1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thu hoạch hồ sơ dân sự 07 tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản nguyễn thị hảo nguyễn văn nguyệt

11 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 229,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ SƠ TÌNH HUỐNG MÃ SỐ: 07 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hảo Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt I.TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN1. Các đương sự trong vụ án Nguyên đơn:Bà Hoàng Thị Hảo (một số văn bản ghi Nguyễn Thị Hảo), sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Bị đơn:Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:+ Ông Nguyễn Văn Cang, bà Nguyễn Thị Thoa: Bố, mẹ của anh Nguyệt.+ Ông Vũ Kim Quang: Đại diện theo ủy quyền Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Dương, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương.+ Bà Hoàng Thị Thu Hà: Đại diện theo ủy quyền Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Dương, chức vụ: Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương.+ Ông Nguyễn Văn Hiếu đại diện theo ủy quyền của Ngân Hàng Nông nghiệp phát triển và nông thôn chi nhánh Hải Dương.+ Cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh. Người làm chứng:+ Ông Nguyễn Văn Bích – Địa chính Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt.+ Ông Tự – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt.+ Ông Nguyễn Xuân Chuyển (Nguyễn Văn Chuyển) em trai anh Nguyễn Văn Nguyệt.+ Ông Nguyễn Văn Giới thợ xây nhà anh Nguyệt chị Hảo.+ Ông Đỗ Văn Tỏ thợ xây nhà anh Nguyệt chị Hảo.+ Ông Đỗ Văn Tạo thợ xây nhà anh Nguyệt Chị Hảo.2. Tóm tắt nội dung tranh chấpNgày 2631999, Chị Hoàng Thị Hảo (Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) và anh Nguyễn Văn Nguyệt (Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện sau một thời gian tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương.Từ cuối 2014 đến nay cả hai đã ly thân vì phát sinh mâu thuẫn, không hợp tính nhau, tình cảm không còn không thể hàn gắn được nữa, không ai quan tâm chăm sóc ai, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Chính vì lẽ đó, ngày 0212016 bà Hoàng Thị Hảo viết đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.Về quan hệ vợ chồng: Yêu cầu ly hôn với chồng là anh Nguyễn Văn NguyệtVề con chung: Trong thời kì hôn nhân, ông Nguyệt và bà Hảo có với nhau 02 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04012000) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13062007).Ông Nguyệt đề nghị được nuôi cả hai cháu. Riêng cháu Nguyễn Đức Anh xin được ở với ông Nguyệt, không yêu cầu bà Hảo phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì bà Hảo không đủ điều kiện để nuôi con, không cho cháu Nhi đi học cấp 3. Bà Hảo đề nghị xin được nuôi cả 2 cháu và không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng tiền nuôi con chung.Về tài sản chung: Yêu cầu chia tài sản chung, khi ly hôn yêu cầu chia đôi nhà, đất. Cụ thể là, thửa đất số 496, diện tích: 216m2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên cả hai vợ chồng từ năm 2005.Sau các phiên hòa giải, biên bản lấy lời khai và phiên họp kiểm tra, giao nộp và tiếp cận chứng cứ, các bên thống nhất và không thống nhất các vấn đề sau:Đối với quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt và bà Hảo đều xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, cả hai thống nhất ly hôn;Đối với con chung: + Ý kiến nguyên đơn: được nuôi cả hai con, không yêu cầu cấp dưỡng.+ Ý kiến của bị đơn: bị đơn đề nghị nguyên đơn nuôi cháu Nhi, bị đơn nuôi cháu Đức Anh, không ai cấp dưỡng cho ai.Đối với tài sản chung:+ Về mảnh đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương đã được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp GCNQSDD cho bà Hảo và ông Nguyệt vào ngày 31122005, có số vào sổ H497: Nguyên đơn yêu cầu chia đôi, không đồng ý yêu cầu hủy GCN QSDĐ của Bị đơn, Bị đơn không đồng ý đất này là tài sản chung nên không đồng ý chia, đồng thời yêu cầu hủy GCNQSDD đứng tên ông Nguyệt và bà Hảo. + Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Thoa đề nghị hủy GCN QSDĐ, đại diện UBND thành phố Hải Dương từ chối yêu cầu hủy GCN QSDĐ nêu trên.+ Nguyên đơn và Bị đơn thống nhất về giá trị tài sản và không yêu cầu Tòa án định giá tài sản (BL 162);+ Hợp đồng thầu khoán 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP. Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời hạn thuê khoán từ tháng 012013 đến hết tháng 122016: ông Nguyệt và bà Hảo đã làm đơn đề nghị Tòa Án không giải quyết về tài sản này;+ Khoản nợ chung 30.000.000 VNĐ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương: Ông Nguyệt và Bà Hảo thống nhất mỗi người sẽ trả cho ngân hàng 5.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

MÔN: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT

CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ

HỒ SƠ TÌNH HUỐNG MÃ SỐ: 07

TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hảo

Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt

HỌ VÀ TÊN:

Ngày sinh:

SBD:

LỚP:

TP.HỒ CHÍ MINH, năm 2022

B3.TH2 – DA1/HNGĐ

Trang 2

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

Hồ sơ số: LS.DS 07/B3.TH2_DA1/HNGĐ

Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Các đương sự trong vụ án

- Nguyên đơn:

Bà Hoàng Thị Hảo (một số văn bản ghi Nguyễn Thị Hảo), sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

- Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn Cang, bà Nguyễn Thị Thoa: Bố, mẹ của anh Nguyệt

+ Ông Vũ Kim Quang: Đại diện theo ủy quyền Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Dương, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương + Bà Hoàng Thị Thu Hà: Đại diện theo ủy quyền Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Dương, chức vụ: Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương

+ Ông Nguyễn Văn Hiếu - đại diện theo ủy quyền của Ngân Hàng Nông nghiệp phát triển và nông thôn - chi nhánh Hải Dương

+ Cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn Bích – Địa chính Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt

+ Ông Tự – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt

+ Ông Nguyễn Xuân Chuyển (Nguyễn Văn Chuyển) - em trai anh Nguyễn Văn Nguyệt

+ Ông Nguyễn Văn Giới - thợ xây nhà anh Nguyệt chị Hảo

+ Ông Đỗ Văn Tỏ - thợ xây nhà anh Nguyệt chị Hảo

+ Ông Đỗ Văn Tạo - thợ xây nhà anh Nguyệt Chị Hảo

Trang 3

2 Tóm tắt nội dung tranh chấp

Ngày 26/3/1999, Chị Hoàng Thị Hảo (Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) và anh Nguyễn Văn Nguyệt (Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện sau một thời gian tìm hiểu

và có đăng ký kết hôn tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương

Từ cuối 2014 đến nay cả hai đã ly thân vì phát sinh mâu thuẫn, không hợp tính nhau, tình cảm không còn không thể hàn gắn được nữa, không ai quan tâm chăm sóc ai, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

Chính vì lẽ đó, ngày 02/1/2016 bà Hoàng Thị Hảo viết đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa

án nhân dân thành phố Hải Dương

Về quan hệ vợ chồng:

Yêu cầu ly hôn với chồng là anh Nguyễn Văn Nguyệt

Về con chung:

Trong thời kì hôn nhân, ông Nguyệt và bà Hảo có với nhau 02 người con chung

là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007)

Ông Nguyệt đề nghị được nuôi cả hai cháu Riêng cháu Nguyễn Đức Anh xin được ở với ông Nguyệt, không yêu cầu bà Hảo phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì bà Hảo không đủ điều kiện để nuôi con, không cho cháu Nhi đi học cấp 3 Bà Hảo đề nghị xin được nuôi cả 2 cháu và không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng tiền nuôi con chung

Về tài sản chung: Yêu cầu chia tài sản chung, khi ly hôn yêu cầu chia đôi nhà,

đất Cụ thể là, thửa đất số 496, diện tích: 216m2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên cả hai vợ chồng từ năm 2005

Sau các phiên hòa giải, biên bản lấy lời khai và phiên họp kiểm tra, giao nộp và tiếp cận chứng cứ, các bên thống nhất và không thống nhất các vấn đề sau:

 Đối với quan hệ hôn nhân: ông Nguyệt và bà Hảo đều xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, cả hai thống nhất ly hôn;

 Đối với con chung:

+ Ý kiến nguyên đơn: được nuôi cả hai con, không yêu cầu cấp dưỡng

+ Ý kiến của bị đơn: bị đơn đề nghị nguyên đơn nuôi cháu Nhi, bị đơn nuôi cháu Đức Anh, không ai cấp dưỡng cho ai

 Đối với tài sản chung:

Trang 4

+ Về mảnh đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương đã được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp GCNQSDD cho bà Hảo và ông Nguyệt vào ngày 31/12/2005, có số vào sổ H497: Nguyên đơn yêu cầu chia đôi, không đồng ý yêu cầu hủy GCN QSDĐ của Bị đơn, Bị đơn không đồng ý đất này là tài sản chung nên không đồng ý chia, đồng thời yêu cầu hủy GCNQSDD đứng tên ông Nguyệt và bà Hảo

+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Thoa đề nghị hủy GCN QSDĐ, đại diện UBND thành phố Hải Dương từ chối yêu cầu hủy GCN QSDĐ nêu trên

+ Nguyên đơn và Bị đơn thống nhất về giá trị tài sản và không yêu cầu Tòa án định giá tài sản (BL 162);

+ Hợp đồng thầu khoán 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại Bãi Nam, khu dân

cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời hạn thuê khoán từ tháng 01/2013 đến hết tháng 12/2016: ông Nguyệt và bà Hảo đã làm đơn đề nghị Tòa Án không giải quyết về tài sản này;

+ Khoản nợ chung 30.000.000 VNĐ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương: Ông Nguyệt và

Bà Hảo thống nhất mỗi người sẽ trả cho ngân hàng 5.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh

Những tài liệu và chứng cứ chứng minh kèm theo:

 1 bản sao giấy chứng nhận đăng kí kết hôn

 1 bản sao giấy khai sinh của cháu Nguyễn Đức Anh

 1 bản sao giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi

 1 bản sao hộ khẩu

 1 đơn đề nghị của cháu Nhi

 1 đơn đề nghị của cháu Anh

 1 Biên bản lấy lời khai của bà Thoa

 1 biên bản xác minh của cán bộ địa chính

1 Quan hệ pháp luật tranh chấp:

Trang 5

Trong vụ án này, quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn và được quy định trong Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2 Đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn:

Bà Hoàng Thị Hảo (một số văn bản ghi Nguyễn Thị Hảo), sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn Cang, bà Nguyễn Thị Thoa: Bố, mẹ của anh Nguyệt

+ Ông Vũ Kim Quang: Đại diện theo ủy quyền Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Dương, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương + Bà Hoàng Thị Thu Hà: Đại diện theo ủy quyền Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Dương, chức vụ: Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương

+ Ông Nguyễn Văn Hiếu - đại diện theo ủy quyền của Ngân Hàng Nông nghiệp phát triển và nông thôn - chi nhánh Hải Dương

+ Cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh

Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn Bích – Địa chính Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt

+ Ông Tự – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt

+ Ông Nguyễn Xuân Chuyển (Nguyễn Văn Chuyển) - em trai anh Nguyễn Văn Nguyệt

+ Ông Nguyễn Văn Giới - thợ xây nhà anh Nguyệt chị Hảo

+ Ông Đỗ Văn Tỏ - thợ xây nhà anh Nguyệt chị Hảo

+ Ông Đỗ Văn Tạo - thợ xây nhà anh Nguyệt Chị Hảo

3 Thời hiệu khởi kiện:

Quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định ở đây là quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản Theo quy định tại Khoản 1, Điều 155 Bộ luật dân

sự 2015, các vấn đề liên quan đến quyền dân sự về nhân thân không áp dụng thời hiệu

Trang 6

khởi kiện Căn cứ theo Khoản 1, Điều 39 Bộ luật dân sự 2015 thì quyền ly hôn là quyền nhân thân Ngoài ra, theo quy định pháp luật thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Do đó, không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án này

4 Thẩm quyền Tòa án:

 Thẩm quyền chung:

 Đây là tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS

 Thẩm quyền theo cấp xét xử:

 Cấp sơ thẩm:

 Trong trường hợp thông thường: do Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS

 Trong trường hợp cần thiết mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể tự mình lấy lên hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện thì thẩm quyền xét xử thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp tỉnh

 Cấp phúc thẩm:

 Khi có kháng cáo hoặc kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm thì Tòa án cấp trên trực tiếp của cấp sơ thẩm sẽ có thẩm quyền xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 270 BLTTDS

 Thẩm quyền theo lãnh thổ:

 Căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì trong trường hợp thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định là Toà án nhân dân nơi bị đơn cư trú Như vậy, bị đơn có địa chỉ ở Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương nên Tòa án

có thẩm quyền giải quyết là Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Vì vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương có thẩm quyền thụ lý vụ án

5 Thủ tục “tiền Tố tụng”:

Quan hệ pháp luật tranh chấp đã xác định thì đây là quan hệ pháp luật tranh chấp

ly hôn, nuôi con, chia tài sản Theo quy định tại Điều 52 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu

ly hôn Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở

Trang 7

Theo quy định trên, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tiến hành hòa giải là hoàn toàn phù hợp

6 Đánh giá chứng cứ của các đương sự

Đối với chứng cứ là tài liệu có thể đọc được, nhìn được: chưa phải là bản gốc hoặc bản sao có công chứng, hồ sơ chưa thể hiện Tòa án có sự đối chiếu với bản gốc.

Đối với việc triệu tập người làm chứng, thủ tục triệu tập chưa hợp lý (còn thiếu giấy triệu tập và xác định tư cách đương sự khác nhau giữa các văn bản).

7 Văn bản pháp luật áp dụng:

 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

 Luật Hôn nhân gia đình 2014

 Nghị định 126/2014 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình 2014

 Luật đất đai 2003

III KẾ HOẠCH HỎI

1 Hỏi Nguyên đơn:

(1) Kể từ ngày đăng ký kết hôn hợp pháp, trong khoảng thời gian chung sống tình trạng quan hệ vợ chồng là như nào?

(2) Những mâu thuẫn phát sinh trong cuộc hôn nhân giữa bà và ông Nguyệt là gì?

(3) Trong lúc xảy ra mâu thuẫn, ông Nguyệt có sử dụng vũ lực hay hành vi nào khác tương tự hay không?

(4) Thời điểm hiện tại bà có đang nuôi dưỡng các con không? Mong muốn của

bà đối với việc nuôi các con là như thế nào?

(5) Nghề nghiệp và mức thu nhập trung bình trong 3 tháng gần nhất là bao nhiều?

(6) Bà cho biết nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1 tọa lạc tại Xã Thượng Đạt, Huyện Nam Sách, TP Hải Dương? Trong quá trình tạo lập tài sản, bà

có đóng góp gì hay không?

(7) Việc bà và ông Nguyệt được UBND huyện Nam Sách cấp GNCQSDĐ đứng tên bà và ông Nguyệt vào ngày 31/12/2005 thì bố mẹ và anh em của Nguyệt có biết không? Có ý kiến gì về vấn đề này hay không?

Trang 8

(8) Vợ chồng ông bà đã thế chấp tài sản là GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 để vay vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đúng không? Mục đích vay vốn là gì?

(9) Hợp đồng thuê khoán đất ruộng ao tại Bãi Nam, khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương với UBND xã Thượng Đạt bà có tham gia ký kết hay không?

2 Hỏi Bị đơn:

(1) Trong quá trình sinh sống, vợ chồng đã phát sinh những mâu thuẫn như thế

nào?

(2) Hiện các ông có đang nuôi con không?

(3) Ông giải thích vì sao lại ngăn cản bà Hảo gặp cháu Nguyễn Đức Anh?

(4) Nghề nghiệp hiện tại của ông là gì? Mức thu nhập trung bình 6 tháng gần

nhất là bao nhiêu?

(5) Nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1 tọa lạc tại Xã Thượng Đạt,

Huyện Nam Sách, TP Hải Dương được hình thành như thế nào?

(6) Bố mẹ ông chỉ cho ông và bà Hảo xây dựng nhà ở và tài sản trên thửa đất

496, ông hãy trình bày về việc này?

(7) Ông có làm đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 không? Từ khi

UBND Huyện Nam Sách cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông đến nay, bố

mẹ và anh em ông có ý kiến gì về việc này hay không?

(8) Vì sao lúc cấp GCNQSDĐ ông biết UBND huyện Nam Sách cấp

GCNQSDĐ cho vợ chồng ông là trái pháp luật nhưng ông không làm đơn khiếu nại, yêu cầu hủy bỏ GCNQSDĐ ngay tại thời điểm đó mà tới bây giờ mới có ý kiến?

(9) Vợ chồng đã dùng GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 để làm tài sản thế chấp

vay vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông đúng không? Mục đích vay vốn là gì?

3 Hỏi Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Hỏi bà Nguyễn Thị Thoa (mẹ ông Nguyệt)

(1) Về mẫu thuẫn giữa ông Nguyệt và bà Hảo trong quá trình chung sống, bà và gia đình có biết hay không?

(2) Căn cứ vào đâu mà bà xác định rằng thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1 là của ông bà?

Trang 9

(3) Khi ông Nguyệt và bà Hảo xây nhà trên thửa đất 496 thì vợ chồng ông bà

và gia đình đã có ý kiến như nào về việc này?

(4) Về sự kiện ông Nguyệt và bà Hảo được cấp GCNQSDĐ tại thửa đất 496, bà

và gia đình có biết về việc này hay không?

Hỏi UBND Huyện Nam Sách (nay là UBND TP Hải Dương)

(1) Căn cứ nào để UBND Huyện Nam Sách cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông Nguyệt và bà Hảo đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 1 tại xã Thượng Đạt, Huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương?

(2) Trong quá trình sử dụng, sinh sống trên thửa đất 496, ông Nguyệt bà Hảo

có xảy ra sự kiện tranh chấp với các cá nhân, tổ chức khác về thửa đất hay không?

IV.Bản luận cứ bảo vệ Nguyên đơn:

Kính thưa HĐXX.

Kính thưa vị đại diện VKS, vị luật sư đồng nghiệp.

Tôi là Luật sư ABC, thuộc Đoàn Luật sư TPHCM, hiện đang công tác tại Công

ty Luật TNHH A Được sự chấp thuận của TAND Thành phố Hải Dương để tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trong vụ án dân sự “Tranh chấp về

ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”

Tại phiên tòa hôm nay tôi xin trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo trong vụ kiện tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn như sau:

Về quan hệ vợ chồng, bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt có

đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, TP Hải Dương vào ngày 26/03/1999 và

cả hai vợ chồng chung sống với nhau tại nhà của bố mẹ anh Nguyệt là bà Thoa, ông Cang Một thời gian sau cả hai vợ chồng dọn ra ở riêng tại căn nhà và đất hiện nay Trong thời gian chung sống, ông Nguyệt và bà Hảo có với nhau 02 người con chung

là cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh Cả hai chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn Nguyên nhân chính dẫn đến việc này là do không hợp về lối sống, quan điểm bất đồng dẫn đến cãi nhau và hoàn toàn không thể hàn gắn được Cuối 2014, bà Hảo dọn ra ở riêng và từ thời điểm đó đến nay cả hai đã

ly thân với nhau Nay, bà Hảo đã xác định rằng tình cảm vợ chồng đã hết, không thể hàn gắn lại được Do vậ, bà Hảo đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án để được ly hôn một cách hợp pháp với ông Nguyệt Qua các Biên bản hòa giải 19/05/2016, ngày 17/06/2016 và ngày 12/07/2016 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thì

cả hai đã đồng ý thuận tình ly hôn

Trang 10

Vì vậy, căn cứ theo quy định Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, đề nghị Quý tòa công nhận thuận tình ly hôn cho bà Hảo và ông Nguyệt với các lý do hợp pháp nêu trên.

Về việc nuôi dưỡng con chung, bà Hảo có mong muốn xin được quyền nuôi

cả hai cháu khi ly hôn và không yêu cầu ông Nguyệt thực hiện bất kỳ nghĩa vụ cấp dưỡng nào trong việc nuôi con Hiện tại bà Hảo làm công nhân tại Công ty Trấn An, thu nhập trung bình là 5.000.000 đồng/ tháng, thời gian làm việc từ 8 tiếng/ngày và sinh sống tại nhà mẹ ruột bà Hảo Thêm vào đó, mẹ ruột bà Hảo có đầy đủ các điều kiện về kinh tế, môi trường giáo dục, chỗ ở và thời gian để giúp bà Hảo trong việc nuôi dạy, chăm sóc hai cháu Do đó, xét về điều kiện phát triển toàn diện cho trẻ nhỏ, thì điều kiện bà Hảo đáp ứng để hai cháu có thể tiếp cận được sự giáo dục tốt nhất giúp các cháu trở thành người có ích cho xã hội Đồng thời, cháu Nhi và cháu Anh cũng có đơn đề nghị xin được ở với mẹ là Nguyễn Thị Hảo nếu bố mẹ không chung sống với nhau nữa

Với những lý do nêu trên, cộng với việc hai cháu đã có nguyện vọng được ở với Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình kính mong quý Tòa xem xét và chấp nhận để bà Hảo là người trực tiếp nuôi cả hai cháu.

Về quan hệ tài sản:

 Về thửa đất số 496, Tờ bản đồ số 01 diện tích 216 m2:

Thửa đất này là do gia đình ông Nguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt những năm 1994-1995 Năm 1999, sau khi ông Nguyệt và bà Hảo kết hôn, thì vợ chồng ra làm nhà và công trình phụ trên đất và dọn ra ở luôn đây vào tháng 8/1999 Chỉ có mẹ ông Nguyệt nói với các con trong gia đình là thửa đất ông bà đang sử dụng được chia làm ba phần cho ông Quyết, bà Tuyết và ông chú Chuyển ông Quyết và ông chú Chuyển phải thêm vào mua cho ông Nguyệt thửa đất mà vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo đang sử dụng Ông Cương đã có thửa đất khác và ra ở riêng không ai phải có trách nhiệm gì Khi làm nhà, vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo cũng phải thuê người đổ thêm đất vào nền nhà, nền bếp thì mới được như hiện nay Bà Hảo không nhớ số tiền

đã đổ đất thêm vào là bao nhiêu Sau khi ra ở trên nhà đất, vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo còn tiếp tục đổ thêm đất, cát tôn tạo đất cho cao lên Mỗi năm làm một ít nên bà Hảo không nhớ được đã đổ bao nhiêu khối lượng đất cát Khi nhà hàng xóm là ông Tạo đào ao, đã hút bùn đổ vào đất nhà bà Hảo một lượng rất nhiều nên có được mặt đất tương đối cao như hiện nay Nay bà Hảo đề nghị được chia ½ diện tích trên và tự nguyện nhận phần đất không có tài sản, không yêu cầu ông Nguyệt trả chênh lệch về tài sản nếu có Do thửa đất này đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên của ông Nguyệt và bà Hảo sau khi kết hôn Vì thế, đây được xem là tài sản chung của vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình

Vì vậy, việc bà Hảo xin đề nghị chia đôi phần diện tích thửa đất là tài sản chung của vợ chồng nêu trên, lấy phần diện tích đất trống để thực hiện việc xây dựng

Ngày đăng: 28/09/2022, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w