DIỄN ÁN HỒ SƠ DÂN SỰ 07 HOÀNG THỊ HẢO NGUYỄN VĂN NGUYỆT HỌC VIỆN TƯ PHÁP Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ Mã hồ sơ LS DS07B3 TH2 DA1HNGĐ Diễn án lần 1 Ngày diễn GVHD Họ và tên N.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Mã hồ sơ : LS.DS07/B3.TH2-DA1/HNGĐ
Diễn án lần : 1
Ngày diễn :
GVHD :
Họ và tên :
Ngày sinh :
Lớp :
Số báo danh :
Nhóm :
TPHCM, ngày 04 tháng 08 năm 2022
Trang 2I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP
Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện,
có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương vào ngày 26/03/1999 Ngày 02/01/2016 do nhận thấy bà Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương để yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt; yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2001) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007) và không yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
Sau quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử bà Hảo có trình bày và yêu cầu như sau:
Về ly hôn bà Hảo trình bày do tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt
Về việc nuôi con phía bà Hảo trình bày bà và ông Nguyệt có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (04/1/2001) và cháu Nguyễn Đức Anh (13/06/2007) và có yêu cầu được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Về việc chia tài sản chung phía bà Hảo trình bày bà và ông Nguyệt có tài sản chung là nhà đất tại thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt Đất có số thửa 496 tờ bản đồ
số 01 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà và ông Nguyệt từ năm 2005 Trên đất có các tài sản là nhà, công trình phụ, tường bao, bể nước, giếng đào, chuồng lợn, chuối và một số cây ăn quả khác Đối với phần tài sản trên đất bà không có có yêu chia và chỉ yêu cầu được chia một nửa diện tích đất trên và xin được lấy phần không có tài sản
Sau quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử ông Nguyệt có trình bày và yêu cầu như sau:
Về ly hôn ông Nguyệt nhất trí ly hôn với bà Hảo
Về nuôi con ông Nguyệt không đồng ý cho bà Hảo nuôi 02 con chung, đề nghị giao cháu Anh cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và hiện nay ông đang trực tiếp nuôi cháu Anh, bà Hảo nuôi cháu Nhi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai
Về tài sản chung đối với phần tài sản trên đất ông thống nhất chia đôi và xin được nhận bằng hiện vật, trả tiền lại cho bà Hảo Còn phần đất ông trình bày phần đất đó là của bố mẹ anh em ông, không phải là của chung giữa ông và bà Hảo, đề nghị không chia đất cho bà Hảo Bà Hảo không có một chút công sức nào trong việc tôn tạo, bồi đắp thửa đất mặc dù bà Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi bà Hảo bỏ đi Và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo vì cho rằng đây
là tài sản của cha mẹ anh em ông Nguyệt Hảo và cấp lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang
Trang 3Vào khoảng năm 2014 bà Hảo và ông Nguyệt đã thế chấp tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất nêu trên để vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Nam sách Hiện nay ông Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 20.000.000 đồng Trong quá trình giải quyết vụ việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cũng đưa ra ý kiến là yêu cầu ông Nguyệt và bà Hảo thanh toán số tiền còn nợ của Ngân hàng là: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và số tiền lãi phát sinh cho tới khi tất toán hợp đồng
2
Trang 4II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA ĐƯƠNG SỰ
1 Nội dung vụ án.
Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt sống chung và có đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999 Sau khi cưới ông bà chung sống được khoảng thời gian là 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân là do hai ông bà không hợp nhau, ông Nguyệt hay đi chơi về chửi bới, đánh đập vợ con Chính vì vậy bà Hảo và ông Nguyệt đã sống
ly thân được một thời gian từ này 14/12/2014 đến nay Nay nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hoà giải, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài nên
bà Hảo đã nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hảo yêu cầu được toà án nhân dân thành phố Hải Dương giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyệt
- Về con chung bà Hảo và ông Nguyệt có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh Sau khi ly hôn bà Nguyệt yêu cầu được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu ông Nguyệt thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung bà Hảo và ông Nguyệt có khối tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân là đất và tài sản trên đất có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà và ông Nguyệt từ năm 2005 Bà Hảo không yêu cầu chia tài sản trên đất mà chỉ yêu cầu chia một nửa diện tích đất trên bằng hiện vật và xin được lấy phần không có tài sản và không đồng ý với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyệt
Ông Nguyệt có trình bày và yêu cầu như sau:
- Về ly hôn ông Nguyệt nhất trí ly hôn với bà Hảo
- Về nuôi con ông Nguyệt không đồng ý cho bà Hảo nuôi 02 con chung, đề nghị giao cháu Anh cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và hiện nay ông đang trực tiếp nuôi cháu Anh, bà Hảo nuôi cháu Nhi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai
- Về tài sản chung đối với phần tài sản trên đất ông thống nhất chia đôi và xin được nhận bằng hiện vật, trả tiền lại cho bà Hảo Còn phần đất ông trình bày phần đất
đó là của bố mẹ anh em ông, không phải là của chung giữa ông và bà Hảo, đề nghị không chia đất cho bà Hảo Bà Hảo không có một chút công sức nào trong việc tôn tạo, bồi đắp thửa đất mặc dù bà Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi bà Hảo bỏ
đi Và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo vì cho rằng đây là tài sản của cha mẹ anh em ông Nguyệt Hảo và cấp lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang
2 Các chứng cứ chứng minh.
Trang 5- Về quan hệ hôn nhân: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 09, Quyển số:
01/1999 do UBND xã Thượng Dật, Huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 26/03/1999; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về con chung: Giấy khai sinh của hai cháu Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh;
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về tài sản chung: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn
Nguyệt và Nguyễn Thị Hảo; Án lệ số 03/2016/AL về vụ án ly hôn được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
3 Những vấn đề pháp lý cơ bản.
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân;
- Thẩm quyền giải quyết: Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
(Căn cứ theo các quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật TTDS 2015)
- Các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Nam Giang,
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương;
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn Thượng Triệt,
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Cháu Nguyễn Thị Nhi; Cháu
Nguyễn Đức Anh; Bà Nguyễn Thị Thoa; ông Nguyễn Văn Cang; Ông Nguyễn Văn Giới; Anh Nguyễn Văn Quyết; Anh Nguyễn Văn Chuyển; Ngân hàng NN và PTNTVN Chi nhánh khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
4
Trang 6III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGUYÊN ĐƠN
1 Câu hỏi chuẩn bị để hỏi bị đơn (Nguyễn Văn Nguyệt)
- Ông và bà Hảo kết hôn năm nào? Sau khi ông bà kết hôn thì ông bà ở tại đâu?
- Vợ chồng ông bà bắt đầu sinh sống tại thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 vào thời gian nào?
- Hiện ông và bà Hảo có còn sống chung với nhau không?
- Ông cho biết ai là người đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa đất
496 tờ bản đồ số 01?
- Ai là người đóng tiền thuế sử dụng đất hàng năm đối với thửa đất trên?
- Ông cho rằng UBND thành phố Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông và bà Hảo là sai, vậy tại sao thời điểm nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không khiếu nại hay yêu cầu cấp lại?
- Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo gia đình ông có ai phản đối về việc này không?
- Trong quá trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tôn tạo và xây dựng những gì?
Ai là người bỏ tiền ra tôn tạo và xây dựng?
- Khi cho đất, bố mẹ ông chỉ đồng ý miệng để 2 vợ chồng ông ra riêng thôi phải không?
- Việc bồi đắp, san lấp đất và xây nhà được thực hiện trong thời gian ông và bà Hảo đã kết hôn đúng không?
- Công việc hiện nay của ông là gì? Thu nhập bình quân hàng tháng của ông là bao nhiêu? Có điều gì thể hiện việc này không?
- Theo lời khai của chị Hảo và cháu Đức Anh thì ông không cho cháu Đức Anh gặp mẹ, điều này có đúng sự thật hay không?
2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi nguyên đơn (Nguyễn Thị Hảo).
- Hiện bà và ông Nguyệt đang sống ly thân đúng hay không?
- Tại sao ông bà lại sống ly thân?
- Trong thời gian sống ly thân cháu Anh ở với ông Nguyệt đúng hay không?
- Ông Nguyệt có cho bà gặp cháu thường xuyên hay không? Mỗi lần bà gặp cháu ông Nguyệt có biết không?
- Vậy trong khoảng thời gian chị bỏ về nhà mẹ đẻ như vậy thì ai là người chăm sóc 2 bé Nhi và Đức Anh?
- Lúc chị cưới anh Nguyệt, gia đình chồng đã có mảnh đất thửa 496 này chưa?
- Vậy, bố mẹ anh Nguyệt có tặng cho vợ chồng anh chị thửa đất số 496 này không? Có văn bản nào xác nhận về việc cho tặng này không?
- Như chị trình bày ở trên thì nguồn gốc đất này là của bố mẹ anh Nguyệt đúng không?
Trang 7- Bà cho biết hiện tại bà làm nghề gì? Thời gian làm việc của bà như thế nào? Thu nhập như thế nào?
- Ông Nguyệt có giúp bà chăm sóc, nuôi dạy con cái không?
- Ông Nguyệt có khi nào đánh đập con cái không?
- Bà có thực hiện việc kê khai và nộp thuế quyền sử dụng đất đối với thửa đất
496, tờ bản đồ số 01 hay không?
- Khi vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên gia đình chồng bà có biết hay không? Có ai có ý kiến phản đối hay gì không?
3 Câu hỏi để hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Nguyễn Thị Thoa):
- Bà có biết thời điểm đo đạc, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyệt bà Hảo không?
- Bà cho biết vào thời điểm ông Nguyệt bà Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất gia đình bà có biết việc này không?
- Tại sao về sau bà biết được ông Nguyệt, bà Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này bà không có ý kiến gì mà tới nay bà mới phản đối?
6
Trang 8IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO BỊ ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!
Thưa Quý luật sư đồng nghiệp!
Tôi là Luật sư …… thuộc Văn phòng luật sư T, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
bị đơn – anh Nguyễn Văn Nguyệt trong vụ án “tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo Hôm nay, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ
vụ án và qua phần xét hỏi công khai tại tòa hôm nay, tôi xin phép Hội Đồng xét xử được trình bày luận cứ bảo vệ cho bị đơn như sau:
Thứ nhất, về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hảo:
Thưa Hội đồng xét xử, chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng
ký kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999
Vấn đề ly hôn là hoàn toàn có căn cứ theo quy định của pháp luật cụ thể là các quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 Qua các bằng chứng, lời khai của các đương sự cho thấy tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Cụ thể:
- Tình trạng của vợ chồng bà Hảo, ông Nguyệt rất trầm trọng Sau khi kết hôn ông Nguyệt và chị Hảo sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn
- Đời sống chung không thể kéo dài Khi tình trạng của vợ chồng đã phát sinh trầm trọng Chính vì vậy mà ông Nguyệt và bà Hảo đã sống ly thân từ ngày 14/12/2014 cho đến nay Từ đó đến nay, chị Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa Việc ông Nguyệt và bà Hảo sống ly thân đã được cả ông Nguyệt, bà Hảo cũng như những người có liên quan thừa nhận trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai
Từ những căn cứ trên có thể thấy cuộc sống hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Do đó tôi kính đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho thân chủ tôi được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hảo
Thứ hai, về yêu cầu nuôi con:
Anh Nguyệt là người có quyền nuôi cháu Nguyễn Đức Anh là đáp ứng đúng với nguyện vọng thỏa đáng của cháu, cũng như bảo đảm được lợi ích cho sự phát triển của cháu
Trang 9Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kì hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 07 tuổi
Theo như Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (Bút lục số 32) thì cháu có nguyện vọng ở với bố vì chị của cháu là cháu Nhi không được đi học cấp 3, một suy nghĩ còn hết sức non nớt của đứa trẻ, tuy nhiên cũng cho thấy thực tế lo sợ về tương lai của bản thân đối với cuộc sống áp lực khi phải ở với mẹ, như chị gái đang phải chịu Như vậy, việc anh Nguyệt có quyền nuôi dưỡng cháu Đức Anh sau khi ly hôn là hợp lý và hợp pháp
Mặt khác, anh Nguyệt hiện đang nuôi cháu Đức Anh, nhà anh Nguyệt ở khu vực gần trường học sẽ thuận tiện hơn trong việc đi lại cũng như học tập của cháu Mức thu nhập ổn định hiện tại của anh Nguyệt một tháng là khoảng 08 triệu đồng, so với mức sinh hoạt phí tại địa phương thì anh Nguyệt có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đức Anh, đảm bảo được sự phát triển của cháu, hơn hẳn mức thu nhập của mẹ cháu chỉ 5-6 triệu đồng/tháng nhưng lại chi trả việc nuôi dạy học hành của cả 2 đứa con
Vì vậy, chúng tôi đề nghị Tòa án áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật
hôn nhân gia đình 2014 “Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.” khi xem xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con để anh
Nguyệt là người nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đức Anh sau khi ly hôn
Thứ ba, về yêu cầu chia tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà Hảo và ông Nguyệt:
Căn cứ vào tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời khai của các bên trong quá trình tố tụng, tôi xin khẳng định đối với yêu cầu chia tài sản chung là đất
và tài sản trên đất có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Nguyệt và bà Hảo là hoàn toàn không có căn cứ Bởi:
Về tài sản chung để phân chia sau khi ly hôn của anh Nguyệt và chị Hảo chỉ có ngôi nhà và các công trình phụ nằm trên đất
Chị Hảo cho rằng thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là tài sản chung của vợ chồng là không chính xác, bởi các lẽ sau:
Nguồn gốc thửa đất trên là của Bố mẹ và anh em của anh Nguyệt góp tiền mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1994, không hề có sự đóng góp của anh Nguyệt (có xác nhận của cán bộ địa chính)
Cuối năm 1994, đầu năm 1995, ông Nguyễn Văn Cang và bà Nguyễn Thị Thoa cùng các con là Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Văn Chuyển có góp tiền mua thửa đất hiện tại anh Nguyệt đang sử dụng từ UBND xã Thượng Đạt với giá 1.550.000 đồng
8
Trang 10Số tiền này do anh Nguyễn Văn Quyết đóng góp 1.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn Chuyển đóng góp 550.000 đồng Tại thời điểm đó, bà Nguyễn Thị Thoa là người trực tiếp đi nộp tiền mua thửa đất cho UBND xã Thượng Đạt, điều này đã được xác minh bởi ông Nguyễn Văn Bích – cán bộ địa chính xã (bút lục 75) Hơn nữa, anh Nguyệt không hề đóng góp bất cứ khoản tiền nào đối với thửa đất trên nên thửa đất trên là tài sản của bố mẹ anh Nguyệt và của anh Nguyễn Văn Quyết, anh Nguyễn Văn Chuyển
Chị Hảo đã trình bày rằng đã được bố mẹ cho vợ chồng chị thửa đất nói trên Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày ở trên thì Thửa đất này là tài sản của bố mẹ và các anh em của anh Nguyệt Theo lời khai của bà Nguyễn Thị Thoa, anh Nguyễn Văn Quyết, anh Nguyễn Văn Chuyển (các bút lục 93, 82, 85) Sau khi mua thửa đất này, gia đình bà Thoa đã họp thống nhất cho phép vợ chồng anh Nguyệt ra ở trên thửa đất
496, được xây dựng nhà và các công trình phụ trên đất, tuy nhiên chỉ cho vợ chồng anh Nguyệt ở nhờ trên đất; không hề có bất cứ tuyên bố bằng miệng hay có bất cứ văn bản nào xác nhận việc tặng cho thửa đất này cho cá nhân anh Nguyệt hay vợ chồng anh Nguyệt
Về Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ 01 có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương mang tên Chị Hảo và Anh Nguyệt không đúng quy định của pháp luật, do:
Không hề có Đơn xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 496
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 135 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 quy định về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại xã, thị trấn thì trong hồ sơ nộp cho UBND xã nơi có đất phải có Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, thông qua lời khai của anh Nguyệt tại bút lục 18,19, lời khai của ông Nguyễn Văn Bích – cán bộ địa chính xã Thượng Đạt (bút lục 76) và phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, đã khẳng định rằng anh Nguyệt đã không làm Đơn xin Cấp GCNQSD đất hay bất cứ một giấy tờ gì đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216 m2 có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương UBND
xã Thượng Đạt tự làm GCNQSD đất mang tên 2 vợ chồng anh chị Anh Nguyệt chỉ biết là mình và chị Hảo được cấp CNQSD đất khi UBND xã gọi anh lên ký và nhận GCNQSD đất
Bà Thoa, anh Quyết, anh Chuyển không hề được UBND xã Thượng Đạt thông báo về Quyết định số 563/2002/QĐ-UB của UBND huyện Nam Sách về việc xử lý giao đất trái thẩm quyền cho 30 hộ dân
Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 135 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003:
“Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thẩm tra, xác nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất;