trong gia đình anh có phản ứng, ý kiến gì không?
3 Hỏi mẹ ruột của anh Nguyễn Văn Nguyệt ( người có quyền nghĩa vụ liên quan)
Bà hãy cho biết nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là của ai?
Bà có đồng ý cho anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo hay không? Phần diện tích 296 mét vuông này, chồng bà có ý kiến như thế nào?
Hai vợ chồng bà có tặng cho anh Nguyệt đất không? Có giấy tờ chứng mình gì không?
Về việc hai vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà có biết hay không?
Bà biết được anh Nguyệt và chị Hảo cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào khi nào? Khi đó bà có ý kiến gì không?
4 Hỏi ông Bích - công chức địa chính xã Thượng Đạt
Sau khi vợ chồng anh chị Nguyệt - Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không?
Ông cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 không?
5 Hỏi ông Tư - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt
Ông cho biết, việc anh Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp chị Hảo có được nhiều người biết không?
Trang 8III LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CHO NGUYÊN ĐƠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI CHO NGUYÊN ĐƠN BÀ HOÀNG THỊ
HẢO
Kính thưa:
- Hội đồng xét xử;
- Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát;
- Thưa các vị luật sư đồng nghiệp cùng toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa hôm nay.
Tôi là Luật sư NGUYỄN VĂN X là luật sư thành viên tại Công ty
Luật TNHH Hoàng Luật thuộc Đoàn Luật sư TP.Hồ Chí Minh Theo yêu
cầu của bà Hoàng Thị Hảo và được sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị Hảo
Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung của vụ án này Tôi xin nêu lên một số luận điểm bảo vệ như sau:
Thứ nhất, chấp thuận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Hảo
Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn với nhau trên
cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyển số 01/1999 ngày 26/03/1999 Tuy nhiên, chỉ sau 02 năm,
Trang 9đời sống hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn
Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo đã mâu thuẫn đến mức không thể hòa giải được Hai anh chị đã ly thân từ cuối năm 2014 Từ đó đến nay, bà Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa Vì vậy, chị Hảo xin ly hôn với anh Nguyệt Anh Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Hảo
Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt thể hiện trong quá trình chung sống bà Hảo và ông Nguyệt có phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Nguyệt chơi bời, bà Hảo có đơn đề nghị hòa giải, tuy nhiên ông Nguyệt không đến nên hòa giải không thành
Do vậy, có thể khẳng định rằng cả hai bên không thể tiếp tục sống chung, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014
và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như lời khai của các bên tại phiên tòa hôm nay, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt
Thứ hai, chấp thuận cho bà Hoàng Thị Hảo được nuôi dưỡng cháu Nhi và cháu Đức Anh
Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyệt có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007 Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc chị Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại các biên bản hòa giải (BL 148-152, 175-177) Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị (BL 30) Về phía
cháu Đức Anh, cháu có đơn đề nghị mong muốn được ở với mẹ theo đơn
đề nghị (BL 31) và Biên bản lấy lời khai (BL 167-168) Hiện nay cháu Đức Anh đã được 10 tuổi Đây là độ tuổi trẻ nhỏ dễ bị ảnh hưởng về tâm lý và
Trang 10chị gái 16 tuổi sẽ tốt hơn cho cháu và bản thân cháu cũng đã thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ tại biên bản lấy lời khai của Quý tòa ngày 05/07/2016 (BL 167-168) có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu
Về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, bà Hảo không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng cho hai cháu Hiện bà đang sống ở nhà mẹ đẻ và có công việc với mức lương khá và nơi ở ổn định, cùng với đó là sự giúp đỡ của mẹ ruột chị trong việc nuôi dạy các cháu Do đó bà Hảo hoàn toàn có
đủ điều kiện để nuôi dưỡng các cháu
Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt
đã không cho chị Hảo gặp cháu, nếu chị Hảo gặp thì anh Nguyệt sẽ đánh cháu Điều này chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ông Đỗ Văn Tư - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09/03/2016 (BL 73-74) Như vậy, nếu như anh Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh thì sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh của chị Hảo theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm
Như vậy, việc chị Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung là cháu Nhi và
cháu Đức Anh và không cần cấp dưỡng là hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật cũng như thực tế hiện tại và mong muốn của cháu Đức Anh
và cháu Nhi
Thứ ba, về vấn đề chia tài sản chung
Tài sản chung yêu cầu phân chia sau khi ly hôn của bà Hảo và ông Nguyệt chỉ có ngôi nhà và các công trình phụ nằm trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Xét nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 thì thửa đất trên được ông bà Cang, ông Thoa là bố mẹ chồng của bà Hảo cho hai vợ chồng để xây nhà và sinh sống Chị Hảo và anh Nguyệt đều thống nhất rằng anh chị
đã được bố mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng xây dựng nhà và công trình phụ để ra ở riêng từ năm 1999
Trang 11sau khi kết hôn Điều này cũng đã được thể hiện qua Biên bản lấy lời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ (BL 69-70), là anh em trong họ với anh Nguyệt xác nhận cùng với Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới (BL 67-68) và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ cho hai vợ chồng năm
1999
Thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt từ năm 2005 một cách hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến này không hề phát sinh bất kỳ tranh chấp nào UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP Hải Dương (BL 133-134) đã xác nhận với Quý tòa
về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nói trên cho anh Nguyệt và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang Theo như lời khai của bà Thoa nêu rằng đã biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSĐ và bà Thoa và mọi người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, không ai tranh chấp gì Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016 (BL 163-164) ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ giáp danh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình anh Nguyệt
Trong thời gian sống trên thửa đất số 496, chị Hảo góp công tôn tạo cho thửa đất cùng anh Nguyệt Lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được một phần để xây nhà và công trình phụ Hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt hàng năm đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay Tại bản xác minh của Quý tòa ngày 9/3/2016 (BL 75-76), ông Nguyễn Văn Bích, cán bộ địa chính xã