Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: Nguyễn Tuân luôn có ý thức tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo, thể hiện thái độ ngông trong văn chương, thái độ được tạo ra bởi sự tài hoa uyên
Trang 11 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
BÀI GI ẢNG:
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Nguyễn Tuân
I Tác giả:
1 Đặc điểm con người:
- Là một nghệ sĩ có cá tính độc đáo, có ý thức cá nhân sâu sắc Ông sáng tạo văn chương trước hết là để khoe tài, để khẳng định cái tôi
- Là con người tài hoa, uyên bác Ông có vốn sống phong phú, am hiểu nhiều ngành văn hoá, nhiều bộ môn nghệ thuật Ông thường vận dụng con mắt và thủ pháp của hội hoạ, điện ảnh, điêu khắc, âm nhạc, vào việc sáng tạo văn chương
- Là một trí thức yêu nước, giàu tinh thần dân tộc Ông cũng là nhà văn rất quý trọng nghề viết và là mẫu mực của tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc
2 S ự nghiệp sáng tác:
- Trước 1945: Sáng tác của Nguyễn Tuân tập trung vào ba đề tài chính
+ Đề tài chủ nghĩa xê dịch:
Viết về bước chân của cái tôi lãng tử qua những miền quê Đó là những trang viết tài hoa, trìu mến ghi lại những cảnh sắc thiên nhiên, phong vị đất nước, những cảnh sinh hoạt độc đáo của các vùng đất nước
Tác phẩm: Một chuyến đi (1938), Thiếu quê hương (1940)
+ Đề tài “vẻ đẹp vang bóng một thời”:
Viết về những vẻ đẹp còn vương sót lại của một thời đã lùi vào dĩ vãng gắn với lớp nho sĩ cuối mùa đã trở nên lạc lõng với thời hiện tại Đó là những thói quen phong lưu,
những kiểu ăn chơi cầu kì, đài các, những thú tiêu dao lành mạnh, tao nhã, những cách ứng
xử nghi lễ, nhịp nhàng Những trang viết thấm đượm tinh thần dân tộc, thể hiện khát vọng vượt lên môi trường sông dung tục, bộc lộ niềm say mê cái tài, cái đẹp, trân trọng những giá trị văn hoá cổ truyền
Tác phẩm: Vang bóng một thời (1940), Tóc chị Hoài (1943)
+ Đề tài đời sống truỵ lạc:
Ghi lại quãng đời do hoang mang bê tắc, con người đã tìm cách thoát li trong rượu, thuốc phiện và đàn hát cô đầu, qua đó làm hiện lên tâm trạng khủng hoảng và lối sống buông
thả, vô trách nhiệm của một bộ phận thanh niên đương thời, cũng đồng thời cho thấy niềm khao khát thoát ra khỏi tình trạng đó, hưổng tới thế giới tinh thần cao khiết của nghệ thuật
Tác phẩm: Chiếc lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc
- Sau 1945: Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến, trở thành nhà văn công dân, nhà văn chiến sĩ Sáng tác của ông tập trung ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu và lao động sản xuất Nguyễn Tuân phản ánh vẻ đẹp của người Việt Nam
anh dũng và tài hoa trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại (Tình chiến dịch - 1950, Hà
Trang 22 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
N ội ta đánh Mĩ giỏi - 1972); ông cũng ca ngợi con người Việt Nam cần cù, tài hoa trong
công cuộc lao động xây dựng đất nước (Sông Đà - 1960)
Ngoài kí, tùy bút, Nguyễn Tuân còn viết tiểu luận phê bình và chân dung văn học với những phát hiện sâu sắc, độc đáo
3 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:
a Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân:
Nguyễn Tuân luôn có ý thức tạo cho mình một phong cách riêng độc đáo, thể hiện thái
độ ngông trong văn chương, thái độ được tạo ra bởi sự tài hoa uyên bác và nhân cách khác người, hơn người
- Văn Nguyễn Tuân thể hiện rõ chất tài hoa - uyên bác: tài hoa trong việc dựng
người, vẽ cảnh, trong những liên tưởng, so sánh táo bạo, bất ngờ, thú vị với những hình ảnh đẹp, gợi cảm; uyên bác trong việc vận dụng những kiến thức thuộc nhiều ngành khác nhau đê quan sát hiện thực, sáng tạo hình tượng, làm phong phú và giàu có hơn khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương, đem đến cho người đọc một lượng tri thức đa dạng, phong phú
- Là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân thường quan sát, khám
phá, di ễn tả thế giới ở phương diện văn hoá, thẩm mĩ; quan sát, khám phá, diễn tả con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ:
+ Trước 1945, Nguyễn Tuân tìm kiếm cái đẹp chỉ còn trong quá khứ vang bóng một thời; tài hoa nghệ sĩ cũng chỉ có trong những con người xuất chúng, đặc tuyển, lạc lõng bơ
vơ giữa hiện tại Đó là những con người siêu phàm, đặc biệt như : một đao phủ nghệ sĩ, một hành khất nghệ sĩ, một tử tù nghệ sĩ
+ Sau 1945, Nguyễn Tuân tìm thấy cái đẹp trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai; chất tài hoa nghệ sĩ cũng có thể xuất hiện ở những thành tích sản xuất, chiến đấu của những người lao động bình thường trong cuộc sống đời thường như: một anh bộ đội, một người lái
xe, hay một ông lái đò,
- Nguyễn Tuân có cảm hứng đặc biệt với những tính cách phi thường, những
phong c ảnh tuyệt mĩ, những gió bão, thác ghềnh dữ dội Thiên nhiên, con người trong
văn Nguyễn Tuân luôn phi thường, xuất chúng, gây cảm giác mãnh liệt, tất cả đều có xu hướng vươn tới cái tuyệt vời, tuyệt đích Nguyễn Tuân là một tâm hồn nghệ sĩ tha thiết yêu thiên nhiên, ông có những phát hiện tinh tế, độc đáo về thiên nhiên Thiên nhiên trong văn Nguyễn Tuân luôn hiện ra như những công trình mĩ thuật kì vĩ, tuyệt vời của tạo hoá
Nguyễn Tuân có một vị trí và đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của văn học hiện đại, đem đến cho văn xuôi hiện đại một phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác, phóng túng và độc đáo:
+ Cá tính mạnh mẽ, cách sống tự do, phóng túng, ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất yếu Nguyễn Tuân đã đưa thể tuỳ bút lên tới trình độ nghệ thuật cao Ông là người thúc đẩy cho thể tùy bút, bút kí văn học
Trang 33 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
+ Nguyễn Tuân cũng có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật từ cách tổ chức câu văn sáng tạo nhạc điệu, kho từ vựng phong phú cho đến chất văn vừa trang nhã, cổ kính vừa sắc sảo, hiện đại Ông là nhà văn có công lớn trong việc làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc
b Nh ững biến chuyển trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau CMT8:
Quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ
và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con
người xuất chúng
Không đối lập quá khứ với hiện tại Cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại và tương lai;
và tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng
Tìm cảm giác mạnh ở quá khứ vang bóng
một thời, ở chủ nghĩa xê dịch, ở đời sống
trụy lạc, ở thế giới ma quỷ
Tìm những hiện tượng gây cảm giác mạnh ở những phong cảnh đẹp, hùng vĩ của thiên đất nước và ở những thành tích của nhân dân trong chiến đấu và lao động
Sử dụng thể văn tùy bút, thiên về diễn tả
nội tâm của cái tôi chủ quan Vẫn dùng thể văn tùy bút nhưng có pha chất kí với bút pháp hướng ngoại để phản
ánh hiện thực, ghi chép thành tích chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân
II Văn bản:
1 Xuất xứ - hoàn cảnh sáng tác:
- “Người lái đò Sông Đà” là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc, đặc
biệt là chuyến đi thực tế năm 1958
- Đây là một trong 15 bài tùy bút in trong tập Sông Đà (1960) – tập tùy bút cho thấy diện mạo của một Nguyễn Tuân đã căn bản đổi thay, để trở thành một nhà văn mới trong thời đại mới
2 Thể loại: tùy bút
a Th ể loại kí:
Kí văn học là một thể loại lấy sự thật khách quan của đời sống và tính xác thực của đối tượng làm cơ sở để tạo ra giá trị nhận thức, tạo ra sức thuyết phục, sức lay động đối với ngưòi đọc Đặc biệt, người trực tiếp tiếp cận, nghiên cứu cuộc sống, phát hiện vấn đề, tìm tòi
và khái quát ý nghĩa xã hội thẩm mĩ của con người, sự kiện được ghi chép trong tác phẩm là tác giả kí Do hướng tới những phạm vi thông tin và nhận thức đa dạng nên kí cũng đa dạng
về kiểu loại và kết cấu, tiêu biểu như: kí sự, bút kí, phóng sự, hồi kí, nhật kí, tuỳ bút,
b Th ể tùy bút:
- Tuỳ bút thường là tác phẩm văn xuôi tự sự cỡ nhỏ, thuộc thể loại kí
- Tuỳ bút có cấu trúc tự do phóng túng, hầu như không có luật lệ, quy phạm gì chặt chẽ, không bị câu thúc bởi một cốt truyện cụ thể nào Nhà văn biểu thị những ấn tượng và suy nghĩ cá nhân về những sự việc, những vấn đề cụ thể
Trang 44 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
- Tuỳ bút là những tác phẩm mà những phẩm chất riêng, cốt cách riêng của tác giả
luôn n ổi lên trên bình diện thứ nhất
+ Tuỳ bút mang tính chất chủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính lả cái tôi của nhà văn, bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại Sự hấp dẫn của tuỳ bút chính là ở lực hút của cái tôi ấy
+ Trong tuỳ bút, cái tôi của tác giả đa dạng, nên khuôn mặt thể loại ở mỗi tác phẩm cũng có nét độc đáo riêng Có tuỳ bút thiên về triết lí, có tác phẩm thiên về thông tin khoa học (văn hoá, văn học, lịch sử hay phong tục), có loại thuần trữ tình
- Ngôn ngữ của tuỳ bút rất giàu hình ảnh và chất thơ
c Đặc điểm tùy bút Nguyễn Tuân:
- Tuỳ bút của Nguyễn Tuân có nhiều yếu tố truyện Nguyễn Tuân bén duyên với
truyện trước sau đó mói gặp gỡ tuỳ bút Vì vậy, truyện ngắn của ông xen chất tuỳ bút và tuỳ bút lại pha chất truyện ngắn Tuỳ bút của ông thường phát huy sức mạnh của trí tưởng tượng, liên tưởng so sánh để dựng cảnh, dựng truyện, có mô tả tâm lí, khắc hoạ tính cách nhân vật ở một chừng mực nhất định
- Tuỳ bút của Nguyễn Tuân rất đậm tính chất kí Ghi chép sự thật và thông tin thời
sự chính xác, đó là nét riêng của tùy bút Nguyễn Tuân Cũng do quan niệm đi, sống và viết,
xê dịch nên tuỳ bút của ông pha du kí, kí sự hay phóng sự điều tra Chính nét riêng này khiến tuỳ bút của ông có lượng thông tin đáng tin cậy và có nhiều giá trị tư liệu
- Tuỳ bút của Nguyễn Tuân giàu tính trữ tình Những trang tuỳ bút của Nguyễn
Tuân thường nóng hổi cảm xúc, lắng thấm những cảm nghĩ của ông, thông qua cái tôi chủ quan của ông mà phản ánh hiện thực cuộc sống
- Tuỳ bút của Nguyễn Tuân đúng nghĩa tự do về phép tắc Tuỳ bút là một tác phẩm
tự sự có kết cấu lỏng lẻo, nhưng không buông tuồng dễ dãi Ở tuỳ bút của Nguyễn Tuân, mạch văn cứ theo dòng suy nghĩ mà tràn chảy miên man từ chuyện nọ bắt tạt ngang sang chuyện kia Nhà văn cứ chuồi theo hứng bút, cứ nhởn nhơ theo trí nhớ bông lông, cứ chiều theo năng lực cảm thụ cái đẹp rất tài hoa nghệ sĩ của mình mà liên tưởng so sánh, tạo những bước nhảy vọt bất ngờ của ý tứ, của hình ảnh, nhưng không chệch ra ngoài vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật
- Tuỳ bút của Nguyễn Tuân có phẩm chất văn chương qua sự tìm tòi sáng tạo về cách
di ễn ý, tả cảnh, đặt câu, dùng từ Văn tuỳ bút của Nguyễn Tuân là cả một kho tu từ ắp đầy
và thú vị như ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng Nhà văn tả cảnh theo sự thay đổi
cảm giác rất tinh tế “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử hồn nhiên như một nỗi niềm cổ
tích tuổi xưa” (Sông Đà), “Mùa đông năm 1967, da trời Hà Nội thấp thỏm xanh ngắt một niềm cảnh giác” (Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi) Câu văn tuỳ bút Nguyễn Tuân có cấu trúc đa dạng, giàu nhạc tính
3 Bố cục: 2 phần
- Phần 1 (từ đầu đến “họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”): Khắc nổi phẩm chất hung bạo
của Sông Đà và ngợi ca phẩm chất trí dũng, tài hoa của người lái đò
Trang 55 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
- Phần 2 (còn lại): Miêu tả vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà qua đó thể hiện lòng yêu thiên nhiên đất nước của nhà văn
4 Chủ đề:
Qua hình ảnh con Sông Đà hung bạo và thơ mộng, người lái đò giản dị mà anh dũng, tài hoa, Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người vùng Tây Bắc của tổ quốc
5 C ảm hứng chủ đạo:
Nhiệt tình ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi nhân dân của một nhà văn mà trái tim đang tràn đầy niềm hứng khời khi thấy mình đã có đất nước, đã không còn “thiếu quê hương”
I Hình tượng Sông Đà:
Nguyễn Tuân là nhà văn luôn khám phá đời sống từ phương diện văn hóa, thẩm mỹ vì vậy trong tùy bút Người lái đò sông Đà, con sông Đà đã hiện lên như một công trình mỹ thuật tuyệt vời của tạo hóa in đậm bản ngã văn chương của Nguyễn Tuân Sông Đà dưới quyền năng sáng tạo của nhà văn lấp lánh hai nét tính cách: hung bạo và trữ tình Lúc hung bạo, con sông là “thứ kẻ thù số một” của con người Lúc trữ tình, dòng chảy ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ và thân thiết với con người như một “cố nhân”, xa thì nhớ nhung lưu luyến
1 Tính cách hung b ạo – thể hiện qua vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội của Đà giang:
a Hướng chảy độc đáo:
Mở đầu tác phẩm, mượn câu thơ của Nguyễn Quang Bích: “Chúng thủy giai đông tẩu
– Đà giang độc bắc lưu”, Nguyễn Tuân đã giới thiệu cho người đọc tính cách khác thường,
độc đáo của sông Đà: Mọi dòng sông đều chảy về hướng Đông - Chỉ có sông Đà chảy theo
hướng Bắc
b C ảnh đá hai bên bờ sông:
- Sự hùng vĩ và hung dữ của sông Đà trước hết thể hiện ở cảnh đá bờ sông “dựng
vách thành” Chỉ với một hình ảnh “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”, Nguyễn Tuân vừa giúp người đọc hình dung được độ cao của cảnh đá hai bên bờ sông vừa
diễn tả được cái lạnh lẽo, âm u của những khúc sông có đá dựng thành vách Thì ra đá ở hai bên bờ sông đã chắn hết ánh nắng, chúng không cho bất cứ tia nắng nào rọi chiếu xuống mặt sông trừ lúc giữa trưa Bởi thế quãng sông này - ngoài lúc chính ngọ - luôn luôn âm u, lạnh lẽo đến ghê người
- Chưa hết, hiểm trở của sông Đà còn thể hiện ở chỗ “vách đá thành chẹt lòng Sông
Đà như một cái yết hầu” So sánh với một bộ phận nhỏ, hẹp ở cổ họng con người, Nguyễn
Tuân đã diễn tả một cách hình ảnh sự nhỏ hẹp của dòng chảy Và như để tô đậm thêm cho
điều đó, nhà văn đã sử dụng liên tiếp hai hình ảnh so sánh: “đứng bên này bờ nhẹ tay ném
hòn đá qua bên kia vách” và “có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia” Nhà văn không trực tiếp nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng, ở những chỗ đá chẹt lòng sông
Trang 66 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
Đà như “cái yết hầu”, lưu tốc của dòng chảy là rất lớn, nhất là vào mùa nước lũ Đi vào một
khúc sông như thế, không thể không cảm thấy sự nguy hiểm đang rình rập
- Như chưa thoả mãn với sự miêu tả trên, Nguyễn Tuân tiếp tục khắc sâu ấn tượng về
độ cao của những vách đá, sự lạnh lẽo, u tối của đoạn sông và sự nhỏ hẹp của dòng chảy bằng một liên tưởng độc đáo: “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng
th ấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa
sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện” Thật bất ngờ và thú vị khi
nhà văn so sánh cái cảm giác của con người giữa thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với một khoảnh khắc của đời sống hiện đại giữa chốn thị thành Tưởng như xa cách mà lại hoá gần, ai
chưa có dịp được trải nghiệm cái cảm giác “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy” cũng có
thể cảm nhận được điểu đó trong một hiện thực rất gần với mình Cảm nhận ấy lại được thu
về, được tổng hợp từ nhiều giác quan khác nhau (đặc biệt là thị giác và xúc giác) nên sự liên tưởng và đồng cảm với nhà văn càng trở nên rõ nét và sâu sắc Phải là người có óc tưởng tượng sáng tạo và trường liên tưởng phong phú, Nguyễn Tuân mới tạo ra được những đoạn văn độc đáo, thú vị đến vậy
NH ẬN XÉT:
Những câu văn của Nguyễn Tuân liên kết thành một liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ như muốn thôi miên người đọc trong chuỗi liên tưởng tưởng tượng vô tận Tả đá trên sông
Đà, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều giác quan để cảm nhận (thị giác, xúc giác) đồng thời dùng nhiều hình ảnh so sánh để khắc họa tính chất hùng vĩ, dữ dội, hiểm trở của sông Đà
c Quãng m ặt ghềnh Hát Loóng:
- Sự hung bạo của sông Đà tiếp tục được đẩy cao hơn trong đoạn văn miêu tả cảnh mặt ghềnh Hát Loóng Cả đoạn văn thể hiện sự hung dữ của Đà giang ở “quãng mặt ghềnh
Hát Loóng” chỉ có hai câu văn Nhưng bằng sự kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên tính chất hung bạo của sông Đà
- Trước hết, nhà văn đã nhân hoá con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ dữ dằn (“gùn
ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào”) Thủ pháp
điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc (“nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”) lại được hỗ trợ bởi
các thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương, dồn dập như vừa
xô đẩy vừa hợp sức của gió, sóng và đá khiến cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dội Câu văn đang đi những nhịp ngắn bỗng duỗi dài ra theo lối tăng tiến (“nước xô đá, đá
xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt b ất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy”) khiến cho những chuyển vận của
sóng, gió và đá ngày càng lớn, càng bức thúc tạo nên một mối đe doạ thực sự đối với bất cứ người lái đò nào đi qua những ghềnh sông như thế Chẳng phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân
đã hạ một câu văn bình luận trữ tình ngay sau đó: “Quãng này mà khinh suất tay lái thì
cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”
d Nh ững cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát:
Trang 77 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
- Sự hung bạo của sông Đà còn thấy ở những “cái hút nước” chết người Bất cứ ai cũng có thể hình dung ít nhiều về những chỗ nước xoáy xiết trên sông nhưng nó chưa thể độc hiểm bằng những “cái hút nước” mà Nguyễn Tuân đã khắc hoạ trong tác phẩm Bằng so sánh và nhân hoá, bằng kể và tả, bằng những liên tưởng và tưởng tượng bất ngờ, nhà văn đã khiến cho những cái hút nước ấy hiện hình dưới nhiều góc độ khác nhau đồng thời giúp người đọc cảm nhận được tất cả sự ghê gớm và “độc ác” của chúng
- Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, những cái hút nước sông Đà giống như những “cái
giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”; lúc thì “thở và kêu như cửa
c ống cái bị sặc”, khi thì “ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào” Tự bản thân các từ và cụm từ:
th ở, kêu, sặc, ặc ặc lên, rót dầu sôi vào… đã nói lên cường lực ghê gớm của những cái hút
nước
- Nhưng Nguyễn Tuân không đời nào chịu dừng lại ở đó Bằng vốn sống phong phú, bằng trí tưởng tượng sáng tạo, nhà văn đã tô đậm mức độ khủng khiếp của những hút nước qua hàng loạt các so sánh, liên tưởng độc đáo Nhà văn đã ví những con thuyền phải qua những vùng xoáy nước thật nhanh như “ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một
quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực” Nhà văn đã tưởng tượng anh bạn quay phim táo
tợn muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả đã “dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng
tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà - từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải
Th ế rồi thu ảnh” Rõ ràng, những tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau (giao thông, điện ảnh)
đã giúp Nguyễn Tuân có cái nhìn đa chiều về một hiện tượng đồng thời làm cho nó hiện hình
rõ nét và đọng lại ấn tượng đậm nét trong lòng bạn đọc
- Ngoài ra, như để bạn đọc khỏi thoát li thực tế trong những tưởng tượng viển vông, Nguyễn Tuân đã kết hợp tả và kể một cách hiện thực và giàu hình ảnh về những cái thuyền bị
cái hút nước nó hút xuống: “thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi
ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới” Đó là
những hình ảnh đầy chất hiện thực mà bất cứ ai khi đọc đến cũng đều có thể hình dung ra sự
“tàn nhẫn” của những cái hút nước sông Đà Cứ thế tưởng tượng nối tiếp tưởng tượng tài hoa vẫy gọi tài hoa những dòng văn của Nguyễn Tuân một lúc một thêm kì thú
e Nh ững con thác dữ trên Sông Đà:
- Hùng vĩ nhất của sông Đà phải kể đến những cái thác nước mang diện mạo và tâm
địa của “kẻ thù số một của con người” hung bạo bủa vây, chặn bắt thuyền bè qua lại nơi
đây Bằng quyền năng của một nghệ sĩ ngôn từ, Nguyễn Tuân đã bắt cái hùng vĩ ấy phải nổi thành hình, thành khối trên trang giấy và gào lên trong muôn vàn âm thanh phong phú làm nên một dàn giao hưởng hùng tráng của sóng gió xô thác đá
+ Nước thác: gợi cảm giác âm thanh
++ Thoạt đầu là những cung bậc nỉ non, nghe như là “oán trách, rồi lại như là
van xin, r ồi khiêu khích” Tác giả đã nhân hoá, biến quãng sông thành một sinh thể Dưới
Trang 88 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
ngòi bút của Nguyễn Tuân đó là bọn “người – thác” nham hiểm chứ không còn là thiên nhiên
vô cảm nữa
++ Thế rồi âm thanh của nước thác được phóng to hết cỡ như khúc nhạc của thiên
nhiên đang ở điểm đỉnh của cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại “Nó rống lên như tiếng
m ột ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa” Câu văn là
một liên tưởng lạ, bất ngờ mà hợp lí trong sự tương giao giữa sông nước với rừng, với đại ngàn, giữa sông nước với đàn trâu mộng Âm thanh thác nước được động vật hoá thành tiếng gầm của đàn trâu rừng
++ Và cuối cùng là “phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu
da cháy bùng bùng” Liên tưởng này càng lạ càng bất ngờ, càng gây một cảm giác thẩm mĩ rất cao trong sự tương khắc giữa thuỷ với hoả, giữa nước với lửa Dám lấy lửa để tả nước, dám lấy rừng để tả sông, Nguyễn Tuân quả đã chơi ngông trong nghệ thuật Sức mạnh hoang
dã của thiên nhiên qua cách miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động đất, động rừng thời tiền sử Chữ nghĩa của ông như muốn nổi hình, nổi âm lên
+ Sóng thác: Từ chỗ “nghe thấy” tiếng của kẻ thù, đội quân chèo lái con đò dần “nhìn thấy” diện mạo của bọn chúng “ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một
chân trời đá”, “sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền” Bằng lối miêu tả đa dạng, linh hoạt, khi thì tả bao quát lúc thì
vận dụng kiến thức võ thuật và những so sánh cụ thể, Nguyễn Tuân đã gợi lên được vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ đồng thời làm nổi bật cái hung hăng của dòng sông dữ miền Tây Bắc Tổ Quốc
+ Đá thác: Nguyễn Tuân quan sát thật tinh xác trong việc phát huy sức mạnh điêu
khắc của ngôn từ để truyền sự sống cho những hòn đá vô tri trên sông Đà Đá thác được khắc họa rõ nét qua diện mạo và tâm địa Nhà văn đã đem kiến thức quân sự và võ thuật mà xây dựng hình ảnh những tướng đá, quân đá ở sông Đà Và bằng nghệ thuật nhân hoá, nhà văn đã tạo tác nên những sắc diện đá, thái độ, suy nghĩ của từng hình đá khiến chúng trở nên sống động, hiển hiện rõ nét đến lạ lùng
++ Di ện mạo dữ tợn:
“Mặt hòn nào cũng trông ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm, méo mó”
nghệ thuật nhân hóa giúp người đọc nhận ra từng sắc diện của bọn ác thủ trong hình thù
đá vô tri
“Một hòn trông nghiêng thì y như là đang hất hàm cái thuyền phải xưng
tên tu ổi trước khi giao chiến” sức mạnh điêu khắc của ngôn từ đã chạm khắc khiến bọn
người đá hiện lên rõ nét: xấc xược, hỗn hào, rất du côn, rất “anh chị”
++ Tâm địa nham hiểm:
Đá thác của sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả như một đội quân đá ranh mãnh, nham hiểm, lắm mưu kế Nó bày trùng vi thạch trận giao việc rõ ràng cho mỗi hàng tiền vệ, tuyến hai, tuyến ba với lối đánh “khuýp quật vu hồi”, với “những boong ke chìm, pháo đài
n ổi” quyết tiêu diệt tất cả thuyền bè ngay chân thác Bọn đá ngầm làm nhiệm vụ “mai phục”
Trang 99 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
ở dòng sông đến một ngàn năm nay Bọn đá nổi “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền” Các tảng
to, tảng nhỏ được Nguyễn Tuân hình dung như đá tướng, đá quân Cả một chân giời đá được
mô tả như một trận địa với những âm mưu, thủ đoạn và sẵn sàng dìm chết con thuyền
Từ chỗ “nghe thấy” của kẻ thù, đội quân chèo lái con đò dần “nhìn thấy” diện mạo của bọn chúng trong từng thạch trận:
Trùng vi thạch trận thứ nhất: Bọn đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách
thức”; “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền” Đây là cuộc tấn công giữa một bên là đá, là nước, là sóng với một bên
là ông lái đò Con sông Đà ở thế thượng phong như một võ sĩ ra đòn thật hiểm ác quyết tiêu diệt bằng được đối thủ ngay từ những miếng võ đầu tiên
Trùng vi thạch trận thứ hai: thần sông, thần đá đã thay đổi binh pháp và qui
luật phục kích Sông Đà “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh
lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn” Sóng thác không ngớt khiêu khích con người, bọn thì
reo hò cổ vũ Sông Đà không khác gì mụ phù thủy thù địch tìm mọi cách tiêu diệt con người
Trùng vi thạch trận thứ ba: Sông Đà sắp đặt “ít cửa hơn bên phải, bên trái
đều là luồng chết cả”, luồng sống “lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác” Cái xảo
quyệt tàn ác, cái thâm hiểm càng lúc càng bộc lộ rõ càng chứng tỏ con sông Đà hung bạo, tàn
ác không khác gì “kẻ thù số một” của con người Tây Bắc
Câu chữ của Nguyễn Tuân đã bắt sự hung bạo kia phải nổi hằn lên thành hình khối
và réo lên muôn vạn âm thanh Thuỷ quái sông Đà khi ẩn nấp mai phục, khi lừa miếng đánh
du kích, khi quay vòng trở lại theo lối vu hồi, khi xông xáo liều mạng, đánh tới tấp bốn phía; khi như van xin oán trách gì, khi lại khiêu khích thách thức, chế nhạo con người, khi hò la gầm thét vang động cả núi rừng Nhưng bên cạnh sự hung bạo và cả bên trong sự hung bạo,
ta vẫn thấy ở sông Đà một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và hùng vĩ của thiên nhiên, đất nước; có thể nghe thấy trong những đoạn văn ấy âm hưởng của những khúc ca, ca ngợi sức mạnh của tự nhiên thật hoang dại mà cũng thật tự do và khoáng đạt
2 Tính cách tr ữ tình – thể hiện qua vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng của Đà giang khi được nhà văn quan sát và tái hiện từ nhiều góc độ khác nhau:
Sông Đà không chỉ khác thường với những cảnh hùng tráng, kì vĩ mà còn khác thường trong cảnh thơ mộng và cổ kính hoang sơ Ngôn từ của Nguyễn Tuân cũng di động giữa hai cực khi “vẫy gió tuôn mưa”, làm náo động cả trang sách, khi lại êm ái bâng khuâng để họa nên dung nhan của người thiếu nữ Tây Bắc kiều diễm Miêu tả vẻ đẹp trữ tình của dòng sông, nhà văn thay đổi cách viết, ông không tả hay kể lại theo lời kể của ông đò nữa mà viết theo
những cảm xúc tức thời của một du khách, mỗi đoạn văn khi thì bay tạt ngang qua sông Đà, khi thì theo chân anh liên lạc, khi thì ngồi con thuyền êm trôi… là một lần nhà văn phát hiện một vẻ đẹp của con sông
a T ừ trên cao nhìn xuống:
- Nhà văn đã thấy dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều Vóc dáng mềm mại của dòng sông Đà được nhà văn vẽ nên bằng ngôn ngữ văn
Trang 1010 GV: LÊ DUY TÂN – TRƯỜNG THPT GIA ĐỊNH (Tài liệu lưu hành nội bộ)
xuôi giàu cả chất thơ, chất nhạc và chất hoạ: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng
tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Từ đỉnh trời Tây Bắc, áng tóc
mun huyền thoại “dài ngàn ngàn, vạn vạn sải” ấy nối liền những khoảng không gian mênh mông của đất nước Đọc câu văn, ta có cảm giác sông Đà như một cô gái đẹp biết làm
duyên Người con gái ấy có mái tóc “tuôn dài tuôn dài” tưởng chừng như bất tận Trên suối
tóc ấy, thiếu nữ còn biết kín đáo cài lên những bông hoa ban, hoa gạo làm duyên Rõ ràng, sông Đà là một sơn nữ, một mĩ nhân duyên dáng và gợi cảm Nguyễn Tuân không nói “mái
tóc” mà là “áng tóc tr ữ tình” Cách dùng từ đắc địa làm sống dậy trước mắt ta một dòng
sông rất mực duyên dáng, thơ mộng và kiều diễm Sông Đà, ấy còn là một áng thơ giữa đất trời Tây Bắc thơ mộng Với tiết tấu câu văn chậm rãi, thủ pháp trùng điệp, dường như Nguyễn Tuân đang đua tài cùng tạo hoá để miêu tả cho được vẻ đẹp êm đềm, dịu dàng của
Đà giang khúc hạ nguồn
- Phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của dòng sông Nhà văn quả quyết màu nước sông Đà thay đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng Mùa xuân, nước sông
Đà xanh màu “xanh ngọc bích” Để làm nổi bật cái màu xanh tươi sáng, lấp lánh của Đà giang, nhà văn đã phân biệt với màu “xanh canh hến” của nước sông Gâm, sông Lô Mùa thu, nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ” Và đặc biệt, chưa bao giờ con sông lại có màu “đen” như thực dân Pháp đã “đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào” và gọi bằng một cái tên lếu
láo - Sông Đen Bằng sự khẳng định này, Nguyễn Tuân không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của dòng sông mà còn trực tiếp bày tỏ tình cảm yêu mến đối với sông Đà, niềm tự hào về vẻ đẹp của con sông xứ sở
b T ừ xa đến gần:
- “Nhìn Sông Đà như một cố nhân”, Nguyễn Tuân cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông và nhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh
sắc thiên nhiên sông Đà Đó là cái nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu chứa chan sự bùi ngùi tiếc nhớ Đó là cái vui tràn đến, ùa ra thành nhịp điệu: “Bờ sông
Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà” cho thấy tấm lòng trìu mến hoan
hỉ của nhà văn đối với tạo vật Cái vui khiến nhà văn cảm thấy “nắng giòn tan” Nếu cái
nắng tháng 3 Đường thi chứng kiến cuộc chia li giữa đôi bạn Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên
thì cái nắng ở đây dường như tươi sáng hơn, “đầm đầm ấm ấm” hơn vì nó can dự vào cuộc
hội ngộ giữa cố nhân và cố nhân Chất thơ như ngấm vào từng cảnh sắc, một niềm vui thật
huyền diệu “vui như nối lại chiêm bao bị đứt quãng”
c T ừ điểm nhìn của một khách hải hồ, du thuyền trên sông Đà:
Ngồi trên con thuyền trôi trên dòng sông, từ điểm nhìn của một du khách, nhà văn cảm nhận được con sông êm đềm thơ mộng Chính cái không gian êm đềm ấy vừa làm người đọc cảm nhận được dòng chảy hiền hòa ở thời điểm hiện tại, vừa đưa người đọc trôi về một thời đã qua nay còn “vang bóng”, vừa chắp cánh cho tâm hồn vươn tới tương lai
Dòng chảy con sông thời hiện tại: