Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn TuânSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học trong bài đọc hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của Nguyễn Tuân
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN NĂM 2014
Tên sáng kiến:
TÍCH HỢP LIÊN MÔN NGỮ VĂN, LỊCH SỬ, ĐỊA LÍ, VĂN HÓA HỌC, SINH THÁI HỌC
TRONG BÀI ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ( TRÍCH) CỦA NGUYỄN TUÂN.
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Hồng Liên
Đơn vị công tác: Tổ Văn Trường THPT chuyên Lương Văn Tuỵ
Trang 2CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2013- 2014
I TÊN SÁNG KIẾN
Tích hợp liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh
thái học trong bài đọc- hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) của
Nguyễn Tuân.
II TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
Họ tên: Nguyễn Thị Hồng Liên
Chức danh: Giáo viên
Học vị: Cử nhân ngành Ngữ Văn
Địa chỉ: Tổ Văn- Trường THPT chuyên Lương Văn Tuỵ
Hộp thư điện tử: hoahonglien1976@gmail.com
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
Trang 3hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các tình hình thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi
hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương thứcdạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổimới phương pháp dạy học Một trong những đổi mới về phương pháp daỵ họcmôn Ngữ văn hiện nay là chú trọng yêu cầu tích hợp theo đặc trưng thể loại
và tích hợp kiến thức liên môn Theo yêu cầu đổi mới đó, ở mỗi bài khi dạyhọc, giáo viên và học sinh cần chú ý kết hợp cả tri thức, cả kĩ năng về Văn,Tiếng Việt và Làm văn; đặc biệt cần chú ý tới tính đặc trưng về thể loại; đồngthời phải chú ý vận dụng kết hợp kiến thức của các môn học, ngành học khác.Nhưng trong các bài học cụ thể, kể cả sách giáo khoa và sách bài tập Ngữ văncủa học sinh chưa chú ý tới yêu cầu tích hợp này Đó là thiếu sót không chỉ ởmột bài mà ta còn có thể thấy ở nhiều bài trong chương trình Ngữ văn hiệnnay
Trong chương trình Ngữ văn THPT, các bài đọc - hiểu về văn bản tùy bútchiếm số lượng rất ít so với các văn bản thơ, truyện Ở chương trình Ngữ văn
12, học sinh được tìm hiểu hai văn bản: Người lái đò Sông Đà(trích) của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? ( trích) của Hoàng Phủ Ngọc
Tường
Nguyễn Tuân (1910-1987) là cây bút văn xuôi tài hoa độc đáo của nền
văn học Việt Nam hiện đại Ông đặc biệt thành công ở thể loại tuỳ bút, đưa
thể tùy bút, bút kí đạt tới trình độ nghệ thuật cao với những đặc sắc riêng
Người lái đò Sông Đà in trong tập kí Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân Tập
tùy bút này gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Người lái đò
Sông Đà là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông Đà, thể hiện
những nét đặc sắc trong nghệ thuật tùy bút của Nguyễn Tuân Vào những năm1958- 1960, Đảng và nhà nước ta có chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa miền núi Tây Bắc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem lại cho Nguyễn Tuân và nhiều nghệ sĩ đương thời nguồn cảm hứng sáng tạo dạt dào Tác phẩm là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế Tây Bắc năm
1958 Tác phẩm có sức sống lâu bền vì nó không đơn giản minh họa cho một
Trang 4chủ trương, chớnh sỏch mà bộc lộ những cảm xỳc, suy ngẫm của nhà văn về cuộc sống, xó hội, con người; từ một thời mà núi đến được nhiều thời.
Trước đõy, khi hướng dẫn HS tỡm hiểu trớch đoạn tựy bỳt này, vỡ chưachỳ ý tới tớnh đặc trưng về thể loại; đồng thời chưa chỳ ý vận dụng kết hợpkiến thức của cỏc mụn học, ngành học khỏc nờn bản thõn tụi cũng như khụng
ớt đồng nghiệp mới giỳp học sinh nắm được:
- Vài nột về tỏc giả Nguyễn Tuõn và tựy bỳt Người lỏi đũ Sụng Đà
- Vận dụng kiến thức đa ngành, bằng cõu chữ điờu luyện, nghệ thuật nhõnhúa, so sỏnh, mạch liờn tưởng đa chiều tài hoa, uyờn bỏc…, Nguyễn Tuõn đó
làm hiện hỡnh Sụng Đà vừa hung bạo vừa trữ tỡnh Con Sụng Đà dưới ngũi
bỳt Nguyễn Tuõn trở thành một sinh thể vừa hung bạo vừa trữ tỡnh Sông Đà
được nhìn từ nhiều góc độ: Văn hóa, địa lí, lịch sử, văn học trí tưởng tượngphong phú, khả năng quan sát tinh tường bằng nhiều giác quan ; vốn tri thứcrộng, sâu của tác giả về nhiều ngành nghề: quân sự, văn học, thể thao
- Từ đú giỳp học sinh thấy được nột đặc sắc chủ yếu trong nghệ thuật tựybỳt của Nguyễn Tuõn
- Giỏo dục nhõn cỏch cho HS, bồi dưỡng tư tưởng trong sỏng., tỡnh cảmyờu nước, yờu cảnh trớ non sụng gấm vúc Việt Nam
Hạn chế của bài học là qua bài đọc- hiểu một văn bản thuộc thể tựy bỳt,chỳng tụi chưa giỳp HS:
- Biết vận dụng sỏng tạo những kiến thức, kĩ năng đó học vào thực tiễn
cuộc sống, trong nhiều tỡnh huống mà cỏc em sẽ gặp sau này
- Cú những nhận thức sõu sắc về hiện thực cuộc sống, biết yờu, bảo vệ và
chung sống hũa bỡnh với thiờn nhiờn; cú thỏi độ thõn thiện với tự nhiờn, khụngkhai thỏc cạn kiệt dẫn đến tàn phỏ tự nhiờn
- Biết tớch hợp những kiến thức về Ngữ học, Lớ luận văn học, Lịch sử,
Địa lớ, Văn húa học, Sinh thỏi học…khi tỡm hiểu một tỏc phẩm văn chương,kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực khỏc nhau nhằm giải quyết những vấn đềmang tớnh phức hợp
Là một người giỏo viờn đứng trờn bục giảng, khi thiết kế được một giỏo
ỏn hay, tiến hành hoạt động dạy và học thành cụng luụn là một niềm vui,niềm mong ước Ngược lại, một bài nào đú khi soạn giảng chưa tỡm được cỏihay, cỏi đặc sắc, khụng thành cụng thỡ nú sẽ trở thành niềm ỏm ảnh, trăn trởkhụng nguụi Vỡ vậy, bản thõn tụi khụng cho phộp mỡnh chấp nhận một thựctại như thế mà phải tỡm ra giải phỏp để khắc phục Phải đầu tư nghiờn cứu đểbiến một bài dạy khụ khan thành một bài sinh động hấp dẫn
Trang 52 Giải pháp mới cải tiến
2.1.Giáo án dạy học tích hợp đối với một bài học cụ thể là một thử
nghiệm nhằm đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng lí luận dạy họchiện đại vào thực tiễn dạy học bộ môn Ngữ văn, điều này xuất phát từ yêucầu và mục tiêu giáo dục, đào tạo của bộ môn: Hình thành và phát triểnnăng lực cho HS một cách có hiệu quả hơn; kích thích hứng thú học tập,rèn luyện tư duy sáng tạo
Sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn, giữa các môn có liên quan tạothành một thể thống nhất là một xu hướng dạy học đáp ứng yêu cầu phát triểncủa thời đại, hình thành cho HS thói quen tư duy tổng hợp, tư duy liên kết,thói quen nghiên cứu khoa học trong liên kết đó, vận dụng vào thực tiễn ởnhững mức độ, bình diện khác nhau, rèn luyện năng lực giải quyết những vấn
đề phức hợp Giáo án dạy học góp phần gắn lí thuyết với thực hành, kiến thức
với thực tế cuộc sống, tư duy với hành động
2.2 Ở đây, với khuôn khổ có hạn của một tiểu luận, người viết chỉ xin
đề xuất một hướng dạy học có sự tích hợp kiến thức liên môn đối với trích
đoạn tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Theo phân phối chương trình, việc đọc- hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà( trích) được tiến
hành trong hai tiết Tiểu luận này đề xuất hướng tiếp cận văn bản ở tiết 1
GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản, kết hợp phát vấn với giải thích, diễngiảng, trình chiếu Giáo viên tổ chức giờ dạy theo sự kết hợp giữa các phươngpháp: đọc tái hiện, nêu vấn đề, gợi tìm, đàm thoại, trao đổi thảo luận nhón, kếthợp với diễn giảng thuyết trình
Qua bài học, cần giúp HS nắm được những nội dung cơ bản sau:
- Vài nét về tác giả Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đò Sông Đà
- Vận dụng kiến thức đa ngành, bằng câu chữ điêu luyện, nghệ thuậtnhân hóa, so sánh, mạch liên tưởng đa chiều tài hoa, uyên bác…, Nguyễn
Tuân đã làm hiện hình Sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình; có lúc tưởng như mang diện mạo, tâm địa của một thứ kẻ thù số một với con người nhưng thực
ra lại luôn hòa hợp trong mối quan hệ với con người Đồng thời nhà văn bộc
lộ tình yêu tha thiết với thiên nhiên, quê hương, đất nước
- Từ đó học sinh thấy được nét đặc sắc chủ yếu trong nghệ thuật tùy bútcủa Nguyễn Tuân
Trang 6Đồng thời, qua bài đọc- hiểu một văn bản thuộc thể tùy bút, HS sẽ hiểu
về đặc trưng của thể , rèn luyện kĩ năng tìm hiểu một văn bản tùy bút HS biếtvận dụng sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống,trong nhiều tình huống mà các em sẽ gặp sau này
Bên cạnh đó, cần giáo dục nhân cách cho HS, bồi dưỡng tư tưởng trong
sáng., tình cảm yêu nước, yêu cảnh trí non sông gấm vóc Việt Nam Từ bàihọc, giúp HS có những nhận thức sâu sắc về hiện thực cuộc sống, biết yêu,bảo vệ và chung sống hòa bình với thiên nhiên; có thái độ thân thiện với tựnhiên, không khai thác cạn kiệt dẫn đến tàn phá tự nhiên Đặc biệt qua bàihọc, HS phát huy được năng lực vận dụng kiến thức liên môn, tích hợp kiếnthức Ngữ văn, Lí luận văn học, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học
để khám phá chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp của một tác phẩm văn chương, kếthợp tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết những vấn đềmang tính phức hợp
Thiết bị dạy học, học liệu
+ SGK Ngữ văn 12, tập một
+ SGV Ngữ văn 12, tập một
+ Tư liệu tham khảo
+ Thiết kế bài học
+ Thiết kế giáo án điện tử bằng ứng dụng Powerpoint để giảng dạy cho
HS Các tranh ảnh, vedioclip sẽ được chuyển thành file hình ảnh, âm thanh vàtrình chiếu trên phần mềm điện tử
IV HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY
Sau việc đầu tư soạn giảng, cải tiến phương pháp giảng dạy, tôi nhận
thấy bài dạy của mình đã đạt được những kết quả sau:
1 Học sinh hiểu bài, cảm thấy hứng thú thực sự với giờ học Qua tiếthọc, HS nắm được những nội dung cơ bản sau:
+ Vài nét về tác giả Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đò Sông Đà
+ Vận dụng kiến thức đa ngành, bằng câu chữ điêu luyện, nghệ thuậtnhân hóa, so sánh, mạch liên tưởng đa chiều tài hoa, uyên bác…, Nguyễn
Tuân đã làm hiện hình Sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình; có lúc tưởng như mang diện mạo, tâm địa của một thứ kẻ thù số một với con người nhưng thực
Trang 7ra lại luôn hòa hợp trong mối quan hệ với con người Đồng thời nhà văn bộc
lộ tình yêu tha thiết với thiên nhiên, quê hương, đất nước
+ Từ đó học sinh thấy được nét đặc sắc chủ yếu trong nghệ thuật tùy bútcủa Nguyễn Tuân
2 Qua bài đọc- hiểu một văn bản thuộc thể tùy bút, HS sẽ hiểu về đặctrưng của thể , rèn luyện kĩ năng tìm hiểu một văn bản tùy bút HS biết vậndụng sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống, trongnhiều tình huống mà các em sẽ gặp sau này
3 Giáo dục nhân cách cho HS, bồi dưỡng tư tưởng trong sáng., tình cảm
yêu nước, yêu cảnh trí non sông gấm vóc Việt Nam HS có những nhận thứcsâu sắc về hiện thực cuộc sống, biết yêu, bảo vệ và chung sống hòa bình vớithiên nhiên; có thái độ thân thiện với tự nhiên, không khai thác cạn kiệt dẫnđến tàn phá tự nhiên
4 HS phát huy được năng lực vận dụng kiến thức liên môn, tích hợp
kiến thức Ngữ văn, Lí luận văn học, Lịch sử, Địa lí, Văn hóa học, Sinh tháihọc để khám phá chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp của một tác phẩm vănchương, kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết nhữngvấn đề mang tính phức hợp
5.Trong tiết học Tự chọn, GV tổ chứ kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của HS HS đã thực hiện tốtcác bài tập nhằm phát triển năng lực, định hướngnăng lực xã hội, năng lực cá thể, các em đã được trang bị kĩ hơn nhiều kiếnthức về văn học; có khả năng tiếp nhận những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa vềcuộc sống, con người và nghệ thuật; có năng lực, kĩ năng đọc - hiểu các vănbản văn chương Trong các bài kiểm tra, tôi ra đề về trích đoạn này, đa số các
em đều đạt yêu cầu, có nhiều bài đạt điểm khá, giỏi, có những bài viết rấtsáng tạo, giàu cảm xúc
6 Tổ chuyên môn dự giờ nhìn chung đều đánh giá cao chất lượng bài dạy
V ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Đối tượng áp dụng là học sinh lớp học sinh THPT, lớp 12, lớp học có
khoảng từ 30 đến 35 em Các em có niềm say mê, yêu thích học môn Ngữ
Trang 8- HS đã được trang bị vốn kiến thức phong phú, có hệ thống ở nhiều môn khoa học khác nhau, đủ khả năng để tiếp nhận dự án dạy học.
- Ngoài các tiết học theo Phân phối chương trình, HS có thêm tiết học
Tự chọn, đó là một thuận lợi để GV và HS có thể thực hiện các bài tập nhằm
phát triển năng lực, định hướng năng lực xã hội, năng lực cá thể., các em đãđược trang bị nhiều kiến thức về văn học; có khả năng tiếp nhận những vấn đềsâu sắc, có ý nghĩa về cuộc sống, con người và nghệ thuật; có năng lực, kĩnăng đọc - hiểu các văn bản văn chương
Xác nhận của tổ chuyên môn Tác giả sáng kiến
Nguyễn Thị Hồng Liên
Trang 9Giúp học sinh hiểu:
- Vài nét về tác giả Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đò Sông Đà
- Vận dụng kiến thức đa ngành, bằng câu chữ điêu luyện, nghệ thuậtnhân hóa, so sánh, mạch liên tưởng đa chiều tài hoa, uyên bác…, Nguyễn
Tuân đã làm hiện hình Sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình; có lúc tưởng như mang diện mạo, tâm địa của một thứ kẻ thù số một với con người nhưng thực
ra lại luôn hòa hợp trong mối quan hệ với con người Đồng thời nhà văn bộc
lộ tình yêu tha thiết với thiên nhiên, quê hương, đất nước
- Từ đó giúp học sinh thấy được nét đặc sắc chủ yếu trong nghệ thuật tùybút của Nguyễn Tuân
2 Kĩ năng
- Qua bài đọc- hiểu một văn bản thuộc thể tùy bút, HS sẽ hiểu về đặctrưng của thể , rèn luyện kĩ năng tìm hiểu một văn bản tùy bút - HS biết vậndụng sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống, trongnhiều tình huống mà các em sẽ gặp sau này
3 Thái độ
- Giáo dục nhân cách cho HS, bồi dưỡng tư tưởng trong sáng., tình cảm
yêu nước, yêu cảnh trí non sông gấm vóc Việt Nam
- HS có những nhận thức sâu sắc về hiện thực cuộc sống, biết yêu, bảo
vệ và chung sống hòa bình với thiên nhiên; có thái độ thân thiện với tự nhiên,không khai thác cạn kiệt dẫn đến tàn phá tự nhiên
4 HS biết tích hợp những kiến thức về Ngữ học, Lí luận văn học, Lịch sử,
Địa lí, Văn hóa học, Sinh thái học…khi tìm hiểu một tác phẩm văn chương,
Trang 10kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết những vấn đềmang tính phức hợp.
B PHƯ ƠNG TIỆN THỰC HIỆN
- SGK, SGV
- Thiết kế bài học trên word và power point
- Một số tư liệu lịch sử, địa lí về sông Đà, tài liệu nghiên cứu văn học về
tác phẩm Người lái đò Sông Đà.
C.PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản, kết hợp phát vấn với giải thích,diễn giảng, trình chiếu Giáo viên tổ chức giờ dạy theo sự kết hợp giữa cácphương pháp: đọc tái hiện, nêu vấn đề, gợi tìm, đàm thoại, trao đổi thảo luậnnhón, kết hợp với diễn giảng thuyết trình
Lời vào bài: Nhà thơ CLV trong bài thơ Tiếng hát con tàu đã từng viết:
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu.
Có một thời Tây Bắc đã trở thành mảnh đất hóa tâm hồn của bao cuộc
đời và là nguồn cảm hứng dạt dào cho bao văn nhân, nghệ sĩ Nhà vănNguyễn Tuân trên hành trình kiếm tìm cái đẹp cũng đã dừng chân tại mảnh
đất Tây Bắc và phát hiện chất vàng mười của thiên nhiên và con người xứ
thiêng liêng rừng núi đã anh hùng này Các em có thể thấy được điều đó qua
tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Ở lớp 11 các em đã được làm quen với tác giả Nguyễn Tuân qua truyện ngắn Chữ người tử tù Hôm
nay các em sẽ được gặp lại tác giả này qua một tác phẩm khác, ở một thể loạikhác đó là: Tùy bút
Người lái đò Sông Đà (trích) sẽ được tìm hiểu trong hai tiết Tiết 1 sẽ
dừng ở việc tìm hiểu tính cách hung bạo của Sông Đà.
Hoạt động của giáo viên Nội dung cần đạt
Trang 11những hiểu biết của em về tác
giả Nguyễn Tuân?
GV nhấn mạnh lại những nét
tiêu biểu trong phong cách nghệ
thuật của Nguyễn Tuân
Học sinh đọc phần tiểu dẫn
Hỏi: Dựa vào phần tiểu dẫn
hãy nêu hoàn cảnh ra đời và
- Là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời
đi tìm cái Đẹp, nâng cái Đẹp lên thành
nhà nước ta có chủ trương phát triển kinh
tế, văn hóa miền núi Tây Bắc Thực tiễnxây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đãđem lại cho Nguyễn Tuân và nhiều nghệ
sĩ đương thời nguồn cảm hứng sáng tạodạt dào
- Tác phẩm là kết quả của nhiều dịpNguyễn Tuân đến với Tây Bắc trong thời
kì kháng chiến chống Pháp, đặc biệt làchuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958 Tácphẩm có sức sống lâu bền vì nó khôngđơn giản minh họa cho một chủ trương,chính sách mà bộc lộ những cảm xúc, suyngẫm của nhà văn về cuộc sống, xã hội,con người; từ một thời mà nói đến đượcnhiều thời
b Xuất xứ
- Tác phẩm trích từ tập tùy bút Sông Đà,
in lần đầu năm 1960 Tập tùy bút nàygồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng
phác thảo Người lái đò Sông Đà là một
trong những áng văn tiêu biểu nhất của
tập Sông Đà, thể hiện những nét đặc sắc
trong nghệ thuật tùy bút của NguyễnTuân
Trang 12thấy được mạch liên kết của
văn bản:
GV nhấn mạnh: Từ hai hình
tượng nhân vật mà nhà văn ca
ngợi (Sông Đà và người lái đò
Sông Đà), có thể thấy mạch
ngầm văn bản:
1 Mạch văn
* Bề mặt câu chữ: phóng túng, biến hóa
linh hoạt với những liên tưởng đa chiều… Xét về cấu trúc bề mặt, tùy bút của
Nguyễn Tuân nói chung và Người lái đò
Sông Đà nói riêng có sự phóng túng với
nhiều liên tưởng tạt ngang, tạt dọc- nhữngliên tưởng đa chiều Trong bài tùy bútnày, nhà văn đã xây dựng hai nhân vật :
Sông Đà và người lái đò Sông Đà Có lúc
nhà văn nói đến dòng sông hung bạo, khi
lại nói về người lái đò vượt thác, lúc trở
về miêu tả dòng sông trữ tình thơ mộng,
khi trần thuật, khi miêu tả, lúc trữ tình đểbộc lộ tài hoa của mình, để thấy được hết
sự sinh động đa diện của các hình tượng
Vì vậy, mạch văn( xét ở bề mặt câu chữrất khó theo dõi)
- Nhưng thực ra, tác phẩm có một mạchngầm văn bản rất chặt chẽ, ẩn sâu tronglối diễn đạt của Nguyễn Tuân Điều đóđược bộc lộ rất rõ qua những câu thơđược nhà thơ mượn để làm lời đề từ chotác phẩm Trước hết, mượn câu thơ củanhà thơ Ba Lan Wladyslaw Broniewski:
Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông
làm câu thơ đề từ, Nguyễn Tuân muốn cangợi Sông Đà như một công trình nghệthuật tuyệt vời của tạo hóa đã ban tặngcho con người Và bài tùy bút này củaông cũng như một công trình nghệ thuậtngôn từ - một sáng tạo độc đáo tài hoa màNguyễn Tuân tặng lại cho đời Đồng thời,
mượn câu thơ Chúng thủy giai đông tẩu,
Đà giang độc Bắc lưu của Nguyễn Quang
Bích làm lời đề từ, Nguyễn Tuân muốnbộc lộ sự uyên bác tài hoa của mình:dùng văn thơ nhìn con sông như một nhàđịa lí để thấy được hướng chảy của nó.Câu thơ gợi cảm nhận về cá tính khácthường của Sông Đà cũng gặp được cátính độc đáo của Nguyễn Tuân
* Mạch ngầm văn bản: Nhà văn đi kiếm
tìm chất vàng mười của thiên nhiên( Sông
Đà vừa hung bạo vừa trữ tình) và thứ
Trang 13GV hỏi: Trong tác phẩm, kể
cả ở nhan đề, hai chữ Sông Đà
luôn được nhà văn viết hoa.
Viết như thế có đúng quy tắc
chính tả không ? Dụng ý của
Nguyễn Tuân ?
GV nhấn mạnh:
Hỏi: Dưới ngòi bút miêu tả
của Nguyễn Tuân, em thấy
Sông Đà được khắc họa với
Hỏi: Sự hung bạo của Sông
Đà được miêu tả qua những
hình ảnh nào?
HS trả lời: Sự hung bạo của
Sông Đà được miêu tả qua
HS đọc đoạn văn đầu tiên, tìm
vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn
con người Tây Bắc( người lái đò tay lái rahoa- người nghệ sĩ vượt thác)
2 Nhân vật Sông Đà
- Trong tác phẩm, kể cả ở nhan đề, haichữ Sông Đà luôn được nhà văn viết hoa.Xét về quy tắc chính tả, viết như thế làkhông đúng Song đây chính là một dụng
ý của tác giả Vì ứng xử với Sông Đà nhưmột con người nên dòng sông được nhàvăn xây dựng như một sinh thể có hồn, cólai lịch, tên gọi, chiều dài, hướng chảy vàdiện mạo, tính cách Ở phần trước vănbản này, nhà văn đã rất dụng công đi tìmlai lịch độc đáo của dòng sông
+ Lai lịch độc đáo: Khai sinh ở huyệnCảnh Đông, tỉnh Vân Nam Trung Quốc,
đi qua một vùng núi ác, đến gần nửađường thì nhập quốc tịch Việt Nam.+ Tên: Li Tiên, Bả Biên Giang
+ Chiều dài: 883 nghìn thước mét chảyqua hai nước Việt Nam và Trung Quốc.+ Hướng chảy: ứng với câu thơ đề từ thứhai (nhà thơ mượn của Nguyễn QuangBích)
a Sông Đà hung bạo
+ Nhà văn liên tưởng: ngồi trong khoang
Trang 14GV giải thích từ chẹt, hình
ảnh cái yết hầu.
Hỏi: Căn cứ vào những từ gạch
chân, phát hiện thủ pháp nghệ
thuật sử dụng trong đoạn văn
đó và tác dụng của chúng ?
HS đọc đoạn miêu tả ghềnh
sông (lại như quãng mặt
ghềnh…thuyền ra) và phát hiện
chi tiết miêu tả
GV giải thích các từ: gùn ghè,
đòi nợ xuýt…
Hỏi: Em có nhận xét gì về xét
về cách sử dụng từ ngữ, kết
cấu, nhịp điệu của những câu
văn miêu tả ghềnh sông?Tác
dụng của chúng?
HS theo dõi đoạn văn viết về
hút nước Sông Đà- trang186
- Nghệ thuật so sánh kết hợp với nhữngliên tưởng độc đáo khắc họa chiều sâuhun hút khó lường của những vách đádựng đứng.→ Bờ sông hùng vĩ, hiểm trở
* Ghềnh sông
- Mặt ghềnh Hát loóng, dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
- Sử dụng câu văn có kết cấu trùng điệp,
từ ngữ táo bạo, mới mẻ, điệp động từ
(xô), danh từ (sóng, gió) gây ấn tượng
mạnh, gợi nhịp điệu nhanh, mạnh, gấp
gáp, dữ dội của gió to sóng cả trên Sông
Đà
Thể hiện sự dữ dội của ghềnh sông
* Hút nước
- Trên sông bỗng có những cái h út nước
giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu… nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc… nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.
Cảm giác sợ hãi càng tăng cường khi
Nguyễn Tuân đưa ra giả định: có anh
bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, dũng cảm ngồi vào chiếc thuyền thúng tròn vành, rồi cho
cả mình, cả thuyền cả máy quay xuống đáy hút Sông Đà thì cũng chỉ thu được những thước phim màu quay tít…
Ở đoạn này nhà văn sử dụng trùng
trùng điệp điệp những liên tưởng, so sánhkết hợp vận dụng tri thức ngành xâydựng, kĩ thuật đặc tả của điện ảnh đểmiêu tả sự dữ dằn, ghê rợn của những hútnước quái ác .Những cái hút ấy là
Trang 15HS đọc trang 187 đoạn cuối
cùng và trả lời câu hỏi: Ở trên
những âm thanh nào của thác
nước được miêu tả?
khúc sông lượn….có giỏi thì
tiến gần vào Nhà văn dựng lại
cảnh thạch trận bằng những chi
tiết nào ?
những cạm bẫy cực kì nguy hiểm chonhững người lái đò trên sông Đặc biệt lànhững liên tưởng làm mạch văn biến hóalinh hoạt thể hiện rõ đặc trưng của thểloại tùy bút
* Thác nước
- Tiếng thác nước nghe như oán trách gì,rồi lại như van xin, rồi lại như khiêukhích , giọng gằn và chế nhạo Rồi nórống lên như tiếng một ngàn con trâumộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừngtre nứa nổ lửa, đang phá toang rừng lửa,rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu dacháy bùng bùng
- Nhận xét: đây là các âm thanh vớinhững cung bậc khác nhau, mỗi lúc mộtcuồng loạn, man dại, hoang dã
- Sử dụng nghệ thuật nhân hóa, so sánh;dùng lửa để tả nước, lấy rừng để tả sông,nhà văn cho thấy Sông Đà như một sinhthể có tiếng nói với nhiều cung bậc, sắcthái tâm trạng, cảm xúc…Thác nướcSông Đà hung dữ như loài thuỷ quái,hung thần thách thức, đe dọa con ngườivới những thanh âm cuồng loạn, man dại
và hoang dã
* Thạch trận đá
- Đá:
+ Từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong
lòng sông… mỗi lần có thuyền xuất hiện… một số hòn đá bèn nhổm cả dậy
để vồ lấy thuyền…Mặt hòn nào cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn mặt nước sông chỗ này.
+ Đá bày thạch trận trên sông…chia làm
ba hàng (tiền vệ, trung vệ, hậu vệ) đòi ăn
chết cái thuyền. Vòng vây thứ nhất mở ranăm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh.Cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn Vòngvây thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử, cửasinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn.Vòng vây thứ ba bên phải, bên trái đều làluồng chết, luồng sống ở giữa bọn đá hậu
vệ của con thác
Trang 16Hỏi: Nêu những nhận xét chung
của em về đoạn văn miêu tả
con Sông Đà hung bạo của nhà
văn?
đá,…hò la vang dậy…, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo…như quân liều mạng đá trái thúc gối vào bụng và hông thuyền…
Dưới góc nhìn đa ngành (bóng đá, võthuật, quân sự…), nghệ thuật nhân hóa,ngôn ngữ giàu chất tạo hình, trí tưởngtượng phong phú, tài năng quan sát tỉ mỉ,
kỹ lưỡng, thạch trận Sông Đà hiện lênnhư một trận đồ bát quái, một kẻ thù tâmđịa hiểm ác Nguyễn Tuân đã rất dụngcông khi miêu tả đá của Sông Đà, thểhiện đậm nét sự uyên bác, tài năng miêu
tả của nhà văn
=> Tiểu kết Vận dụng kiến thức đa ngành, bằng câu chữ điêu luyện, nghệ thuật nhân hóa, so sánh, mạch liên tưởng đa chiều tài hoa, uyên bác…, Nguyễn Tuân đã làm hiện hình Sông Đà hung bạo mang diện mạo, tâm địa của một thứ kẻ thù số một với con người Đồng thời nhà văn bộc lộ tình yêu tha thiết với thiên nhiên, quê hương, đất nước
E CỦNG CỐ- DẶN DÒ:
I Giáo viên củng cố lại bài học:
- Tóm lược kết cấu của bài học qua sơ đồ:
Trang 17Sông Đà hung bạo
Bờ sông
hùng vĩ,
hiểm trở
Ghềnh sông dữ dội
Hút nước ghê rợn
Thác nước hung dữ
Thạch trận hiểm ác
Cái nhìn
độc đáo
Ngôn ngữ giàu
có, tài hoa Giọng điệu biến hóa
Nguyễn Tuân- nhà văn của những cảm giác mạnh,
nhìn Sông Đà ở phương diện đa ngành, liên ngành.
- Sông Đà hung bạo, hùng vĩ nhưng không nên nhìn dòng sông ở góc độ
kẻ thù số một của con người Hãy nhìn sự hung bạo của Sông Đà như một thử
thách của thiên nhiên mà con người cần biết để chung sống và chế ngự nó
- Các công trình thủy điện của Việt Nam, nhất là công trình thủy điện HòaBình chính là thành công của con người trong việc chinh phục, chế ngự thiên nhiên
+ Công trình thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trong đó có thủ đô Hà Nội
+ Nhà máy thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn
bộ hệ thống điện Việt Nam Năm 1994, cùng với việc khánh thành nhà máy
và tiến hành xây dựng đường dây 500KV Bắc - Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) hình thành một mạng lưới điện quốc gia Công trình này góp phần đắc lực trong việc cung cấp nguồn điện cho miền Nam và miền trung Việt Nam
+ Hơn nữa, đập thủy điện Hòa Bình đóng vai trò quan trọng vào việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp ở vùng hạ lưu trong đó có đồng bằng sông Hồng, nhất là trong mùa khô; điều tiết mực nước sông đồng thời đẩy nước mặn ra xa các cửa sông
+ Đồng thời, thủy điện sông Đà còn giúp chúng ta cải thiện việc đi lại bằngđường thủy ở cả thượng lưu và hạ lưu Năm 2004 công trình tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được vận chuyển chủ yếu bằng con đường này
Rõ ràng, bằng bàn tay và khối óc của mình, chúng ta đã chế ngự được sự
hung bạo của Sông Đà.
Trang 18- Giờ sau tiếp tục tìm hiểu tiết 2 của bài học Người lái đò Sông Đà ( trích)
F RÚT KINH NGHIỆM
* Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
GV chia lớp thành bốn nhóm, mỗi nhóm thực hiện một bài với mục đích, yêu cầu riêng, HS thảo luận trong 3 phút cuối của tiết học, sau đó chuẩn
bị ở nhà rồi trình bày, nộp sản phẩm trong tiết học tự chọn
1 Nhóm 1:
Bài tập: Cảm nhận của anh (chị) về nghệ thuật miêu tả thạch trận Sông
Đà trong trích đoạn Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.
a Mục tiêu:
+ Củng cố nội dung bài học
+ Phát triển năng lực cộng tác làm việc, năng lực cảm thụ cảm văn học,
tư duy độc lập, biết thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc riêng
+ HS biết tích hợp kiến thức văn học với văn hóa, xã hội, kiến thức của
môn Địa lí để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
b Yêu cầu: HS có thể trình bày theo những cách khác nhau, cần đảm bảo
được những ý sau đây:
- Đá:
+ Từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… mỗi lần có thuyền
xuất hiện… một số hòn đá bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền…Mặt hòn nào cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn mặt nước sông chỗ này.
Trang 19+ Đá bày thạch trận trên sông…chia làm ba hàng (tiền vệ, trung vệ, hậu vệ) đòi ăn chết cái thuyền. Vòng vây thứ nhất mở ra năm cửa trận, có bốncửa tử một cửa sinh Cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn Vòng vây thứ hai tăngthêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Vòng vâythứ ba bên phải, bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở giữa bọn đá hậu vệcủa con thác
- Nước thác: reo hò làm thanh viện cho đá,…hò la vang dậy…, ùa vào
mà bẻ gãy cán chèo…như quân liều mạng đá trái thúc gối vào bụng và hông thuyền…
Dưới góc nhìn đa ngành (bóng đá, võ thuật, quân sự…), nghệ thuậtnhân hóa, ngôn ngữ giàu chất tạo hình, trí tưởng tượng phong phú, tài năngquan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng, thạch trận Sông Đà hiện lên như một trận đồ bátquái, một kẻ thù tâm địa hiểm ác Nguyễn Tuân đã rất dụng công khi miêu tả
đá của Sông Đà, thể hiện đậm nét sự uyên bác, tài năng miêu tả của nhà văn
Trang 202 Nhóm 2:
Bài tập: Thông qua bài học ,vận dụng những kiến thức về Địa lí, hãy
giới thiệu những hiểu biết về Sông Đà
a Mục tiêu:
+ Củng cố kiến thức
+ Phát triển năng lực cộng tác làm việc, năng lực đánh giá
+ Rèn luyện khả năng tích hợp tri thức Văn học và Địa lí
b Yêu cầu:
HS cần đảm bảo được ý cơ bản sau:
+ Sông Đà có độ dài 910 km, diện tích lưu vực là 52900 km2
+ Đoạn ở Việt Nam dài 527 km
+ Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sông Hồng.Sông Đà là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệpđiện Việt Nam
+ Lưu vực sông có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoángsản quý hiếm, các hệ sinh thái đặc trưng bao gồm các nguồn sinh vật với mức
3 Nhóm 3:
Bài tập: Anh( chị) suy nghĩ như thế nào về mối quan hệ giữa con người
và thiên nhiên? Nên hiểu việc chinh phục thiên nhiên như thế nào cho đúng?
a Mục tiêu:
+ Củng cố nội dung bài học
+ Phát triển năng lực cộng tác làm việc, năng lực cảm thụ cảm văn học,
tư duy độc lập, biết thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc riêng
+ HS biết tích hợp kiến thức văn học với văn hóa, xã hội, sinh thái học
và kiến thức của môn Địa lí để giải quyết một vấn đề mang tính phức
hợp-vấn đề thiên nhiên và môi trường sống mà cả thế giới đang quan tâm
b Yêu cầu: HS có thể trình bày theo những cách khác nhau, cần đảm bảo
được những ý sau đây:
+ Con người và tự nhiên có mối quan hệ vô cùng gắn bó, mật thiết Mộtmặt con người tôn sùng, tín ngưỡng trước những hiện tượng tự nhiên; mộtmặt cũng lo sợ trước thiên nhiên biến hóa không cùng, ngoài vòng kiểm soátcủa họ
+ Trong quan hệ với tự nhiên, con người tận dụng triệt để môi trường tựnhiên để duy trì sự sống, để chống lại các thế lực ngoại xâm trong chuyện ăn,quan niệm về mặc của người Việt Nam cũng là một quan niệm rất thiết thực
Trang 21ăn chắc mặc bền .Con người thời đại này quan niệm thiên, địa, nhân nhất
thể thiên thời địa lợi nhân hòa Con người, trời dất đều có cấu trúc âm-dương,
có chung một cấu trúc vật chất Nếu trời đất vận hành theo qui luật âm- dươnghài hòa, ngũ
+ Nhìn chung, con người đặt trong mối quan hệ với thiên nhiên là mộtquan hệ gắn bó không thể tách rời Thiên nhiên nuôi sống con người, giúp conngười chống lại những thế lực ngoại xâm nhưng thiên nhiên cũng là thế lực
mà con người phải chống đỡ Trong giai đoạn trung đại Việt Nam, đối với conngười thiên nhiên là một lực lượng siêu nhiên, thần thánh và con người cũng
đã có những lúc run sợ trước những thế lực đó Nhưng dần dần họ đã tìm ranhiều cách để chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mình Vớicác khả năng khoa học hiện có, con người hầu như làm chủ thiên nhiên trongviệc chế tạo các sản phẩm mới để tăng thêm nhu cầu và thị hiếu của nhân loại.Đôi khi những nhu cầu đó hoàn toàn không cần thiết và vô ích nếu không nói
là làm thoái hóa thêm quá trình phát triển của con người cũng như huỷ hoạitài nguyên thiên nhiên và công sức con người một cách phí phạm Con người
đã lạm dụng khoa học, và với mặc cảm tự tôn, họ tin rằng sẽ chiến thắng đượcthiên nhiên, kiểm soát thiên nhiên, và luôn cố gắng thỏa mãn lòng kiêu hãnhcủa mình qua việc chinh phục thiên nhiên.Tóm lại, con người càng thách thứcthiên nhiên càng phải gánh thêm nhiều hậu quả không thể lường trước đựơc!+ Nếu ý thức được những bổn phận và trách nhiệm trên mỗi ngườitrong chúng ta sẽ biết gìn giữ và bảo vệ môi trường sống chung quanh mình,
đó là một phương cách an toàn và nhân bản nhất để có một cuộc hành trình tốtđẹp và an bình nhất trong thiên kỷ thứ ba
+ Phát triển năng lực xã hội, năng lực cá thể
b.Yêu cầu:
+ HS lên mạng tìm những tranh ảnh về sông Đà
Trang 22* Các sản phẩm của HS
- Trong tiết học tự chọn, HS giới thiệu sản phẩm trước lớp
+ Nhóm 1, 2, 3 : Mỗi nhóm cử một HS đại diện lên bảng trình bàynhững vấn đề đã tìm hiểu
+ Nhóm 4 cử một đại diện lên giới thiệu tranh ảnh, các sản phẩm nghệthuật đã sưu tầm
- Tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả làm việc của từng nhóm
- GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành, nội dung và kết quảcủa các vấn đề đã được nghiên cứu và trình bày của từng nhóm
Sản phẩm của nhóm 1
Câu hỏi: Cảm nhận của anh (chị) về nghệ thuật miêu tả thạch trận Sông
Đà trong trích đoạn Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.
Trả lời:
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm
cái Đẹp, nâng cái Đẹp lên thành tôn giáo Văn của Nguyễn Tuân có phong
cách nghệ thuật độc đáo: tài hoa, uyên bác Ông đã đưa thể tùy bút, bút kí đạt
tới trình độ nghệ thuật cao với những đặc sắc riêng… Người lái đò Sông Đà trích từ tập Sông Đà, in lần đầu năm 1960( tập tùy bút gồm 15 bài tùy bút và
một bài thơ ở dạng phác thảo) là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của
tập Sông Đà, thể hiện những nét đặc sắc trong nghệ thuật tùy bút của Nguyễn
Tuân Tác phẩm là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc trongthời kì kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế Tây Bắc năm
1958 Tác phẩm có sức sống lâu bền vì nó không đơn giản minh họa cho mộtchủ trương, chính sách mà bộc lộ những cảm xúc, suy ngẫm của nhà văn vềcuộc sống, xã hội, con người; từ một thời mà nói đến được nhiều thời
Xét về cấu trúc bề mặt, tùy bút của Nguyễn Tuân nói chung và Người lái
đò Sông Đà nói riêng có sự phóng túng với nhiều liên tưởng tạt ngang, tạt
dọc- những liên tưởng đa chiều Trong bài tùy bút này, nhà văn đã xây dựng
hai nhân vật : Sông Đà và người lái đò Sông Đà Có lúc nhà văn nói đến dòng sông hung bạo, khi lại nói về người lái đò vượt thác, lúc trở về miêu tả dòng sông trữ tình thơ mộng, khi trần thuật, khi miêu tả, lúc trữ tình để bộc lộ tài
hoa của mình, để thấy được hết sự sinh động đa diện của các hình tượng Vìvậy, mạch văn( xét ở bề mặt câu chữ rất khó theo dõi)
Nhưng thực ra, tác phẩm có một mạch ngầm văn bản rất chặt chẽ, ẩn sâutrong lối diễn đạt của Nguyễn Tuân Điều đó được bộc lộ rất rõ qua những
Trang 23câu thơ được nhà thơ mượn để làm lời đề từ cho tác phẩm( Đẹp vậy thay
tiếng hát trên dòng sông - nhà thơ Ba Lan Wladyslaw Broniwski; Chúng thủy giai đông tẩu, Đà giang độc Bắc lưu- Nguyễn Quang Bích) Nhà văn đi kiếm
tìm chất vàng mười của thiên nhiên( Sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình) và
thứ vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn con người Tây Bắc( người lái đò
tay lái ra hoa- người nghệ sĩ vượt thác) Dưới ngòi bút miêu tả của NguyễnTuân, Sông Đà được khắc họa với những nét tính cách nổi bật là sự hung bạo
và vẻ đẹp trữ tình Sự hung bạo của Sông Đà được miêu tả qua những hình
ảnh: đá bờ sông, ghềnh sông,hút nước, thác nước, thạch trận đá.
Trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà, điều đặc sắc là trong cách miêu
tả tính cách hung bạo của dòng sông, nhà văn Nguyễn Tuân đã thực sự dàycông để bắt cho được sự hung bạo, dữ tợn của con sông phải nổi bật lên thànhhình khối và gào thét lên trong muôn vạn âm thanh Đây là cảnh Đà giang bàythạch trận Tác giả tưởng tượng đá Sông Đà bày thạch trận để đón đánh ngườilái đò Nhà văn đã dành một đoạn rất dài để tái hiện cảnh đá Sông Đà bày
thạch trận Dưới ngòi bút của nhà văn, đá từ ngàn năm nay vẫn mai phục hết
trong lòng sông…mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện là một số hòn bèn nhổm dậy để vồ lấy thuyền… Mặt hòn nào cũng ngỗ ngược, hòn nào , cũng nhăn nhúm, méo mó hơn mặt nước sông chỗ này Đá biết bày thạch trận trên
sông… chia làm ba hàng (tiền vệ, trung vệ, hậu vệ) đòi ăn chết cái thuyền.
Vòng vây thứ nhất mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh Cửa sinhnằm lập lờ phía tả ngạn Vòng vây thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinhlại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Vòng vây thứ ba bên phải, bên trái đều làluồng chết, luồng sống ở giữa bọn đá hậu vệ của con thác Thạch trận vừa bàyxong thì nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, mặt nước hò la vang dậy, ùavào mà bẻ gãy cán chèo của người lái đò Sóng như quân liều mạng đá tráithúc gối vào bụng và hông thuyền…
Trong cách miêu tả của Nguyễn Tuân, dường như nhà văn đã cố ý tạo ra
cảm giác xa lạ hóa, một thủ pháp quen thuộc của Bec-tôn Brêch, nhằm tác
động mạnh vào tâm lí và nhận thức người đọc Theo tâm thức quen thuộc củangười Việt, các thế lực khắc nghiệt của tự nhiên là nước và đá là những lựclượng thù địch, đối kháng Hai lực lượng đó đã được dân gian hóa thành hai
vị thần Sơn Tinh, Thủy Tinh Và cuộc chiến giữa hai thế lực ấy tưởng chẳngbao giờ ngừng lại được ca dao đã từng có câu:
Núi cao sông hãy còn dài Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen.
Trang 24Vậy mà trên dòng sông hung bạo này, Sơn Tinh và Thủy Tinh, đá và thácphối hợp với nhau thật kì diệu, tạo thành một cảnh tượng sông nước hungbạo, dữ dội chưa từng thấy Có lẽ đây là dịp để ngòi bút Nguyễn Tuân tunghoành, sảng khoái trong những cảm hứng thật hùng tráng và lãng mạn.
Như vậy dưới góc nhìn đa ngành (bóng đá, võ thuật, quân sự…), nghệthuật nhân hóa, ngôn ngữ giàu chất tạo hình, trí tưởng tượng phong phú, tàinăng quan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng, thạch trận Sông Đà hiện lên như một trận đồbát quái, một kẻ thù tâm địa hiểm ác Nguyễn Tuân đã rất dụng công khimiêu tả đá của Sông Đà, thể hiện đậm nét sự uyên bác, tài năng miêu tả củanhà văn
………
Sản phẩm của nhóm 2
Câu hỏi: Thông qua bài học ,vận dụng những kiến thức về Địa lí, hãy
giới thiệu những hiểu biết về Sông Đà ?
Trả lời:
Trang 25Sông Đà, còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang là phụ lưu lớn nhất của sông
Hồng Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng TâyBắc - Đông Nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ
Sông Đà dài 910 km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lưu vực là52.900 km² Ở Trung Quốc, sông có tên là Lý Tiên Giang, do hai nhánh BảBiên Giang và A Mặc Giang hợp thành Trong một số tiếng châu Âu, sông Đà
được dịch là sông Đen (tiếng Anh: Black River; tiếng Pháp: rivière Noire).
Đoạn ở Trung Quốc dài khoảng 400 km từ núi Nguy Bảo (巍寶山) ởhuyện tự trị người Di người Hồi Nguy Sơn phía nam châu tự trị châu tự trịdân tộc Bạch Đại Lý chảy theo hướng tây bắc-đông nam qua Phổ Nhĩ
Đoạn ở Việt Nam dài 527 km (có tài liệu ghi 543 km) Điểm đầu là biêngiới Việt Nam-Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu) Sông chảy quacác tỉnh Tây Bắc Việt Nam là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, PhúThọ (phân chia huyện Thanh Thủy, Phú Thọ với Ba Vì, Hà Nội) Điểm cuối
là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Đoạn đầu sông trên lãnhthổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè Các phụ lưu trên lãnh thổViệt Nam gồm Nậm Na (ở tả ngạn), Nậm Mốc (ở hữu ngạn)
Sông Đà có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sôngHồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điệnViệt Nam Năm 1994, khánh thành Nhà máy Thủy điện Hoà Bình có côngsuất 1.920 MW với 8 tổ máy Năm 2005, khởi công công trình thủy điện Sơn
La với công suất theo thiết kế là 2.400 MW Dự kiến sắp xây dựng nhà máythủy điện Lai Châu ở thượng nguồn con sông này
Lưu vực có tiềm năng tài nguyên to lớn với nhiều loại khoáng sản quýhiếm, các hệ sinh thái đặc trưng bao gồm các nguồn sinh vật với mức đa dạngsinh học cao
Trang 26Sản phẩm của nhóm 3
Bài tập: Anh( chị) suy nghĩ như thế nào về mối quan hệ giữa con người
và thiên nhiên? Nên hiểu việc chinh phục thiên nhiên như thế nào cho đúng?
Trả lời
Ngay từ thửa hồng hoang, đi khai thiên lập địa, dựng bờ mở cõi, ông cha
ta đã có mối quan hệ với thiên nhiên và khát vọng được chinh phục thiênnhiên
Đối với người Việt Nam, tố chất cơ bản nuôi sống con người là hạt gạobát cơm Nghề sinh sống cơ bản xưa nay là nghề trồng lúa nước, đó cũng là
cơ sở hình thành nên văn hóa Việt Nam - văn hóa làng xã Có thể nói đây làyếu tố cơ bản để Việt Nam không bị Trung Hoa đồng hóa trong ngàn nămBắc thuộc Chúng ta vẫn thường cho rằng văn hóa là cách ứng xử thích hợpvới thiên nhiên làm nên lối sống, nếp sống của một cộng đồng hay xã hội.Hay nói cách khác, văn hóa là những biểu hiện trong mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên
Như đã nói, nước ta bắt đầu với nền văn minh nông nghiệp nên lẽđương nhiên phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Đặc biệt trong thời phong kiến,khoa học kĩ thuật chưa là công cụ đắc lực cho con người như ngày nay Chính
vì vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ vô cùng gắn bó, mật thiết Mộtmặt con người tôn sùng, tín ngưỡng trước những hiện tượng tự nhiên; mộtmặt cũng lo sợ trước thiên nhiên biến hóa không cùng, ngoài vòng kiểm soátcủa họ
Là một dân tộc sống bằng nghề nông, phụ thuộc vào thiên nhiên nặng
nề nên chưa có một vũ trụ quan có hệ thống mà chỉ có những tín ngưỡngnguyên thủy Đầu tiên là thờ các thần tự nhiên như thần mặt trời, thần nước,thần sông, mây mưa, sấm chớp…sau đó là thờ thần lúa với rất nhiều lễ nghi,
lễ hội như: rước nước, lễ xuống đồng, lễ cơm mới Long Quân diệt ba conchằn tinh ở ba vùng cho dân yên ổn làm ăn thì đất nước có ba vùng Cùng với
sự trồng lúa nước có sự phát triển của chăn nuôi và những hoạt động sinhsống khác từ trước vẫn còn tiếp tục (chài lưới, săn bắn) nên việc thực hiện tínngưỡng phồn thực hay thờ sinh thực khí của nam và nữ cũng xuất hiện
Đi gần tới việc trời đất, vạn vật được sinh ra thế nào thì truyền thuyết.thần thoại nước ta không thiếu những lời kiến giải ngây thơ Vẫn là thần,nhưng thần Trụ Trời là người đã tách trời khỏi đất, làm nên sông hồ, núi non
Trang 27Tiếp theo đó là những ông: ông tát bể, ông kể sao, ông trồng cây, ông xây rú.
Những Ông ấy được tạo ra từ hình dáng con người và chính con người vớisức lao động của mình- cả cơ bắp lẫn tư duy- đã tạo ra thế giới ấy Trường ca
anh hùng của người Mường Mo Đẻ đất đẻ nước rõ rệt, trọn vẹn hơn cả Trong
đó có lời kể về cả một quá trình sáng tạo vũ trụ, hình thành nên muôn loài,hình thành con người và xã hội loài người
Thời trung đại, con người chưa nhìn tự nhiên như một kháchthể và mình là chủ thể Đối với con người trung đại, tự nhiên là để tiêu dùngchứ không còn ý nghĩa nào khác Bởi vì nông nghiệp là chủ yếu nên conngười khai thác tự nhiên mà sống Dần dần sau đó, con người thấy mình trong
tự nhiên, bắt đầu từ thân thể Người ta vẽ mắt vào đằng mũi thuyền để tránh
đá ngầm, nước xoáy; hoa sen tượng trưng cho đức Phật; hay, cổ tay em trắng
như ngà, con mắt em sắc như là dao cau, miệng cười như thể hoa ngâu, chiếc khăn đội đầu như thể hoa sen Người ta nhìn thấy một phẩm chất nhất định và
tốt đẹp ở sự vật và bản thân mình cũng có phẩm chất ấy nên gán luôn chocảnh vật: phẩm chất kiên cường, bất chấp gian nan, thử thách ở cây tùng cây
bách tuế hàn nhi tri rùng bách chi hậu điêu.
Trong quá trình tiến hóa của xã hội tự nhiên thì việc xuất hiện của conngười được xem là một kết quả của quá trình phát triển vượt bậc Con người
là một động vật bậc cao với sự phát triển hoàn chỉnh của bộ não và đôi tayđược xem là một thành tựu Cùng với sự phát triển đó của con người thì rấtnhiều quan niệm khác về con người ra đời
Trong lao động sản xuất, con người không nắm bắt được những quy luậtcủa hiện tượng tự nhiên mà chỉ có thể dự báo dựa trên những kinh nghiệm của
mình là chủ yếu trăng quầng trời hạn trăng tán trời mưa, ráng mỡ gà có nhà
thì giữ hay tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông…Lúc bấy giờ, thiên nhiên với
con người vẫn là điều bí ẩn Trước những hiện tượng thiên nhiên mà họkhông thể chống chọi hoặc lí giải được thì họ lại thần thánh hóa nó lên và gắncho nó một sự tích hay một hình tượng nào đó để thờ cúng như Sơn TinhThủy Tinh gắn với hiện tượng lũ lụt hằng năm; thủy triều lên xuống với họ làthần biển đang hít thở; sấm chớp mây mưa đều do các thần tạo ra Như vậy,thiên nhiên là nguồn cung cấp, nuôi dưỡng sự sống cho họ nhưng đồng thờicũng là kẻ thù mà họ chưa thể chống chọi lại được
Nghề nông nghiệp lúa nướcdiễn tiến theo từng giai đoạn nhỏ nhưng
Trang 28nước phải gắn liền với trị thủy Mà vấn đề trị thủy phải đòi hỏi sức mạnh củacộng đồng mới có thể xây dựng hệ thống mương, đập chống hạn, đắp đê ngănlụt Như vậy, trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên thì đã bắt đầuxuất hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và bước đầu họ đã tiến hành thựchiện nó Kinh tế nông nghiệp Việt Nam không chỉ đơn thuần có cây lúa màcòn có rất nhiều loại cây hoa màu khác cho củ, quả, hạt…cây lâu năm ăn trái
và chăn nuôi gia súc, gia cầm Nền tảng kinh tế ấy dĩ nhiên phụ thuộc nặng nềvào tự nhiên Nghề nông gắn liền với trị thủy Vấn đề trị thủy không giới hạntrong mỗi làng mà còn yêu cầu sức mạnh liên kết giữa các làng, vùng, miền
Và cứ thế, con người tất yếu phải cư trú thành làng Thế nhưng làng khôngthể mở rộng không gian cư trú vô hạn định, bởi nó chịu sự chi phối của nhiềuyếu tố như phạm vi đất canh tác, điều kiện địa lí tự nhiên
Có thể nói, văn hóa nông nghiệp lúa nước là nền văn hóa nhào nặngiữa Đất và Nước Trường tồn trong lịch sử văn hóa Việt Nam đã diễn ra như thế
Mở đầu từ châu thổ sông Hồng, sông Mã khi nước biển bắt đầu rút dầnthì con người tràn xuống trung du, đồng bằng tụ cư, khai phá đất đai, pháttriển nghề lúa nước Con người lúc này phải thường xuyên đối mặt với sự tấncông của thú dữ, lũ lụt, hạn hán và các thế lực ngoại xâm Và trong quá trìnhchống chọi lại những thế lực đó tính cách con người hình thành
Có thể thấy rằng, văn hóa của con người trồng cấy Việt Nam là cái bản
lĩnh biết nhu- cương, biết công biết thủ, biết trông trời trông đất trông mây,
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm rồi tùy thời mà làm ăn theo
chuẩn mực nhất thì nhì thục ấy là khả năng ứng biến của con người Việt
Nam, của lối sống Việt Nam, văn hóa Việt Nam
Trong quan hệ với tự nhiên, con người tận dụng triệt để môi trường tựnhiên để duy trì sự sống, để chống lại các thế lực ngoại xâm Nếu như nhiềudân tộc coi ăn uống là chuyện tầm thường không đáng nói thì người Việt coi
rất thiết thực, thậm chí công khai cho rằng có thực mới vực được đạo, nó quan trọng đến mức trời đánh còn tránh bữa ăn Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và cây trồng làm đơn vị: làm gì nhanh thì trong khoảng giập bã
trầu lâu hơn thì chín nồi cơm, còn kéo dài lâu nữa thì tới hai mùa lúa …
Trong cơ cấu bữa ăn của người Việt cũng in đậm bản sắc lúa nước của mình.Không thể thiếu là cơm, cà, dưa, rau rồi mới đến thịt Cả trong phương
Trang 29thức ăn cũng thể hiện tính cộng đồng rất rõ-quây quần cả nhà bên nhau ănuống vui vẻ.
Trong việc ứng phó với môi trường tự nhiên, thể hiện rõ nhất qua việcmặc Việc mặc giúp con người ứng phó với cái nóng, rét, mưa, gió Nhân dân
ta đã nói một cách đơn giản: “được bụng no, còn lo ấm cật” Vì vậy, cũng nhưtrong chuyện ăn, quan niệm về mặc của người Việt Nam cũng là một quan
niệm rất thiết thực ăn chắc mặc bền
Nhưng mặc không chỉ để ứng phó với môi trường tự nhiên mà còn
có ý nghĩa xã hội rất quan trọng quen sợ dạ, lạ sợ áo Mặc trở thành mục đích
để trang điểm, làm đẹp người đẹp vì lụa lúa tốt vì phân, mặc giúp con người khắc phục những nhược điểm về tuổi tác cau già khéo bổ thì non, nạ dòng
trang điểm lại giòn hơn xưa.
Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, bản chất của nông nghiệp là sống định cưnên con người ít di chuyển Có đi thì cũng đi rất gần Hoạt động chủ yếu củacon người nông nghiệp Việt Nam là đi từ nhà ra ruộng, lên nương Việt Nam
là vùng sông nước, kênh mương chằng chịt và bờ biển dài Bởi vậy, vấn đề đilại từ ngàn xưa chủ yếu là đường thủy; và người Việt xưa giỏi bơi lặn, thạothủy chiến, giỏi dùng thuyền Sông ngòi phong phú thuận tiện cho giao thôngđường thủy phát triển lại gây khó khăn cho giao thông đường bộ Vì vậy ViệtNam hay có những cầu tre, cầu dừa, cầu dây chính vì thế mà hình ảnh
sông nước ăn sâu vào tâm thức của người Việt Nam chớ thấy sóng cả mà ngã
tay chèo, ăn cỗ đi trước lội nước theo sau, thuyền theo lái gái theo chồng.
Người Việt hay nói chìm đắm trong suy tư, thời gian trôi nhanh, ăn nói trôi
chảy, thân bọt bèo Ngay cả khi đi bộ cũng nói theo kiểu đi trên sông: lặn lội đến thăm nhau, quá giang
Những người sống bằng nghề sông nước thường lấy ngay thuyền, bè làmnhà ở Nhiều gia đình quần tụ lập nên xóm chài, làng chài Ấn tượng vớithiên nhiên sông nước mạnh đến nỗi nhà của người Việt thường được làm vớichiếc mái cong mô phỏng hình thuyền Chiếc mái cong ngoài hình ảnh conthuyền không có tác dụng thực tế gì cho nên về sau người bình dân thườnglàm thẳng cho giản dị, chỉ có những công trình kiến trúc lớn mới làm máicong cầu kì
Bên cạnh việc xây nhà thì chọn hướng nhà cũng là cách tận dụng tối đathế mạnh của môi trường tự nhiên để ứng phó với nó Hướng nhà tiêu biểu là
Trang 30phía bắc và tận dụng gió mát từ phía Nam: gió Nam chưa nằm đã ngáy hay
cất nhà quay cửa vô Nam, quay lưng về chướng không làm cũng có ăn.
Ngoài ra người Việt cũng rất quan tâm đến việc chọn hàng xóm lánggiềng Đến thời kinh tế hàng hóa phát triển, người Việt còn chú ý chọn vị trí
giao thông thuận tiện nhất cận thị, nhị cận giang những đô thị có tốc độ phát
triển nhanh đều là những đô thị gần biển, sông thuận tiện giao thông
Con người thời đại này quan niệm thiên, địa, nhân nhất thể “thiên thờiđịa lợi nhân hòa” Con người, trời dất đều có cấu trúc âm-dương, có chungmột cấu trúc vật chất Nếu trời đất vận hành theo qui luật âm- dương hài hòa,ngũ hành biến hóa thì con người cũng vận hành theo qui luật đó Sự biếnchuyển của vật chất là một quá trình cuối cùng trở về lại cái ban đầu: thủysinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinhmộc Cứ như vậy vật chất biến hóa theo chu kì Quan niệm đó dẫn đến lối giảithích duy tâm: mọi tài năng của con người đều do trời phú mà có
Nhìn chung, con người đặt trong mối quan hệ với thiên nhiên là mộtquan hệ gắn bó không thể tách rời Thiên nhiên nuôi sống con người, giúp conngười chống lại những thế lực ngoại xâm nhưng thiên nhiên cũng là thế lực
mà con người phải chống đỡ Trong giai đọan trung đại Việt Nam, đối với conngười thiên nhiên là một lực lượng siêu nhiên, thần thánh và con người cũng
đã có những lúc run sợ trước những thế lực đó Nhưng dần dần họ đã tìm ranhiều cách để chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mình.Cũng như những loài linh trưởng khác, con người là một sinh vật xã hội,sống bầy đàn Hơn thế nữa, con người cũng rất thành thạo việc sử dụng ngônngữ trong giao tiếp, để biểu lộ những ý kiến riêng của mình và trao đổi thôngtin Con người tạo ra những xã hội phức tạp trong đó có những nhóm hỗ trợnhau và đối nghịch nhau ở từng mức độ, có thể từ những cá nhân trong giađình cho đến những quốc gia rộng lớn Giao tiếp xã hội giữa con người và conngười đã góp phần tạo nên những truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức,giá trị, chuẩn mực xã hội và cả luật pháp Tất cả cùng nhau tạo nên những nềntảng của xã hội loài người Con người cũng rất chú ý đến cái đẹp và thẩm mỹ,cùng với nhu cầu muốn bày tỏ mình, đã tạo nên những sự đổi với về văn hóanhư nghệ thuật văn chương và âm nhạc
Con người cũng được chú ý ở bản năng muốn tìm hiểu mọi thứ và điềukhiển tự nhiên xung quanh, tìm hiểu những lời giải thích hợp lí cho nhữnghiện tượng thiên nhiên qua khoa học, tôn giáo, tâm lý và thần thoại Bản năng
Trang 31tò mò đó đã giúp con người tạo ra những công cụ và học được những kĩ năngmới Trong giới tự nhiên, con người là loài duy nhất có thể tạo ra lửa, nấuthức ăn, tự may quần áo, và sử dụng các công nghệ kỹ thuật trong đời sống.Thực tế khoa học và đời sống đã chứng minh rằng con người hoàn toàn cókhả năng ching phục thiên nhiên Các công trình thủy điện của Việt Nam,nhất là công trình thủy điện Hòa Bình chính là thành công của con ngườitrong việc chinh phục, chế ngự thiên nhiên Công trình thủy điện Hòa Bìnhgóp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châuthổ sông Hồng trong đó có thủ đô Hà Nội Nhà máy thủy điện Hòa Bình lànguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam Năm 1994,cùng với việc khánh thành nhà máy và tiến hành xây dựng đường dây 500KVBắc - Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) hìnhthành một mạng lưới điện quốc gia Công trình này góp phần đắc lực trongviệc cung cấp nguồn điện cho miền Nam và miền trung Việt Nam Hơn nữa,đập thủy điện Hòa Bình đóng vai trò quan trọng vào việc cung cấp nước tướicho sản xuất nông nghiệp ở vùng hạ lưu trong đó có đồng bằng sông Hồng,nhất là trong mùa khô; điều tiết mực nước sông đồng thời đẩy nước mặn ra xacác cửa sông Đồng thời, thủy điện sông Đà còn giúp chúng ta cải thiện việc
đi lại bằng đường thủy ở cả thượng lưu và hạ lưu Năm 2004 công trình tượngđài chiến thắng Điện Biên Phủ được vận chuyển chủ yếu bằng con đườngnày
Tiến bộ khoa học cùng với việc phát minh các công nghệ mới trong thế
kỷ XX đã cho ra đời nhiều ứng dụng hầu thỏa mãn nhu cầu mà con người cầnđến hay nghĩ đến Con người ngày càng chìm đắm trong những khám phámới, tìm thêm nhu cầu mới, dù cần thiết hay không cần thiết cho cuộc sống.Cuộc chạy đua do chính con người đặt ra dường như không có điểmđến! Và hơn nữa, cuộc đua này càng kích thích thêm tham vọng ngự trị củacon người Với các khả năng khoa học hiện có, con người hầu như làm chủthiên nhiên trong việc chế tạo các sản phẩm mới để tăng thêm nhu cầu và thịhiếu của nhân loại Song đôi khi những nhu cầu đó có lẽ không cần thiết và vôích, nếu không nói là làm thoái hóa thêm quá trình phát triển của con ngườicũng như huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên và công sức con người một cách phíphạm
Sự cân bằng của vạn vật đã được sắp xếp theo một thứ tự nào đó của
Trang 32nhiều và con người có một hiểu biết rất hạn chế, thiên nhiên vẫn ưu đãi và tạodựng ra một đời sống tương đối an lành cho con người Số mầm bệnh không
nhiều so với hiện tại, và sự xuất hiện những mầm bệnh mới chính là sản
phẩm mặt trái của khoa học và con người Con người đã lạm dụng khoa học,
và với mặc cảm tự tôn, họ tin rằng sẽ chiến thắng được thiên nhiên, kiểm soátthiên nhiên, và luôn cố gắng thỏa mãn lòng kiêu hãnh của mình qua việcchinh phục thiên nhiên
Tuy nhiên, chúng ta thấy sau cùng, thiên nhiên đã đáp lại rằng, hãy cònquá nhiều ẩn số mà con người chưa thể giải đáp được! Thiên nhiên đã vậnhành tuần hoàn, có chu kỳ thời tiết mưa, nắng, bão, lụt cho từng khu vựctrước kia; nhưng hôm nay, con người đã làm đão lộn các chu kỳ trên một cáchkhông kiểm soát nổi, và hiện tượng hâm nóng toàn cầu và hiệu ứng nhà kính
là hai hậu quả trước mắt mà con người phải gánh chịu qua suy nghĩ làm chủ
thiên nhiên của mình Hiện tựơng hạn hán, bão lụt xảy ra thường xuyên hơn
không còn theo một chu kỳ tuần hoàn nào có thể tiên liệu như trước kia cáchđây vài thập niên nữa Bầu khí quyển tiếp tục nóng dần và có khuynh hướngtăng trưởng nhanh hơn theo thời gian El Nino là hiện tượng nước biển bị hâmnóng theo chu kỳ tự nhiên khoảng tám đến mười năm vào các thập niên trước;nay chu kỳ trên đã bị thu ngắn lại còn khoảng 4- 5 năm và không có nhữngdấu hiệu báo trước rõ ràng như xưa nữa Tóm lại, con người càng thách thứcthiên nhiên càng phải gánh thêm nhiều hậu quả không thể lường trước đựơc!
Có thể nói, cuộc thách thức giữa con người và thiên nhiên ngày càng gaygắt, và nếu không kịp điều chỉnh đúng mức và như con đường chúng ta đang
đi hiện nay, chúng ta có thể sẽ đi vào ngõ cụt Vì thiên nhiên hay môi trườngsống của con người tự nó đã được sắp xếp theo một hợp lý nào đó và còn quánhiều ẩn số mà con người chưa đủ khả năng để lý giải thì làm sao có khả năng
để hàng phục thiên nhiên được Do đó, càng vận dụng khả năng và trí thông
minh của mình để thách đố, khiêu khích thiên nhiên, con người càng không
thể tìm lối ra trong an bình được Đúng như Các-Mác nói: càng chinh phục
thiên nhiên thì thiên nhiên càng trả thù, ngày nay, con người đang đi gần đến
chỗ bế tắc hơn nữa khi tìm cách giải quyết những vấn nạn môi sinh trên thếgiới do chính con người tạo ra như : bầu khí quyển bị ô nhiễm đến mức báođộng; nguồn nước sinh hoạt bắt đầu cạn kiệt về lượng cũng như không còntrong lành về phẩm như xưa nữa; và vùng đất sinh sống của con người ngàyngày càng bị thu hẹp do ô nhiễm, sa mạc hóa, sự chai đất v.v
Trang 33Tuy nhiên, nếu chúng ta cùng nhìn vào một bước tích cực, chúng ta vẫncòn có lối ra hay một giải pháp nếu chúng ta biết suy nghĩ lại Do đó, ngàynay , chúng ta nên hiểu cho đúng về vấn đề chinh phục thiên nhiên Côngviệc này quả là một nan đề cho bất cứ nhà khoa học nào có lương tâm và cómột tầm nhìn đúng đắn về dự phóng tương lai Trong thiên niên kỷ thứ banày, nhiệm vụ chính yếu của các nhà làm khoa học trên thế giới là: tập trungtrí tuệ để bảo vệ và tái tạo sự tuần hoàn nguyên thủy của thiên nhiên, như hạnchế việc thiết lập thêm và phá huỷ các đập thuỷ điện hiện có để duy trì hệ sinhthái thiên nhiên trong vùng; nghiên cứu những công nghệ sạch để thay thếnguồn các năng lượng đang xử dụng hiện tại, như dùng năng lượng tái tạo haynăng lượng mặt trời, gió, hoặc biến cải năng lượng từ than nhiệt điện bằngphương pháp biến than đá thành khí và từ đó tạo ra năng lượng; truy tìm cácgiải pháp thiên nhiên để giải quyết vấn nạn ô nhiễm trên thế giới như dùngcây cỏ để hấp thụ hoá chất độc hại do con người thải ra trong đất và nước dophát triển kỹ nghệ
Nếu ý thức được những bổn phận và trách nhiệm trên mỗi người trongchúng ta sẽ biết gìn giữ và bảo vệ môi trường sống chung quanh mình, đó làmột phương cách an toàn và nhân bản nhất để có một cuộc hành trình tốt đẹp
và an bình nhất trong thiên kỷ thứ ba Và hơn nữa, có làm được như thế,chúng ta mới hoàn trả lại một phần nào món nợ mà chúng ta đã vay mượntrước của các thế hệ sau do việc đã làm suy thoái môi trường và phí phạm tàinguyên trong quá trình phát triển kỹ nghệ để giải quyết nhu cầu của con ngườitrong suốt thời gian qua…
Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và công cuộc chinh phụcthiên nhiên của loài người sẽ luôn là vấn đề để chúng ta quan tâm, suy ngẫm
và tìm cách giải quyết hợp lí, hiệu quả
………
Sản phẩm của nhóm 4
Trang 34Trả lời:
C¶nh S«ng §µ
………
Cảnh bờ sông hùng vĩ, hiểm trở.
Trang 35Ghềnh sông dữ dội
Trang 36
§Ëp thuû ®iÖn s«ng §µ, Hoµ B×nh
Thuû ®iÖn Hoµ B×nh
Người soạn: Nguyễn Thị Hồng Liên
Tổ Ngữ văn- Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy- Ninh Bình.
Trang 37BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2013-2014
ý tới tính đặctrưng về thể loại;
đồng thời chưachú ý vận dụngkết hợp kiếnthức của cácmôn học, ngànhhọc khác nênhạn chế của bàihọc là chúng tôichưa giúp HS:
Biết vận dụngsáng tạo nhữngkiến thức, kĩnăng đã học vàothực tiễn cuộcsống, trongnhiều tình huống
mà các em sẽgặp sau này;cónhững nhận thứcsâu sắc về hiệnthực cuộc sống,biết yêu, bảo vệ
và chung sống
Bài dạy có sự tíchhợp kiến thức liênmôn GV tổ chức giờdạy theo sự kết hợpgiữa các phươngpháp: đọc tái hiện,nêu vấn đề, gợi tìm,đàm thoại, trao đổithảo luận nhón, kếthợp với diễn giảngthuyết trình Qua bàihọc, giúp HS nắmđược: Vài nét về tácgiả Nguyễn Tuân và
tùy bút Người lái đò
Sông Đà Vận dụng
kiến thức đa ngành,bằng câu chữ điêuluyện, nghệ thuậtnhân hóa, so sánh,mạch liên tưởng đachiều tài hoa, uyênbác…, Nguyễn Tuân
đã làm hiện hình
Sông Đà vừa hung
bạo vừa trữ tình; có
lúc tưởng như mang
diện mạo, tâm địa của
một thứ kẻ thù số một
với con người nhưng
Qua bài học, HS sẽhiểu về đặc trưng củathể, rèn luyện kĩ năngtìm hiểu một văn bảntùy bút; biết vậndụng sáng tạo nhữngkiến thức, kĩ năng đãhọc vào thực tiễncuộc sống, trongnhiều tình huống màcác em sẽ gặp saunày;có những nhậnthức sâu sắc về hiệnthực cuộc sống, biếtyêu, bảo vệ và chungsống hòa bình vớithiên nhiên có thái độthân thiện với tựnhiên, không khaithác cạn kiệt dẫn đếntàn phá tự nhiên; pháthuy được năng lựcvận dụng kiến thứcliên môn, tích hợpkiến thức để khámphá chiều sâu tưtưởng và vẻ đẹp củamột tác phẩm vănchương, kết hợp trithức của nhiều lĩnh
Đối tượng áp dụng là HS THPT, lớp
12, lớp học
có khoảng từ
30 đến 35 emCác em có niềm say mê, yêu thích học môn học, có hứng thú khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương HS
đã được trang
bị vốn kiến thức phong phú, có hệ thống ở nhiềumôn khoa học khác nhau, đủ khả năng để tiếp nhận dự án dạy học
Trang 38biết vận dụng sángtạo những kiến thức,
kĩ năng đã học vàothực tiễn cuộc sống,trong nhiều tìnhhuống mà các em sẽgặp sau này; cónhững nhận thức sâusắc về hiện thực cuộcsống, biết yêu, bảo vệ
và chung sống hòabình với thiên nhiên;
có thái độ thân thiệnvới tự nhiên, khôngkhai thác cạn kiệt dẫnđến tàn phá tự nhiên;
phát huy được nănglực vận dụng kiếnthức liên môn đểkhám phá chiều sâu
tư tưởng và vẻ đẹpcủa một tác phẩm vănchương, kết hợp trithức của nhiều lĩnhvực nhằm giải quyếtnhững vấn đề mangtính phức hợp
vực khác nhau nhằmgiải quyết những vấn
xã hội, năng lực cáthể, các em đã đượctrang bị kĩ hơn nhiềukiến thức về văn học;
có khả năng tiếp nhậnnhững vấn đề sâu sắc,
có ý nghĩa về cuộcsống, con người vànghệ thuật; có nănglực, kĩ năng đọc -hiểu các văn bản vănchương Trong cácbài kiểm tra, tôi ra đề
về trích đoạn này, đa
số các em đều đạt yêucầu, có nhiều bài đạtđiểm khá, giỏi, cónhững bài viết rấtsáng tạo, giàu cảmxúc
Ngoài các tiếthọc theo
Phân phối chương trình,
cá thể