Trang Bảng 2.1: Số lượng các tin bài về chính sách phát triển du lịch Bảng 2.2: Số lượng các tin bài về chính sách phát triển du lịch Bảng 2.3: Đánh giá vai trò tư vấn, phản biện chính s
Trang 1HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ THỊ THU TRANG
BÁO CHÍ NGÀNH DU LỊCH VỚI VAI TRÒ
TƢ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUANG HÒA
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, bảng biểu và kết quả trong luận văn đảm bảo chính xác, trung thực, dựa trên thực tế khảo sát và báo cáo của các cơ quan hữu quan Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Trang
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Báo chí, Khoa Phát thanh - Truyền hình (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã nhiệt tình giảng dạy, đào tạo tôi trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quang Hòa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các cơ quan báo chí ngành du lịch, các chuyên gia ngành du lịch đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình tìm hiểu, tiếp cận các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài để hoàn thành luận văn
Mặc dù tác giả đã nghiêm túc thực hiện luận văn nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được
sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Trang
Trang 4Trang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ NGÀNH DU
LỊCH VỚI VAI TRÒ TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH
1.1 Một số vấn đề lý luận về vai trò tư vấn, phản biện của báo chí 11 1.2 Chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay 27 1.3 Vai trò của báo chí ngành du lịch trong việc tư vấn, phản biện các
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tổng quan về các cơ quan báo chí khảo sát 41 2.2 Kết quả khảo sát vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát triển
du lịch trên Báo Du lịch và Tạp chí Du lịch 47 2.3 Đánh giá thực trạng vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VAI TRÒ TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CỦA BÁO CHÍ NGÀNH DU LỊCH VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU
3.1 Một số vấn đề đặt ra về vai trò tư vấn, phản biện của báo chí
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của báo chí ngành du lịch
trong tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch trong thời
Trang 5APEC : Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN : Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ VHTTDL: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
ESRT : Dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm
với môi trường và xã hội” do EU tài trợ KHXH&NV : Khoa học, Xã hội và Nhân văn
MRA-TP : Mutual Recognition Arrangement on Tourism Professionals
Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN NXB : Nhà xuất bản
UNWTO : World Tourism Organization - Tổ chức Du lịch thế giới
VITM : Viet Nam International Travel Mart
Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam WTO : World Trade Organization - Tổ chức Kinh tế thế giới
Trang 6Trang Bảng 2.1: Số lượng các tin bài về chính sách phát triển du lịch
Bảng 2.2: Số lượng các tin bài về chính sách phát triển du lịch
Bảng 2.3: Đánh giá vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát
triển du lịch Việt Nam hiện nay của báo chí ngành
Bảng 2.4: Đánh giá mức độ tư vấn, phản biện trực tiếp hay
gián tiếp của các tin bài về các chính sách phát triển
du lịch trên báo chí ngành du lịch 70 Bảng 3.1: Đánh giá việc cần thiết đổi mới, sáng tạo các bài viết
về chính sách phát triển du lịch trên báo chí ngành
Biểu đồ 2.1: Mức độ đọc báo chí ngành du lịch 67 Biểu đồ 2.2: Đánh giá vai trò tư vấn chính sách phát triển du lịch
Việt Nam hiện nay của báo chí ngành du lịch 69 Biểu đồ 2.3: Đánh giá vai trò phản biện chính sách phát triển du
lịch Việt Nam hiện nay của báo chí ngành du lịch 69 Biểu đồ 2.4: Mức độ cần thiết của vai trò tư vấn, phản biện của
báo chí ngành du lịch đối với các chính sách phát
Biểu đồ 2.5: Đánh giá chất lượng thông tin về chính sách phát
triển du lịch trên báo chí ngành du lịch hiện nay 74 Biểu đồ 2.6: Mức độ vận dụng thông tin qua các tin bài tư vấn,
phản biện về chính sách phát triển du lịch trên báo
Biểu đồ 2.7: Mức độ cộng tác viết bài trên báo chí ngành du lịch 78
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, “Báo chí ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân” [49] Trong thời đại
bùng nổ thông tin hiện nay, báo chí càng đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong đời sống xã hội Một trong những chức năng quan trọng của báo chí là giám sát và phản biện xã hội Một nền báo chí tiến bộ là một nền báo chí dân chủ và có tính phản biện cao, bởi phản biện là xây dựng, là góp tiếng nói tạo nên sự phát triển và bài trừ những cái cũ kỹ, đã không còn phù hợp Trên thực tế, rất nhiều vụ việc, chính sách được điều chỉnh bắt đầu từ vai trò phản biện của báo chí, trong đó có những chính sách về phát triển
du lịch ở Việt Nam hiện nay
Nằm trong hệ thống báo chí cả nước, Báo Du lịch và Tạp chí Du lịch là hai cơ quan ngôn luận của ngành du lịch, đồng hành cùng sự phát triển của ngành Trong các quyết định của Tổng cục Du lịch quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của hai cơ quan báo chí ngành du lịch nêu rõ:
“Báo Du lịch thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về du lịch và hoạt động của ngành du lịch, thông tin các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trong nước và quốc tế theo quy định của pháp luật” [65]; còn “Tạp chí Du lịch thực hiện chức năng thông tin, nghiên cứu, trao đổi, tuyên truyền các vấn đề về chính sách, pháp luật và nghiệp vụ trong lĩnh vực du lịch” [68]
Du lịch ngày càng được Đảng, Nhà nước cũng như giới báo chí, truyền thông quan tâm Hoạt động du lịch đem lại nguồn thu đáng kể đóng góp vào cơ cấu kinh tế đất nước Nếu như năm 2000, du lịch Việt Nam mới đóng góp
Trang 83,26% vào GDP cả nước thì đến năm 2014 đã chiếm tới 6% Thời kỳ 2000 -
2014 là giai đoạn du lịch Việt Nam phát triển và tăng trưởng mạnh mẽ, đạt nhiều thành quả mang tính chất toàn diện và sâu sắc, khẳng định vai trò là một ngành kinh tế quan trọng của đất nước Tốc độ tăng trưởng khách ở giai đoạn này luôn giữ mức cao: 2 triệu lượt khách quốc tế năm 2000; 5,049 triệu lượt năm 2010; 7,5 triệu năm 2013; đến năm 2014 du lịch Việt Nam đón xấp xỉ 8 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu từ du lịch đạt 230 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2013 [2] Năm 2015, trong bối cảnh tình hình biển Đông diễn biến phức tạp, an ninh chính trị tại nhiều khu vực trên thế giới không ổn định, lượng khách quốc tế đến Việt Nam có suy giảm, tuy nhiên sau những nỗ lực của toàn ngành, lượng khách du lịch nội địa tăng trưởng liên tục đóng góp ngày càng tích cực cho sự duy trì đà tăng trưởng của tổng thu từ du lịch, đạt 338 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2014 [71]
Mở đầu cho thiên niên kỷ mới, năm 2001, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đưa ra chủ trương phát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn
và Đại hội Đảng lần thứ X vào năm 2006 đặt mục tiêu phấn đấu sau năm
2010 Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực Sau 6 năm thực hiện, nhiều nội dung của Pháp lệnh du lịch đã đi vào thực tế cuộc sống và điều phối những hoạt động du lịch theo pháp luật Đó chính là tiền đề vững chắc để Luật du lịch được thông qua năm 2005 Đây cũng là văn bản pháp luật cao nhất của ngành du lịch Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001
- 2010” và năm 2011 phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, xác định: phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Năm 2016 là năm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, năm đầu tiên triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 với nhiều vận hội mới khi
Trang 9Việt Nam chính thức gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Triển khai Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới, hàng loạt chính sách, giải pháp cụ thể được ban hành như chính sách miễn thị thực, miễn giảm thuế đất, tăng cường xúc tiến du lịch Bối cảnh mới mang lại những chuyển biến lớn cho du lịch Việt Nam thì những chính sách phát triển du lịch trong thời kỳ mới càng cần được thực tiễn hóa đi vào cuộc sống sâu rộng hơn Mặt khác, Luật du lịch ra đời năm 2005 sau 10 năm triển khai thực hiện đã bộc lộ những yếu tố không phù hợp, khó vận dụng vào thực tiễn hội nhập quốc tế, đang trong giai đoạn triển khai sửa đổi, cần nhiều sự tư vấn, góp ý Cùng với đó là một số vấn nạn như: nạn chen lấn xô đẩy tại lễ hội, tình trạng chặt chém du khách, xả rác bừa bãi, hình ảnh xấu của du khách rất cần các quyết sách đúng đắn của ngành du lịch trong giai đoạn mới, bên cạnh đó cần có sự đồng hành của các cơ quan báo chí, đặc biệt là báo chí ngành du lịch trong việc đưa các chính du lịch đi vào thực tiễn cuộc sống
Báo Du lịch và Tạp chí Du lịch là hai cơ quan báo chí chuyên sâu của ngành du lịch, có trách nhiệm tư vấn, phản biện, đưa những thông tin lý luận chính thống, mang quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và của ngành
du lịch tới độc giả và du khách một cách sâu sát nhất Đặc biệt, thông tin về các chính sách phát triển du lịch trên báo chí ngành du lịch có độ tin cậy cao, thường được lấy làm chuẩn mực, làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo, sử dụng cho những người trong ngành Tuy nhiên thực tế những năm qua, dù có
cố gắng nhưng vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch trên báo chí ngành du lịch chưa được thực hiện một cách hiệu quả đáp ứng thực tiễn của ngành cũng như nhu cầu cần thiết trong quản lý, chỉ đạo công tác truyền thông của ngành du lịch trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
Trang 10Xác định tầm quan trọng và nhu cầu cần thiết với thực tiễn ngành du lịch,
luận văn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Báo chí ngành du lịch với vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay” nhằm đánh giá
thực trạng vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam trên báo chí ngành du lịch; để từ đó đề xuất giải pháp hiệu quả hơn trong việc tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch, góp phần thực hiện Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, tích lũy tài liệu để thực hiện luận văn này, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu liên quan đến vai trò tư vấn, phản biện của báo chí, báo chí với du lịch và các chính sách phát triển du lịch Trong đó, nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã được biên soạn thành sách
có thể kể tới sau đây:
- Cuốn “Nhập môn khoa học du lịch” của tác giả Trần Đức Thanh
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999) tập trung nói tới những kiến thức đại cương về du lịch
- Cuốn “Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa, xã hội” của tác giả
Lê Thanh Bình (Nxb Văn hóa Thông tin, 2005) là cuốn sách chuyên khảo tập hợp 20 bài viết gồm những công trình của tác giả được công bố trong nhiều năm về lĩnh vực báo chí - truyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đó bài 5 có đề cập tới nội dung nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động hợp tác giao lưu quốc tế và truyền thông quảng bá du lịch nhìn từ góc độ quản lý nhà nước hiện đại
- Cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)”
của tác giả Nguyễn Văn Dững (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011) có 5 chương cung cấp các nội dung về truyền thông đại chúng và báo chí, đặc điểm của báo chí hiện đại, nhà báo và việc đào tạo báo chí Trong đó chương
Trang 112 đề cập đến vai trò của báo chí đối với việc phát huy sức mạnh dư luận xã hội và năng lực giám sát xã hội của báo chí
- Cuốn “Vai trò báo chí trong định hướng dư luận xã hội” của tác giả
Đỗ Chí Nghĩa (Nxb Chính trị quốc gia, 2012) chỉ rõ bản chất, chức năng của báo chí và dư luận xã hội; mối quan hệ giữa báo chí và dư luận xã hội; cơ chế tác động của báo chí vào dư luận xã hội đánh giá của Đảng, Nhà nước về vai trò định hướng dư luận xã hội của báo chí
- Hai cuốn sách “Báo chí và dư luận xã hội” (Nxb Lao động, 2012) và
“Cơ sở lý luận báo chí” (Nxb Lao động, 2013) của tác giả Nguyễn Văn Dững,
cũng là hai giáo trình môn học cùng tên cung cấp cơ sở lý luận chung về loại hình, thể loại, vai trò, chức năng của báo chí, phương pháp tiếp cận, nghiên cứu báo chí, dư luận xã hội trên cơ sở thực tiễn cuộc sống, phân tích và làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa báo chí và dư luận xã hội, từ đó đề cập nội dung, ý nghĩa của phản biện xã hội Đặc biệt, chức năng giám sát và phản biện xã hội được coi là chức năng mới trong thời kỳ hội nhập của báo chí Việt Nam
- Cuốn “Du lịch Việt Nam hội nhập trong ASEAN” của tác giả Nguyễn
Văn Lưu (Nxb Thanh niên, 2014) có đề cập đến những chính sách phát triển
du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập ASEAN
- Cuốn “Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật” của tác giả Phan Văn Kiền (Nxb Thông tin và Truyền thông, 2015) là
công trình chuyên khảo tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống về vấn đề phản biện xã hội trên báo chí Việt Nam hiện nay Nội dung được chia làm hai phần: phần thứ nhất tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phản biện xã hội và phản biện xã hội trên báo chí ; phần thứ hai tập trung phân tích một số trường hợp phản biện xã hội của các tác phẩm báo chí tiêu biểu
Ngoài những công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, tác giả còn tham khảo thêm các luận án, luận văn liên quan đến đề tài:
- Luận án tiến sỹ “Chức năng phản biện xã hội của báo chí Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 12(năm 2014), đi sâu vào nghiên cứu chức năng phản biện xã hội của báo chí Việt Nam hiện nay
- Một số đề tài luận văn thạc sỹ của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
nghiên cứu liên quan đến phản biện xã hội của báo chí như: “Báo chí với vai trò phản biện xã hội (khảo sát báo Nhân dân, Hà Nội Mới, Tuổi Trẻ TP.HCM, Thanh Niên, vnexpress.net)” của Bùi Thanh Tùng (2012); “Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội trên báo An ninh Thủ đô” của Phạm Thu Hương (2013); “Vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí TP.HCM đối với công tác cải cách hành chính cấp phường, xã” của Nguyễn Anh Tuấn (2014), “Phản biện xã hội trong tác phẩm báo chí điều tra ở nước
ta hiện nay” của Lê Thị Diệu Linh (2015)
- Nghiên cứu về báo chí ngành Du lịch, có Luận văn thạc sỹ “Quảng bá
Du lịch Việt Nam qua Tạp chí Du lịch và trang tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch” của tác giả Tào Thanh Huyền, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền (2013) Ngoài ra, có một số đề tài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên
Đại học KHXH&NV Hà Nội như: “Du lịch Việt Nam qua sự phản ánh của báo Hà Nội mới, Tuần du lịch và Tạp chí Du lịch từ 1998 đến nay” của Nguyễn Diễm Anh; “Vấn đề phát triển du lịch trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên báo Du lịch” của Nguyễn Ngọc Quỳnh; “Định hướng phát triển du lịch qua báo Du lịch” của Nguyễn Thăng Long…
Để làm phong phú nguồn tư liệu, tác giả còn tham khảo một số bài viết, bài báo đề cập đến công chúng báo chí được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các tạp chí nghiên cứu khoa học như:
- Bài báo “Vai trò của báo chí trong phản biện, giám sát trong thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Mạnh Bình
đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông (2009) đã đưa ra những đánh giá báo chí thực hiện tốt vai trò phản biện xã hội đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
Trang 13- Bài báo “Giám sát và phản biện xã hội của báo chí - Từ góc nhìn tâm
lý học truyền thông” của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền đăng trên Tạp chí Người làm báo (số tháng 5/2015) và Tạp chí
Lý luận Chính trị & Truyền thông (số tháng 7/2016) phân tích hiện tượng báo chí trong giám sát và phản biện xã hội nhìn từ góc độ tâm lý học truyền thông, làm rõ sự chi phối của tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm, động cơ, mục đích đối với báo chí khi thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội
- Bài báo “Vai trò của báo chí trong thực thi chính sách công ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Xuân Phong - Trần Quyết Thắng đăng trên Tạp
chí Lý luận Chính trị & Truyền thông số tháng 1/2016 Bài báo làm rõ vai trò tất yếu của báo chí trong việc nâng cao hiệu quả của chính sách công, trong
đó nhắc tới phản biện xã hội của báo chí đối với việc thực thi các chính sách
Bên cạnh những công trình nghiên cứu, tác giả còn tham khảo thêm các tài liệu chuyên ngành về du lịch, Luật du lịch, các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước, Chính phủ liên quan đến lĩnh vực du lịch và chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay [Phụ lục 1]
Có thể khái quát rằng, với cách tiếp cận và đánh giá vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đã đề cập khá nhiều đến mối quan hệ giữa báo chí với vai trò phản biện xã hội, mối quan hệ giữa báo chí với truyền thông về du lịch Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu về báo chí với một vấn đề nào đó của du lịch hoặc gắn với một địa phương nào đó, nhằm nâng cao chất lượng truyền thông và quảng bá du lịch Việt Nam Có một số ít công trình nghiên cứu liên quan đến Báo Du lịch và Tạp chí Du lịch Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu về vai trò
tư vấn, phản biện của báo chí ngành du lịch đối với các chính sách phát triển du lịch Việt Nam trong tình hình mới Vì vậy, luận văn nghiên cứu đề
tài Báo chí ngành du lịch với vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát
Trang 14triển du lịch ở Việt Nam hiện nay là không trùng lặp, có ý nghĩa thiết thực
và mang tính thực tiễn cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng vai trò của báo chí ngành du lịch trong tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò này của báo chí ngành du lịch trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nêu trên, tác giả tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của báo chí ngành du lịch trong tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch;
- Khảo sát thực trạng vai trò báo chí ngành du lịch tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam trong những năm gần đây;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của báo chí ngành du lịch trong tư vấn, phản biện chính sách phát triển du dịch, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát
triển du lịch ở Việt Nam hiện nay của báo chí ngành du lịch
Trang 155 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí; quan điểm, chính sách của Đảng
và Nhà nước về báo chí, về phát triển du lịch…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận nghiên cứu đạt kết quả đặt ra, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: xem xét, phân tích thông tin từ đó
kế thừa những giá trị vốn có và rút ra những dữ liệu để so sánh, đối chiếu giữa
lý luận và thực tiễn
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: để lượng hóa một số thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu như số lượng, mật độ, thời điểm đăng tải các tác phẩm báo chí có nội dung tư vấn, phản biện các chính sách
phát triển du lịch trên Báo Du lịch và Tạp chí Du lịch
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn sâu các nhà báo, những người quản lý cơ quan báo chí, các phóng viên, chuyên gia ngành du lịch để thấy rõ hơn những nội dung tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch Việt Nam nên báo chí ngành du lịch hiện nay với những đánh giá khách quan, đa chiều của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng bảng hỏi (Anket): tiến hành phát khoảng 350 phiếu khảo sát điều tra công chúng là độc giả, khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, những người làm du lịch… về vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch Việt Nam trên Tạp chí Du lịch và Báo Du lịch
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở dữ liệu thu thập được, phân tích, tổng hợp để làm rõ những nội dung, hình thức của vấn đề nghiên cứu, những ưu điểm, hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp
6 Điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về báo chí ngành du lịch với vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay
Trang 16Luận văn đề xuất một số giải pháp có tính khả thi với ngành du lịch và báo chí ngành du lịch nhằm nâng cao hiệu quả vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay trên báo chí ngành du lịch
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn cung cấp, bổ sung cho hệ thống lý luận về vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch Việt Nam của báo chí ngành du lịch, cũng như vị trí, vai trò của việc tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch đối với sự phát triển du lịch Việt Nam hiện nay
Luận văn cũng góp phần chỉ rõ những thành công, hạn chế, phương pháp tiến hành và tổ chức thực hiện vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch Việt Nam của báo chí ngành du lịch Làm rõ hơn cơ sở, điều kiện
và một số giải pháp để báo chí ngành du lịch thực hiện và phát huy hiệu quả vai trò tư vấn, phản biện các chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng vai trò tư vấn, phản biện chính sách phát triển du lịch Việt Nam hiện nay trên báo chí ngành du lịch; khẳng định vai trò và những đóng góp của báo chí ngành du lịch trong sự nghiệp phát triển ngành du lịch Việt Nam nói chung; đồng thời đề xuất một số giải pháp với báo chí ngành du lịch để có thể thực hiện vai trò tư vấn, phản biện
chính sách phát triển du lịch Việt Nam đạt hiệu quả hơn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, những người làm
du lịch, nhà báo và những người quan tâm tới nội dung liên quan
Luận văn góp phần giúp tác giả nâng cao trình độ và biết cách tổ chức một công trình khoa học trong thực tiễn công tác
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ BÁO CHÍ NGÀNH DU LỊCH VỚI VAI TRÒ TƯ VẤN, PHẢN BIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 Một số vấn đề lý luận về vai trò tư vấn, phản biện của báo chí
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1.Vai trò
Theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” thì “vai trò” là “chức năng, tác dụng của cái gì hoặc của ai trong sự hoạt động, phát triển của nhóm, tập thể nói chung” Ví dụ: “vai trò của các tổ chức quần chúng”, “tỏ rõ vai trò của mình” [77, tr.861]
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học thì “vai trò” là “tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó” Ví dụ: “vai
trò của người quản lí”, “giữ một vai trò quyết định” [76, tr.1400]
“Vai trò” là một khái niệm then chốt trong xã hội học, nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội
và nó phân tích sự vận hành của những kỳ vọng ấy [40, tr.39] Theo I.Robentsons, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế xã hội nhất định J.H.Fischer cho rằng, vai trò là những hành động, hành vi ứng xử, khuôn mẫu tác phong mà xã hội chờ đợi hay đòi hỏi ở một người hay một nhóm xã hội nào đó phải thực hiện trên cơ
sở vị thế (vị trí xã hội) của họ [dẫn theo 40, tr.127]
Từ các nhận định trên, có thể khái quát: vai trò là chức năng mà hành vi
cá nhân hay thiết chế xã hội đảm nhận thực hiện Hệ vai trò thực chất là hệ thống các chức năng và phản chức năng, chức năng trội và chức năng lặn có liên quan chặt chẽ vỡi nhau Vì thực chất các chức năng cũng được quy định
Trang 18trên cơ sở vị thế, theo đó, có chỗ vai trò được hiểu theo nghĩa chức năng, có chỗ được hiểu theo nghĩa là vị thế
Trong luận văn này, vai trò được quan niệm là một tập hợp chức năng, quyền và nghĩa vụ gắn cho một vị trí xã hội của một nhóm người hay một tập thể trong sự hoạt động, phát triển mà xã hội mong đợi phải được thực hiện
1.1.1.2 Tư vấn
Theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” định nghĩa: “tư vấn” là “có chức năng góp ý cho người hay cấp có thẩm quyền” Ví dụ: “hội đồng tư vấn”,
“ban tư vấn” [77, tr.841] Còn theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ
học thì “tư vấn” là “phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” Ví dụ: “hội đồng tư vấn”, “cơ quan tư vấn”,
Qua các định nghĩa trong từ điển và văn bản quy phạm pháp luật được trích dẫn ở trên, có thể khái quát tư vấn được hiểu là hoạt động: thu thập, xử
lý thông tin, tư liệu; phát hiện vấn đề; đề xuất giải pháp, phương án; lập dự án; giám sát; đánh giá… do tổ chức chuyên môn hoặc cá nhân chuyên gia thực hiện theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn Hay nói cách khác, tư vấn là hoạt động trợ giúp về tri thức, kinh nghiệm khi: cung cấp, xử lý, tổng hợp thông tin, tư liệu; phân tích, đánh giá; đề xuất các giải pháp, phương án, kiến nghị;
đề xuất, xây dựng, thẩm định đề án, dự án… do tổ chức chuyên môn, cá nhân
Trang 19chuyên gia thực hiện theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn Ví dụ như các hoạt động lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho một dự án, lập báo cáo nghiên cứu khả thi cho một dự án, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi của một dự án, giám sát quá trình thực hiện một dự án hay đánh giá kết quả thực hiện một dự án
Theo TS Đỗ Chí Nghĩa trong “Vai trò báo chí trong định hướng dư luận xã hội” khi nói tới chức năng của dư luận xã hội, nhận định rằng: “Chức năng tư vấn được hiểu như là sự khuyên bảo, nhắn nhủ hay „phản biện‟ đối với các cá nhân, tổ chức trước những vấn đề cần xử lý Dư luận xã hội chính
là một kênh thông tin quan trọng để các cơ quan chức năng, các cá nhân cân nhắc đúng sai, cân nhắc tính chất hợp lý hay không hợp lý từ đó đề ra phương thức hành xử phù hợp nhất Muốn chính sách đi vào cuộc sống, người làm chính sách không thể chỉ ngồi trong phòng kín để vẽ ra những lý thuyết vu vơ Điều quan trọng là phải đo đếm được phản ứng của dư luận, xem dư luận có đồng tình hay phản đối chủ trương chính sách đó Trên thực tế, nhờ chức năng
„cố vấn‟ của dư luận xã hội, nhiều chính sách không hợp lý đã được rút lại, nhiều đề xuất quản lý đã được điều chỉnh cho hợp lý, hợp tình, sát với đời sống dân sinh”
Trong luận văn này, tư vấn được hiểu là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dụng kiến thức chuyên môn, phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát, đánh giá; có chức năng phát biểu ý kiến, góp ý, đưa ra lời khuyên, nhắn nhủ hay „phản biện‟ đối với các cá nhân, tổ chức hay cấp có thẩm quyền trước những vấn đề cần xử lý
1.1.1.3 Phản biện và phản biện xã hội
a Phản biện
Theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” định nghĩa, phản biện là “đánh giá chất lượng của luận án tốt nghiệp đại học, luận văn trên đại học trước hội
Trang 20đồng chấm thi” [77, tr.586] Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ thì, phản biện là “đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi” Ví dụ: phản biện
luận án tiến sĩ, người phản biện [76, tr.982]
Sách “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng”, giải thích: “Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau” [9, tr.182] Còn theo cách giải nghĩa “phản biện” là từ Hán - Việt thì phản có nghĩa là trái, ngược; biện là xét để phân biệt rõ ràng, vì vậy “phản biện” được hiểu là “xét từ phía ngược lại để phân biệt rõ ràng”
PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong “Cơ sở lý luận báo chí” cho rằng: Phản biện là thuật ngữ được dùng trước hết trong hoạt động khoa học - phản biện khoa học Tức là, đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra trước hội đồng khoa học Theo đó, phản biện có nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công nổi trội của công trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn thiện; và cuối cùng, khẳng định rằng công trình đó có đạt được những tiêu chí khoa học cần thiết không Như vậy, phản biện khác với phản bác Phản bác là dùng lý lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người khác [15, tr.197]
Tác giả Nguyễn Trần Bạt cho rằng: “Phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó Phản biện là một thể hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó mỗi con người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống
Trang 21con người hơn” [4, tr.563] Do đó, “Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình Trong khoa học, phản biện cũng là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học Còn trong đời sống xã hội, phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ” [4, tr.570]
Qua các định nghĩa khác nhau về phản biện, có thể thấy có sự thống nhất trong quan điểm về cách hiểu phản biện của các tác giả, dù cách diễn đạt khác nhau Điểm thống nhất đầu tiên là các định nghĩa đều khẳng định phản biện là một hoạt động có ý nghĩa thẩm định Việc thẩm định dựa trên kết quả của một quá trình đánh giá, nhận xét bằng lý trí khoa học chứ không thể dựa trên cảm tính chung chung Qua những tìm hiểu và tổng hợp, tác giả Phan Văn Kiền cho rằng: “Phản biện là sự thể hiện ý nghĩa bên trong của những
„phản hành động‟ (phản hành động chứ không phải phản động) xuất hiện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Phản biện không hẳn là phản bác Phản biện là đánh giá, nhận xét một cách khách quan, có lý lẽ và có chứng cứ khoa học về một vấn đề, một hiện tượng trong cuộc sống Vì thế, phản biện bao hàm cả „khen‟ và „chê‟ Phản biện xuất hiện khi đã trải qua một sự tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng, thấy đáo và nghiêm túc về đối tượng được phản biện
Vì thế, khi đã nói đến phản biện là nói đến sự nhận xét, đánh giá khách quan
và khoa học Những phản biện theo mục đích chủ quan của người phản biện không còn đúng với tinh thần của thuật ngữ phản biện Phản biện đúng nghĩa,
dù biểu hiện ở mặt nào cũng đều với mục đích xây dựng chứ không phải để bài xích, bác bỏ” [35, tr.13]
Như vậy, hiểu một cách khái quát, phản biện là hoạt động đưa ra các lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó (như các đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật ) nhằm đánh giá, chứng minh tính
Trang 22hợp lý hay không hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản bác một phần hoặc cả phương án, dự án, kế hoạch
b Phản biện xã hội
Thuật ngữ “phản biện xã hội” xuất hiện chính thức trong các văn bản chính thống trên dưới 10 năm trở lại đây Theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 1, điểm 7 cho rằng:
“Phản biện xã hội là hoạt động cung cấp thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung
đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra” [58] Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, nội dung này không còn
phù hợp với thực tiễn phát triển Đến ngày 14/2/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 22/2002
Tại Điều 2, điểm 2 chỉ rõ: “Phản biện xã hội là hoạt động đưa ra nhận xét, đánh giá, phê bình và các khuyến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án với mục tiêu và các điều kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra” [63]
Phản biện xã hội có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi của xã hội - các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việc góp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội Nhưng “rường cột” cho quá trình phản biện xã hội là đội ngũ trí thức - những người có kiến thức am hiểu rộng và chuyên sâu về các lĩnh vực của đời sống,
có bản lĩnh bảo vệ chính kiến và tâm huyết vì sự phát triển bền vững cộng đồng [15, tr.198] Phản biện xã hội trong quá trình thực hiện quyết sách là khẳng định những mặt tích cực, chỉ ra những mặt hạn chế, khiếm khuyết đã
và đang bộc lộ trong ý đồ và thực tiễn để có thể tìm kiếm giải pháp điều chỉnh bổ sung nhằm tăng cường hiệu quả thực tế của quyết sách ấy
Phản biện xã hội là quá trình phản biện mang tính chất xã hội Phản biện
xã hội “là sự phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn
Trang 23của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan Phản biện xã hội là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, góp ý kiến với cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều phục vụ lợi ích của đại đa số nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.” [35, tr.14]
Như vậy, phản biện xã hội là một khái niệm chính trị - xã hội, là biểu hiện đặc trưng chuyên nghiệp nhất của đời sống dân chủ Phản biện xã hội làm sáng tỏ đúng, sai các vấn đề có tính xã hội, liên quan đến lợi ích của đông đảo nhân dân Phản biện xã hội là quá trình cộng đồng, là sự phản ánh, khảo sát hành vi nhận thức của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính sách, thể chế trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, từ đó giúp các cơ quan hữu quan điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn Phản biện xã hội thực chất là phản biện của nhân dân Nhân dân có quyền giám sát mọi hoạt động của Nhà nước và cũng
có quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng và phù hợp với thực tiễn của mình trước những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
Đảng ta đánh giá cao vai trò phản biện xã hội, Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ hoạt động tự nguyện, tích cực sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến của mặt trận và các đoàn thể Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X của Đảng ta khẳng định: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của
Trang 24Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ”
[17] Đại hội X của Đảng cũng đã cụ thể hóa quan điểm về phản biện, phản biện xã hội, coi phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết và đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo vào điều hành đất nước
Đến đây, có thể khái quát, phản biện xã hội là quá trình tập hợp những lập luận, tranh luận khách quan, có chứng cứ khoa học và thực tiễn về một vấn đề nào đó (như các đề án kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật ) có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, nhằm đánh giá, chứng minh tính hợp lý hay không hợp lý, khẳng định cái đúng, cái hay, phù hợp với lợi ích cộng đồng, chỉ ra những hạn chế, bấp cập, từ đó có thể khẳng định, góp
ý, bổ sung hoặc phản bác để nêu lên giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề Phản biện xã hội thông qua nhiều chủ thể khác nhau như cá nhân, nhóm, tổ chức để thể hiện quan điểm, nhận thức, ý chí của một người, các nhóm người trong xã hội về một vấn đề nào đó được xã hội quan tâm Phản biện
xã hội được hình thành và phát triển trên cơ sở đa nguyên ý kiến về một vấn đề, một hiện tượng trong xã hội có liên quan mật thiết đến đời sống con người Mục đích cuối cùng của phản biện xã hội là nhằm tạo ra một xã hội dân chủ cao
Tổng hợp nghiên cứu những lập luận cùng phân tích của các quan điểm trên, từ cái nhìn cá nhân của tác giả trong khuôn khổ luận văn này cho rằng:
tư vấn và phản biện có những khía cạnh giống nhau, đều phát hiện vấn đề, đưa ra lập luận đánh giá để góp ý, đề xuất các giải pháp tối ưu đối với các cá nhân, tổ chức hay cấp có thẩm quyền nhằm giải quyết vấn đề cần xử lý Tuy nhiên tư vấn thường chỉ đưa ra lời khuyên, nhắn nhủ và tác động một chiều, không có quyền quyết định; còn phản biện được hình thành và phát triển trên
cơ sở đa nguyên ý kiến về một vấn đề, hiện tượng trong xã hội, để làm sáng tỏ cái đúng, cái sai, ưu điểm và hạn chế trên cơ sở khoa học với mục đích xây
Trang 25dựng chứ không phải bác bỏ Vai trò phản biện ở luận văn này được hiểu chính là vai trò phản biện xã hội
1.1.2 Vai trò tư vấn, phản biện của báo chí
Để làm rõ vai trò tư vấn, phản biện của báo chí, trước nhất cần nắm được các chức năng của báo chí gồm: chức năng thông tin - giao tiếp, chức năng tư tưởng, chức năng khai sáng - giải trí, chức năng kinh tế - dịch vụ và quan trọng là chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng đã yêu cầu rõ:
“Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân, đất nước ” [18]
Thực hiện các chức năng của mình, sứ mệnh to lớn của báo chí cách mạng Việt Nam là tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cổ vũ động viên toàn dân, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và góp phần chuyển tải, nâng cao kiến thức, trình độ văn hóa, thẩm mỹ cho các tầng lớp nhân dân Đó cũng là thể hiện vai trò tư vấn của báo chí
Những năm gần đây, khái niệm “phản biện xã hội” và vai trò phản biện
xã hội của báo chí đã và đang trở thành những vấn đề nóng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Báo chí trong tương quan với phản biện xã hội
là cơ quan “nói chuyên nghiệp” để bảo vệ quyền lợi cho nhân dân, cũng là mục đích cuối cùng của báo chí Cho nên, khi nói đến phản biện trong báo chí
là nói đến chức năng và vai trò của báo chí trong việc tư vấn, giám sát và quản lý xã hội thông qua hình thức “nói chuyên nghiệp” “Phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận cho nên nó cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách chuyên nghiệp Trước khi nói phải nghĩ,
Trang 26nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức và nói chuyên nghiệp là giới báo chí Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có
sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng
xã hội chứ không phải là phản biện xã hội” [4, tr.571]
Báo chí ngày càng thể hiện rõ nét và sâu sắc vai trò là một diễn đàn rộng rãi của quần chúng nhân dân Một mặt nào đó, báo chí hiện đại chính là công cụ để duy trì và phát triển một xã hội dân chủ cao, và chức năng phản biện xã hội của báo chí chính là một thể hiện sinh động cho vai trò duy trì nền dân chủ Thực hiện chức năng phản biện xã hội là báo chí góp phần khơi thức, tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của toàn dân, trước hết là đội ngũ trí thức, nhất là các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, góp ý cho các quyết sách lớn của Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Mỗi cơ quan báo chí có chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ khác nhau, do đó, chủ trương, cách thức tiến hành hoạt động phản biện xã hội khác nhau
Phản biện xã hội của báo chí chính là phương pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công chúng của báo chí hiện đại Trong quá trình đó, báo chí tác động đến chính trị và giai cấp cầm quyền cũng có những phản hồi ngược, tất cả nhằm biến đổi xã hội theo một chiều hướng tốt đẹp hơn Nói cách khác, vai trò phản biện xã hội của báo chí nhằm tạo ra một xã hội dân chủ cao, ở đó người dân được đối thoại và góp ý thẳng thắn những vấn đề liên quan đến đời sống của mình, vận mệnh của đất nước với các nhà lãnh đạo Tuy nhiên, cần tránh nhầm lẫn giữa quá trình phản biện xã hội và quá trình trưng cầu dân ý Bởi, phản biện là một hoạt động khoa học, phản biện là tranh luận một cách
Trang 27có khoa học “Về bản chất chính trị, phản biện là quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận Nếu không xác lập các quyền phản biện, tức các quyền tự do ngôn luận mà trưng cầu dân ý thì chỉ có hai khả năng: gật
và lắc Nhưng cả gật và lắc đều diễn ra trong im lặng Im lặng không phải là ngôn luận Ngôn luận là bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học Đấy là một hoạt động của xã hội dân sự, nhưng không phải là hoạt động nhân dân đơn giản mà là hoạt động thông qua một hệ thống tranh luận chuyên nghiệp Nếu trưng cầu dân ý là đi tìm sự đồng thuận đơn giản thì phản biện là
đi tìm sự đồng thuận có chất lượng khoa học Đấy là sự khác nhau về chất lượng giữa phản biện và trưng cầu dân ý” [4, tr.565]
Báo chí thực hiện quá trình phản biện xã hội bằng cách tác động (chủ yếu) vào hệ thống chính trị nói chung bằng các lỹ lẽ khoa học và hợp lý Tuy nhiên, đối tượng của phản biện xã hội trong báo chí không chỉ là chính trị Đối tượng của phản biện là bất cứ vấn đề nào trong cuộc sống Bởi vậy, báo chí trong quá trình phản biện có vai trò giống như là người cầm cân nảy mực Một vấn đề xã hội đặt ra, báo chí phải nhận thức một cách đúng đắn và có hướng đi hợp lý để giải quyết Hai lực lượng thường gặp nhất trong các vấn
đề của phản biện xã hội trên báo chí là quần chúng nhân dân và giai cấp cầm quyền Một vấn đề đặt ra (có thể là một chính sách xã hội do giai cấp cầm quyền đưa ra hoặc là một vấn đề liên quan mật thiết với đời sống của quần chúng nhân dân) đòi hỏi báo chí phải thực hiện phản biện xã hội để có những nhận thức và giải pháp đúng đắn Đó cũng chính là một trong những vai trò giám sát xã hội của báo chí đã được đề cập trong lý luận báo chí
Hướng tới những tác phẩm mang tính phản biện cao đang là xu hướng chung của truyền thông hiện đại nói chung và báo chí nói riêng Nâng cao tính phản biện xã hội của báo chí chính là thực hiện tốt hơn vai trò thông tin hai chiều trong quản lý và giám sát xã hội của báo chí Vai trò tham gia quản lý
Trang 28xã hội của báo chí trước hết bảo đảm dòng thông tin hai chiều: chiều thứ nhất, truyền bá các chủ trương, chính sách và quyết định quản lý - lãnh đạo, làm cho các quyết tâm chính trị của lãnh đạo và nhà quản lý thành quyết tâm của toàn dân; chiều thứ hai, là thông tin đúng đắn, khách quan nhất có thể về những gì đang diễn ra trước và sau chủ trương lãnh đạo, quyết định quản lý ban hành
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII của Đảng ta đã khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội Chức năng giám sát xã hội của báo chí trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật để kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương khích lệ và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cũng để sớm phát hiện những “trục trặc”, những nơi làm sai, những nơi vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp để đấu tranh Vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí được hiện diện trên toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội Thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, tức là báo chí thể hiện tính độc lập tương đối của mình, không theo đuôi một cách thụ động mà cần coi trọng kết quả khai thác, điều tra độc lập của mình từ tai mắt của nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật và dư luận xã hội về các kết quả ấy Từ đó để phản biện chính sách, đấu tranh chống tiêu cực, làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, góp phần gây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân vào bộ máy công quyền và chế độ xã hội
Báo chí với tư cách là đại diện cho tiếng nói của quần chúng, là diễn đàn của nhân dân sẽ là nơi phản ánh một cách chính xác nhưng cũng khéo léo
và đúng cách nhất về tình hình xã hội, tạo ra thảo luận xã hội một cách chuyên nghiệp thông qua phản biện xã hội Trong vai trò là cầu nối giữa giai cấp lãnh đạo và quần chúng nhân dân, giữa nhân dân với nhau, báo chí phải giải quyết các xung đột và mâu thuẫn về tất cả các mặt của các mối quan hệ
Trang 29đó Và cách giải quyết tốt nhất là tạo ra phản biện xã hội, từ đó tạo ra thảo luận và thỏa thuận thông qua đối thoại, làm cho quần chúng và giai cấp lãnh đạo gần gũi và hiểu nhau hơn Vì là một kênh giám sát xã hội nên báo chí luôn tồn tại hai mặt phản ánh: tích cực và tiêu cực Dùng thảo luận và thỏa thuận để đấu tranh chống lại những hành động không phù hợp, chính là phương pháp “phản hành động” của báo chí Đó cũng là thể hiện rõ nhất ở bề mặt của tính phản biện xã hội của báo chí hiện đại
Tính phản biện xã hội, suy cho cùng, cũng là tính chiến đấu của báo chí hiện đại Phản biện trên báo chí làm cho cái đúng được bảo vệ, được làm sáng
rõ, cái sai được đẩy lùi Báo chí từ trước đến nay vẫn được coi là công cụ chính trị của giai cấp cầm quyền Vì thế, phản biện xã hội trong báo chí dễ bị hiểu sai lệch là chỉ phản biện những vấn đề giai cấp cầm quyền đưa ra (những chủ trương, chính sách, nghị quyết được giai cấp cầm quyền ban ra) Nhưng
đó chỉ là một mặt, ngoài phản biện những chủ trương, chính sách, nghị quyết, quyết định của giai cấp cầm quyền đưa ra, báo chí còn đóng vai trò phản biện những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội nói chung Từ quá trình phản biện đó, báo chí có những định hướng nhận thức kịp thời cho quần chúng cũng như định hướng để giai cấp cầm quyền đưa ra chính sách hợp lý
Thực tế, nội dung phản biện của báo chí rất rộng lớn trên tất cả các khía cạnh của đời sống: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tệ nạn xã hội, quan hệ quốc tế, phát triển du lịch Phản biện của báo chí được thông qua việc lấy dư luận xã hội làm chủ đề để nêu lên quan điểm của mình, thực chất là đưa ra một cách nhìn khác của cộng đồng đối với chất lượng và triển vọng của chính sách vừa được ban hành Phản biện là một đòi hỏi khách quan của đời sống, là nhu cầu thiết yếu của công tác quản lý nhà nước, khi thẩm định hay kiểm chứng cẩn thận một vấn đề gì đó, trước khi quyết định - thuộc
Trang 30thẩm quyền quản lý của mình Qua phản biện, sự việc sẽ đi đến một kết luận có khoa học, từ đó sẽ giúp cho các chủ trương, pháp luật khi ban hành sẽ xác thực và sớm đi vào thực tiễn của cuộc sống xã hội Báo chí những năm gần đây đã và đang thực hiện vai trò phản biện có hiệu quả đối với những chính sách ban hành Kỳ họp lần thứ 7, Quốc hội khóa XII là một dẫn chứng sinh động về vai trò tư vấn, phản biện xã hội của báo chí
để góp phần sửa đổi những chủ trương, chính sách chưa hợp lý và phản biện những vụ việc nổi cộm, gây bức xúc lớn trong xã hội như: Đề án quy hoạch Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050, Dự án bô-xít Tây Nguyên
Trong quá trình tư vấn, phản biện trên báo chí, thông tin thể hiện rõ quan điểm phản biện của mỗi tờ báo Có tờ báo tích cực phản biện: thông tin nhanh chóng, liên tục, mang tính chiến đấu cao, khai thác sâu vào nhiều khía cạnh của vấn đề, không né tránh những vấn đề nhạy cảm; có những báo hạn chế trong việc phản biện: thông tin chung chung, nửa vời, không dám đụng chạm vào những vấn đề nhạy cảm Phản biện nếu được thực hiện đúng đắn sẽ đem lại kết quả tích cực trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi để có những phướng
án, dự án hợp lý, hiệu quả nhất Một phản biện sai có thể kéo theo hậu quả khôn lường Vì vậy, để phản biện xã hội tốt, đòi hỏi báo chí không những phải nhận thức đúng các vấn đề mà còn phải có cách giải quyết đúng, cần phải xem xét dưới các khía cạnh, từng góc độ khác nhau để đảm bảo tính toàn diện và đúng đắn Để có thể thực hiện tốt vai trò tư vấn, phản biện đòi hỏi sự bản lĩnh của cơ quan báo chí xuyên suốt từ trên xuống dưới: từ cơ quan chủ quản, lãnh đạo cơ quan báo chí, ban biên tập cho đến từng phóng viên, biên tập viên
1.1.3 Vai trò tư vấn, phản biện của báo chí ngành du lịch
Những năm gần đây, lĩnh vực du lịch ngày càng được sự quan tâm của
hệ thống báo chí truyền thông cả nước Theo thống kê của Bộ Thông tin và
Trang 31Truyền thông năm 2015, về báo chí in, hiện cả nước có 857 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương),
658 tạp chí (521 tạp chí trung ương, 137 tạp chí địa phương), 01 hãng thông tấn quốc gia Về báo chí điện tử: cả nước có 105 báo, tạp chí điện tử, trong đó
có 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập Tổng số trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí được cấp phép là 248 Về phát thanh, truyền hình, hiện cả nước có 67 đài phát thanh truyền hình cả trung ương và địa phương Trong số đó, nhiều cơ quan báo chí đã dành riêng những chuyên mục, chương trình chuyên về du lịch, thực hiện truyền thông về du lịch tùy theo chức năng và nhiệm vụ theo tôn chỉ mục đích của mình
Nằm trong hệ thống báo chí cả nước, báo chí ngành du lịch tuy mang những đặc thù chuyên ngành nhưng đều có chung các chức năng của báo chí Theo đó, báo chí ngành du lịch cũng thực hiện vai trò tư vấn, phản biện của báo chí đối với các vấn đề của xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến lĩnh vực du lịch, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ của báo chí ngành du lịch Báo chí ngành du lịch luôn hướng tới mục tiêu phát triển theo chiều sâu, gắn các hoạt động, sự kiện chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội với nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch, bám sát thực tiễn hoạt động du lịch của các địa phương, các doanh nghiệp trong ngành, mở thêm nhiều chuyên mục mới và diễn đàn nhằm giới thiệu thương hiệu cũng như trao đổi kinh nghiệm hoạt động trong ngành cho các nhà quản lý, doanh nghiệp du lịch
Báo chí ngành du lịch có trách nhiệm và cần phải đi đầu trong vai trò tư vấn, phản biện những vấn đề tập trung trong lĩnh vực du lịch Báo chí ngành
du lịch bảo đảm dòng thông tin hai chiều: chiều thứ nhất, truyền bá các chủ trương, chính sách và quyết định quản lý - lãnh đạo trong lĩnh vực du lịch,
Trang 32làm cho các quyết tâm chính trị của lãnh đạo và nhà quản lý thành quyết tâm của toàn dân; chiều thứ hai, là thông tin đúng đắn, khách quan nhất có thể về những gì đang diễn ra trước và sau chủ trương lãnh đạo, quyết định quản lý ban hành trong lĩnh vực du lịch Từ đó có thể thấy, vai trò tư vấn của báo chí ngành du lịch thể hiện trong việc thực hiện tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực du lịch; chuyển tải, nâng cao kiến thức về du lịch cho các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội
Báo chí ngành du lịch thực hiện vai trò phản biện bằng cách tác động vào hệ thống chính trị về các vấn đề trong cuộc sống có liên quan đến lĩnh vực du lịch bằng các lỹ lẽ khoa học và hợp lý Đặc biệt, vai trò tư vấn, phản biện, báo chí ngành du lịch thể hiện rõ đối với các chủ trương, chính sách về
du lịch từ trước khi ban hành cho tới khi thực thi các chính sách Trước một vấn đề hay chính sách du lịch được đặt ra, báo chí ngành du lịch phải nhận thức một cách đúng đắn và có hướng đi hợp lý để giải quyết; không phải là phủ định hoàn toàn, sạch trơn mà là giúp các cơ quan hoạch định chính sách
về du lịch nhận ra những bất cập, điều chưa hợp lý, chưa phù hợp với cuộc sống của bản thân chính sách
Nằm trong hệ thống các cơ quan báo chí Việt Nam, hai cơ quan Báo
Du lịch và Tạp chí Du lịch - hai cơ quan ngôn luận của Tổng cục Du lịch, trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, là hai cơ quan báo chí chính thống của ngành du lịch Để có thể rõ hơn vai trò tư vấn, phản biện của báo chí ngành
du lịch, cần phân biệt đặc điểm khác nhau giữa báo và tạp chí, từ đó phân biệt vai trò tư vấn, phản biện của Báo Du lịch và Tạp chí Du lịch Tạp chí in truyền thống khác với báo in ở chỗ tính thời sự thấp hơn nhưng nội dung vấn đề và sự kiện đưa ra phân tích, bình luận lại sâu hơn, đầy đủ hơn Thông tin của tạp chí
là thông tin có tính khái quát Tạp chí còn khác báo ở hình thức trình bày và kỹ
Trang 33thuật đồ họa Do cấu trúc, nội dung bài vở và định hướng chung, tạp chí là ấn phẩm có phạm vi độc giả hẹp - những người có nhu cầu tìm hiểu các số liệu chuyên ngành và nghiên cứu sâu các vấn đề hoặc hệ thống sự kiện [34, tr.173]
1.2 Chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Khái niệm “du lịch”
Theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” định nghĩa, “du lịch” là “đi đến những nơi xa lạ để giải trí và hiểu thêm về đất nước, con người và cuộc sống” Ví dụ: khách du lịch, du lịch ở nước ngoài [77, tr.230] Còn theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, “du lịch” là “đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” Ví dụ: đi du lịch ở nước ngoài, công ty du lịch (phục vụ
cho việc du lịch) [76, tr.348]
Theo Luật Du lịch (Luật số 44/2005/QH11 của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) thì:
Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư [2]
Ngành Du lịch có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác, thể hiện ở 5 điểm chủ yếu sau: 1) thúc đẩy ngành giao thông vận
Trang 34tải phát triển, nhất là vận tải hành khách; 2) thúc đẩy các ngành dịch vụ khác phát triển như thương mại, kinh doanh ăn uống, bưu chính viễn thông ; 3) thúc đẩy phát triển ngành bảo tồn di sản thiên nhiên, di sản văn hóa, sáng tạo
ra các sản phẩm du lịch; 4) thúc đẩy ngành thủ công truyền thống phát triển
để sản xuất các sản phẩm lưu niệm, quà tặng; 5) tăng tổng cầu cho địa phương, quốc gia là điểm đến của khách du lịch
Như vậy, xuất phát từ nhu cầu tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, hành nghề và những mục đích khác, con người di chuyển từ nơi thường trú đến một nơi khác để du lịch Nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, ngành dịch vụ du lịch phát triển, kéo theo hàng loạt các ngành khác phát triển, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch; tăng thu nhập quốc gia Nói cách khác, du lịch là ngành kinh tế dịch vụ có tính lan tỏa cao
1.2.2 Khái niệm “chính sách” và quy trình ban hành, thực hiện chính sách
* Chính sách là gì?
“Chính sách” được định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt thông dụng” là
“chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” Ví dụ như chính sách của nhà nước, chính sách đối ngoại [77, tr.155] Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học thì
“chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” Ví dụ: chính sách kinh tế, chính sách hòa bình [76, tr.221]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Trang 35Như vậy, có thể hiểu rằng: Chính sách là chương trình hành động do
các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc
phạm vi thẩm quyền của mình Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện
ở những tầng nấc khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó Cấu trúc của chính sách: đường lối cụ thể, biện pháp, kế hoạch thực hiện Chủ thể ban hành chính sách: chính đảng, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị, công ty… Một chính sách hiệu quả là một chính sách đáp ứng được những yêu cầu quan trọng của xã hội, giải quyết tốt mục tiêu đặt ra, điều chỉnh hài hòa các lợi ích của các bộ phận nhân dân, hạn chế tối đa các xung đột xã hội
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra đường lối, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công Về thực chất, các chính sách là do Nhà nước ban hành nhưng các chính sách này chính là cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân Từ góc độ chủ thể hoạch định chính sách giữa Đảng và Nhà nước mà có các thuật ngữ: đường lối chính sách, chủ trương chính sách, cơ chế chính sách, chế độ chính sách
* Các loại chính sách và các văn bản thể hiện chính sách
Phân loại chính sách bao gồm: chính sách của Nhà nước (chính sách kinh tế, chính sách đối ngoại, chính sách quốc phòng, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách giáo dục, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách du lịch…); chính sách của cơ quan, đơn vị, công ty (chính sách phát triển, chính sách nhân lực, chính sách kinh doanh…)
Trang 36Các văn bản thể hiện chính sách ở nước ta bao gồm:
1/ Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng;
2/ Các văn bản quy phạm pháp luật: ở Trung ương (Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án tối cao, Thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao; Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước; Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; Thông tư liên tịch…); ở địa phương (nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân);
3/ Các văn bản quy phạm của cơ sở (Nghị quyết của Đại hội Đảng, cấp
uỷ cơ quan, đơn vị, công ty; Nghị quyết của Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức cơ quan, đơn vị, công ty; Nghị quyết của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên công ty; Quyết định của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, công ty);
4/ Các đề án, dự án (của Nhà nước; của cơ quan, đơn vị, công ty…)
* Quy trình ban hành, thực hiện chính sách
Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật Một chính sách được ra đời và đi vào cuộc sống cần có các bước chính: xây dựng (hoạch định) chính sách, thực hiện chính sách; đánh giá, tổng kết chính sách
Xây dựng chính sách là quá trình quyết định điều gì cần đạt được, cần làm gì để đạt được điều đó, làm thế nào, ai làm Ví dụ: sau khi có quyết sách thực thi những biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, việc xây dựng chính sách sẽ bao gồm phân tích những nguyên nhân gây tai nạn; phân bổ tai nạn trên các loại đường, trong các tầng lớp dân cư; những quy định đang có hiệu
Trang 37lực; kinh nghiệm của các nước khác Tiếp đó, có thể phát triển một số phương án giảm thiểu tai nạn như giảm tốc độ, thực thi tốt hơn các quy định hiện có, điều kiện cấp giấy phép ngặt nghèo hơn, tuyên truyền, giáo dục Đồng thời, cần phân tích chi phí và lợi ích của từng phương án, trình các phương án để chính phủ quyết định Tất cả những bước này là xây dựng chính sách Sau khi đã quyết định lựa chọn phương án, có thể bắt đầu soạn thảo luật
về phương án đó trong khuôn khổ pháp luật hiện hành Về lý thuyết, có thể phân biệt giữa chính sách và pháp luật, giữa hoạt động xây dựng chính sách
và soạn thảo luật Nói một cách đơn giản, chính sách là nội dung, còn văn bản luật là vỏ bọc chứa đựng chính sách đó dưới dạng ngôn ngữ và hình thức pháp lý
Ví dụ, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành theo các bước sau: Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết; Soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; Lấy ý kiến về dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; Thẩm định dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ thảo luận, quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra chính thức
dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực; Công bố, đăng Công báo Tương tự như vậy, trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành nghị định của Chính phủ được tiến hành theo các bước: Lập chương trình xây dựng nghị định; Soạn thảo dự thảo nghị định; Lấy ý kiến về dự thảo nghị định; Thẩm định dự thảo nghị định; Chính phủ thảo luận, thông qua nghị định; Thủ tướng Chính phủ ký nghị định; Đăng Công báo
Trang 38Sau khi được xây dựng, chính sách sẽ được ban hành và thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội, qua đó sẽ đánh giá tính toàn vẹn, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu và thực tế Các thời điểm phân tích chính sách diễn ra trước khi ban hành chính sách và sau khi thực hiện chính sách
1.2.3 Đặc điểm của chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay
Trong lĩnh vực du lịch, để ngành du lịch có thể phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, rất cần tới những chủ trương, chính sách phát triển
du lịch thích hợp cho từng thời kỳ Phát triển được hiểu là “vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên” [77, tr.590] hay là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [76, tr.987]
Theo quan điểm của TS Nguyễn Văn Lưu thì:
Chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trương và hành động của Nhà nước để đẩy mạnh phát triển du lịch bằng cách tác động vào việc cung cấp và giá cả của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); tác động tới giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động tới việc thay đổi tổ chức
và năng lực của nguồn nhân lực du lịch; tác động vào chuyển giao công nghệ du lịch Hai vế quan trọng của chính sách là chủ trương
và hành động, chủ trương tốt và hành động quyết liệt sẽ đảm bảo chính sách thành công [41, tr.28]
Xuất phát từ tính chất của ngành du lịch là liên ngành, liên vùng, có tính xã hội cao, các chính sách đối với ngành cũng vì thế mà mang tính đa dạng, phức tạp Các chính sách phát triển du lịch không chỉ có những chính sách nội bộ ngành mà còn có sự tham gia của nhiều ngành khác có liên quan,
vì bản thân du lịch không thể tự phát triển nếu thiếu sự tham gia, hỗ trợ của
Trang 39các ngành khác Theo đề tài nghiên cứu “Hệ thống chính sách phát triển du lịch Việt Nam” của ThS Hồ Thị Kim Thoa [57] thì: “Các chính sách phát triển du lịch hiện nay vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa có hệ thống Đến nay chưa có nghiên cứu nào tổng hợp để có thể nhìn nhận đầy đủ mặt ưu, nhược điểm của các chính sách đối với phát triển du lịch” Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan các lý luận về chính sách du lịch, đề tài chỉ ra rằng hệ thống chính sách phát triển du lịch Việt Nam bao gồm: chính sách du lịch trực tiếp
và chính sách du lịch gián tiếp
- Chính sách du lịch trực tiếp gồm: chính sách phát triển sản phẩm, chính sách thị trường sản phẩm, chính sách hợp tác quốc tế, chính sách xúc tiến quảng bá, chính sách nguồn nhân lực, chính sách cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, chính sách lữ hành, chính sách khoa học công nghệ, chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch, chính sách quản lý chung của ngành
- Chính sách du lịch gián tiếp gồm: các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành; Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng Bộ VHTTDL; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ VHTTDL; Quyết định, Nghị định, Chỉ thị của các Bộ ngành khác [xem thêm Phụ lục 1]
Chính sách phát triển du lịch cũng được quy định trong Điều 6 Luật Du lịch năm 2005 bao gồm 6 điểm như sau:
- Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
- Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư vào các lĩnh vực sau đây: Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường
du lịch; Tuyên truyền, quảng bá du lịch; Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
du lịch; Nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; Hiện đại hóa
Trang 40hoạt động du lịch; Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia; Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng
xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo
- Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của khách du lịch
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác giữa du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và quốc tế
- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hình hành quỹ hỗ trợ phát triển
du lịch từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế đã được nêu rõ trong “Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” với 5 quan điểm phát triển trọng tâm:
- Phát triển du lịch với vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành liên quan phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và mang lại công bằng, tiến bộ xã hội