BỘ TƯ PHÁPHỌC VIỆN TƯ PHÁPKHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯBÀI THU HOẠCH HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS DS 07 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN (Luật sư bảo vệ cho Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo) Ngày 2631999, chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương. Trong thời kỳ hôn nhân, chị Hảo và anh Nguyễn có 2 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 0412001) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 1362007).
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH
HỒ SƠ TÌNH HUỐNG LS.DS - 07 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN
(Luật sư bảo vệ cho Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hảo)
Trang 2Hà Nội, ngày … tháng … năm ….
Trang 3MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP 1
1 Tóm tắt vụ việc 1
2 Các đương sự có trong vụ án 1
II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA ĐƯƠNG SỰ 2
1 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 2
2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp 2
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM 3
IV SOẠN THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO KHÁCH HÀNG 5
V PHẦN THU HOẠCH SAU DIỄN ÁN 10
Trang 4I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP
1 Tóm tắt vụ việc
Ngày 26/3/1999, chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương Trong thời kỳ hôn nhân, chị Hảo và anh Nguyễn có 2 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/1/2001) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007)
Trong quá trình chung sống vợ chồng chị Hảo và anh Nguyễn phát sinh mẫu thuẫn, vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo sống ly thân từ khoảng cuối năm 2014 Đến ngày 02/01/2016, chị Hảo có Đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyệt; yêu cầu được nuôi 02 con chung và yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 Thửa đất số 469, tờ bản đồ số
01, diện tích 216m2, địa chỉ thửa đất tại xã Thương Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương; Số vào số cấp GCN QSDĐ: H497
2 Các đương sự có trong vụ án
2.1 Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hảo, sinh năm 1978.
- Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn Thương Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Hiện trú tại: Thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
2.2 Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976.
- Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại: Thôn Thương Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
a Bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1944
- Trú tại: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
b Ông Nguyễn Văn Cang, sinh năm 1933
- Trú tại: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
c Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương
Trang 5- Địa chỉ: Số 18 Trần Hữu Dực, phường Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Hiếu (Theo Quyết định bổ nhiệm cán bộ số 168/ NNNo-HD-HC ngày 28/01/2015 và Quyết định về việc ủy quyền thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của người đại diện theo pháp luật số 509/QĐ-HĐTV-PC ngày 19/6/2014)
d UBND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Địa chỉ: Số 106 Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Kim Quang và bà Hoàng Thị Thu Hà (Theo Giấy ủy quyền ngày 08/6/2016)
II PHẦN TRÌNH BÀY CỦA ĐƯƠNG SỰ
1 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
1.1 Yêu cầu Tòa án chấp thuận yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt
1.2 Yêu cầu được nuôi hai con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2001) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007), không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng 1.3 Yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 Thửa đất số 469, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ thửa đất tại xã Thương Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương; Số vào số cấp GCN QSDĐ: H497
2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp
- Về quan hệ hôn nhân: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 09, Quyển số: 01/1999 do UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 26/03/1999; Sổ hộ khẩu, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Về con chung: Giấy khai sinh của hai cháu Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về tài sản chung: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn Nguyệt và Nguyễn Thị Hảo; Án lệ số 03/2016/AL về vụ án ly hôn được Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định
220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
T Vấn đề cần Người được Câu hỏi cụ thể
Trang 6T hỏi hỏi
1
Vấn đề liên
quan đến
quan hệ hôn
nhân giữa
anh Nguyễn
Văn Nguyệt
và chị
Nguyễn Thị
Hảo
Nguyên đơn -Chị Nguyễn Thị Hảo
- Chị Hảo cho HĐXX biết tại sao chị lại muốn ly hôn với anh Nguyệt?
- Anh Nguyệt có thường xuyên chửi bới, đánh đập chị không?
Bị đơn – Anh Nguyễn Văn Nguyệt
- Trong quá trình chung sống với chị Hảo, có phải anh thường xuyên có hành vi đánh đập chị Hảo hay không?
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị Thoa
- Bà có biết tình trạng hôn nhận của chị Hảo và anh Nguyệt đã lâm vào tình trạng trầm trọng không?
- Bà có biết vợ chống chị Hảo, anh Nguyệt đã sống ly thân hay không?
- Bà có biết hành vi đánh đập của anh Nguyệt đối với chị Hảo, cháu Đức Anh không?
2
Vấn đề liên
quan đến
con chung
Nguyên đơn -Chị Nguyễn Thị Hảo
- Hiện tại chị đang làm nghề gì? Thu nhập 1 tháng của chị là bao nhiêu?
- Chị có bảng lương hay bằng chứng chứng minh mức thu nhập của chị hay không?
- Sau khi ly hôn, chị và các con sẽ ở đâu?
- Chị có đồng ý sau khi ly hôn vẫn cho các con được gặp bố không?
Bị đơn – Anh Nguyễn Văn Nguyệt
- Anh Nguyệt có hành vi đánh cháu Đức Anh khi cháu gặp chị Hảo đúng không?
- Anh hiện đang làm công việc gì, thu nhập hàng tháng là bao nhiêu?
3 Vấn đề liên
quan đến tài
sản chung Nguyên đơn
-Chị Nguyễn Thị Hảo
- Sau khi kết hôn, chị sống ở đâu?
- Chị đã cùng anh Nguyệt cải tạo và xây các công trình trên đất có đúng không?
- Việc gia đình anh Nguyệt thống nhất cho chị và anh Nguyệt ra ở riêng trên mảnh đất này có nhưng
ai biết?
Bị đơn – Anh - Thời điểm anh và chị Hảo bắt đầu sử dụng đất là
Trang 7Nguyễn Văn Nguyệt
khi nào? Trong quá trình sử dụng có tranh chấp với ai không?
- Anh cho rằng UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh và chị Hảo
là không đúng, vậy tại sao thời điểm nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh không khiếu nại hay yêu cầu cấp lại?
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Bà Nguyễn Thị Thoa:
+ Khi UBND xã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho nhà anh Nguyệt, chị Hảo bà có ý kiến phản đối gì không?
+ Sau khi cho anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng mảnh đất cho đến nay bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất cho thửa đất này không?
+ Tại sao khi biết được anh Nguyệt, chị Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà không
có ý kiến phản đối gì mà tới nay bà mới phản đối?
- UBND thành phố Hải Dương:
+ Mời đại diện của UBND thành phố Hải Dương nêu ý kiến về thủ tục cấp GCN QSDĐ cho anh Nguyệt, chị Hảo
Hỏi người làm chứng – ông Nguyễn Văn Bích
- Khi ông thực hiện thủ tục cấp GCN QSDĐ cho anh Nguyệt, chị Hảo thì có ý kiến phản đổi nào từ phía gia đình anh Nguyệt không?
- Ông hãy cho biết, có văn bản nào thể hiện việc tặng cho QSDĐ của gia đình anh Nguyệt cho vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo không?
IV SOẠN THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO KHÁCH HÀNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trang 8Hải Dương, ngày 06 tháng 9 năm 2022
BẢN LUẬN CỨ
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Nguyễn Thị Hảo trong vụ án dân
sự số 20/2016/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2016 về việc: Ly hôn, nuôi con, chia tài sản
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương!
Thưa vị Luật sư đồng nghiệp cùng toàn thể Quý vị có mặt tại phiên tòa!
Tôi là luật sư Quách Thị Phương thuộc Văn phòng luật sư QTP – Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Bình Theo Giấy yêu cầu luật sư của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo và được
sự chấp thuận của Hội đồng xét xử, tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đối chiếu với các quy định pháp luật, tôi xin trình bày quan điểm bào chữa của mình như sau:
1 Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo.
Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 1999 và có 2 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh năm 2001)
và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh năm 2007) Trong quá trình chung sống, đời sống vợ chồng ngày càng có nhiều mâu thuẫn, bất hòa do tính cách của hai bên không hợp nhau, anh Nguyệt hay đi chơi, uống rượu, về lại chửi, đánh vợ con
Hai bên gia đình đã nhiều khuyên bảo, hòa giải cho hai vợ chồng, cố gắng vun vén xây dựng gia đình để cho cháu Nhi và cháu Đức Anh có một mái ấm trọn vẹn nhưng không đạt được kết quả, mà tình hình ngày càng tệ hơn, thậm chí đi đến tình trạng ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau (vợ chồng chị Hảo, anh Nguyệt đã sống ly thân từ cuối năm 2014)
Nay, nhận thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị Nguyệt đã khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyệt và anh Nguyệt cũng đã đồng ý ly hôn chị Hảo
Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo và bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt
2 Về con chung
Trang 9Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt có 2 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (15 tuổi) và cháu Nguyễn Đức Anh (9 tuổi) Sau khi ly hôn, chị Hảo xin được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng nuôi con
2.1 Nguyện vọng của hai con
Ngày 20/01/2016, cháu Nguyễn Thị Nhi đã có đơn đề nghị gửi đến TAND thành
phố Hải Dương với nội dung: “Nếu bố mẹ cháu không ở được với nhau nữa, cháu xin
được ở với mẹ là Nguyễn Thị Hảo” Anh Nguyệt cũng đã đồng ý để chị Hảo nuôi dưỡng
cháu Nhi
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 5/7/2016, trước sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu Đức Anh, cháu cũng đã thể hiện được nguyện vọng được ở với
mẹ sau khi bố mẹ ly hôn
Mẹ là người mang nặng đẻ đau, chăm sóc nuôi dưỡng các con từ khi chào đời, hiểu rõ tính cách và tâm lý của hai cháu Mẹ là nguồn sống đầu tiên của con, con là một phần cơ thể của mẹ nên mẹ sẽ là người chăm sóc tốt nhất cho con trong giai đoạn tuổi ăn, tuổi lớn Trong khi đó, anh Nguyệt lại là người có xu hướng bạo lực thể hiện qua việc hay đi chơi, uống rượu về lại đập vợ con Điều này sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình phá triển tính cách của cháu Đức Anh Bên cạnh đó, anh Nguyệt đã có những hành vi ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển của trẻ nhỏ, vi phạm quy tắc đạo
đức xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền trẻ em đó là “Không cho chị Hảo gặp con, nếu
chị Hảo gặp con, anh Nguyệt sẽ hành hạ đứa bé” (Điều này được ghi nhận tại Biên bản
xác minh ngày 09/3/2016) Hành vi này đã vi phạm khoản 2 Điều 83 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cản trở chị Hảo thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Đó cũng là lý do tại sao
cả hai cháu Nhi và cháu Đức Anh đều có nguyện vọng được ở với mẹ, để được mẹ chăm sóc
Căn cứ khoản 2 Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ,
chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Cháu Nguyễn Thị Nhi (15 tuổi) và cháu Nguyễn Đức Anh (9 tuổi) đều đã đủ tuổi
để được xem xét nguyện vọng được ở với ai khi bố mẹ ly hôn Vì vậy, nếu cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ thì kính đề nghị Tòa án nên xem xét giải quyết theo hướng tôn trọng ý kiến của hai cháu Bởi hơn ai hết, chính các cháu là người được tiếp xúc,
Trang 10được nhận sự quan tâm, chăm sóc hàng ngày của cha, mẹ nên chính bản thân các cháu tự nhận thức được khi ở với mẹ hay với bố thì tốt hơn Bên cạnh đó, chị Hảo cũng không ngăn cấm anh Nguyệt thăm gặp các cháu, chị không ngăn cản tình cảm cha con, anh có thể đến thăm con khi có điều kiện, chị sẽ luôn tạo điều kiện để các cháu lớn lên có cả sự chăm sóc, yêu thương của cả cha lẫn mẹ
2.2 Điều kiện nuôi con của chị Nguyễn Thị Hảo
Thứ nhất, về điều kiện kinh tế: Chị Nguyệt hiện tại đang làm công nhân tại Công
ty Trấn An, thu nhập một tháng từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng Thời gian làm việc một ngày từ 8 tiếng đến 12 tiếng Với vị trí công việc hiện tại chị Hảo đã có thu nhập
ổn định ở mức có thể chăm sóc, nuôi dưỡng hai con và trang trải cho cuộc sống gia đình
Thứ hai, về điều kiện chỗ ở: Mặc dù chị Hảo chưa có nhà riêng nhưng nhà mẹ đẻ
chị Hảo đồng ý cho mẹ con chị Hảo ở cùng trong thời gian dài
Thứ ba, về điều kiện chăm sóc và môi trường sống: Khi hai cháu ở với mẹ, hai
cháu sẽ được chăm sóc một cách tốt nhất, được hưởng sự quan tâm, chăm sóc từ cả ông
bà ngoại và mẹ Ông bà ngoại nuôi chị Hảo nên người, chị Hảo chưa có điều tiếng gì từ
họ hàng, hàng xóm về đạo đức cũng như trách nhiệm của chị tại nơi sinh sống Điều này cũng đã được anh Quyết (là anh trai của anh Nguyệt) xác nhận tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2016, BL 82: “Chị Hảo cũng là người chịu thương, chịu khó làm ăn vun vén cho gia đình” Ngoài ra, mẹ đẻ chị Hảo có thời gian giúp chị Hảo chăm sóc, đưa đón cháu Đức Anh đi học khi chị Hảo bận Vì vậy, ông bà ngoại và chị Hảo sẽ chăm sóc cho hai cháu tốt hơn ai hết
Vì vậy, việc giao hai cháu cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với với tâm lý của trẻ nhỏ và tình cảm đặc biệt thiêng liêng giữa mẹ và con Đồng thời, điều đó cũng phù hợp với quy định tại Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: “Bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” và quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ,
hỗ trợ trẻ em ; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ”.
3 Về tài sản chung
Chị Nguyễn Thị Hảo xác nhận vợ chồng chị có những tài sản chung như sau:
Một là, 01 mảnh đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông
Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 Thửa đất số 469, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ thửa đất tại xã Thương Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương; Số vào số cấp GCN QSDĐ: H497
Trang 11Hai là, tài sản trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3
Ba là, 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu dân cứ số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Thời hạn thuê khoán từ tháng 01/2013 đến hết tháng 12/2016 Mỗi năm phải nộp 1.637.000 đồng
Tuy nhiên, thân chủ của tôi chỉ yêu cầu chia một nửa diện tích đất thuộc thửa đất
số 469, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ thửa đất tại xã Thương Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương; Số vào số cấp GCN QSDĐ: H497
và xin được lấy phần không có tài sản Tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xác định đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Hảo và anh Nguyệt và chấp thuận yêu cầu chia đất của chị Hảo vì những lý do sau:
Thứ nhất, về nguồn gốc sử dụng đất: Mảnh đất trên được bố mẹ của anh Nguyệt
nộp tiền mua đất của UBND xã Thượng Đạt năm 1991 Đến năm 1999, vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo được ra ở riêng trên mảnh đất đó, cải tạo đất và xây dựng nhà cùng với các công trình khác trên đất Trong toàn bộ hồ sơ vụ án đều thể hiện việc các thành viên trong gia đình là ông Cang và bà Thoa (bố mẹ anh Nguyệt), anh Nguyễn Văn Quyết và anh Nguyễn Văn Cương (anh trai anh Nguyệt), anh Nguyễn Văn Chuyển (em trai anh Nguyệt) đồng ý cho chị Hảo và anh Nguyệt quyền sử dụng mảnh đất đó Kể từ khi chị Hảo và anh Nguyệt ra ở riêng trên mảnh đất đó và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thành viên trong gia đình không có ai có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì
về nhà đất của hai vợ chồng (BL 86)
Thứ hai, việc UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hai vợ chồng chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyệt Văn Nguyệt là hoàn toàn hợp pháp với những lý do sau:
- Tại Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường - UBND thành phố Hải Dương (BL 133-134) đã xác nhận việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa số 496 nói trên cho anh Nguyệt và chị Hảo dựa theo Quyết định số 563/2002/QĐ-UB ngày 01/11/2001 của Phòng tài chính kế hoạch huyện Nam Sách về việc xử lý giao đất trái thẩm quyền cho 30 hộ gia đình, cá nhân với 5.387m2 theo Quyết định số 2689/QĐ-UB ngày 25/11/2001 của UBND tỉnh Hải Dương Căn cứ quyết định trên, UBND xã Thượng Đạt đã lập danh sách 30 hộ gia đình và được UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đồng loạt Việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho chị Hảo và anh Nguyệt là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật đất đai và tính đến nay đã được 10 năm nhưng gia đình ông Cang và bà Thoa đều