TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ BUỔI THẢO LUẬN LẦN 7 Môn Luật Lao động Chương 7 Tiền lương Lớp QTL DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN STT Họ và tên MSSV 1 2 3 4 5 6 7 8 CHƯƠNG 7 TIỀN LƯƠNG I Lý thuyết 3 1 Hãy so sánh tiền lương của người lao động làm việc theo HĐLĐ với tiền lương của viên chức nhà nước và tiền công của người nhận gia công 3 2 Phân tích và đánh giá cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu theo pháp luật hiện hành 3 3 Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa các loại tiền lương tối thiểu? Th.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
BUỔI THẢO LUẬN LẦN 7
Môn: Luật Lao động Chương 7: Tiền lương
Lớp: QTL
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN
STT Họ và tên MSSV
1 2 3 4 5 6 7 8
CHƯƠNG 7: TIỀN LƯƠNG
Trang 2I Lý thuyết:
1 Hãy so sánh tiền lương của người lao động làm việc theo HĐLĐ với tiền lương của viên chức nhà nước và tiền công của người nhận gia công.
2 Phân tích và đánh giá cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu theo pháp luật hiện hành.
Cơ sở pháp lý: Điều 91 BLLĐ 2012
Mức lương tối thiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 91 BLLĐ 2012 là:
“Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.”
Căn cứ theo Điều 91 BLLĐ 2012, có thể hiểu đặc điểm về mức lương tối thiểu như sau:
Thứ nhất, tiền lương tối thiểu được áp dụng cho đối tượng là những người lao
động làm những công việc đơn giản, không qua đào tạo
Thứ hai, tiền lương tối thiểu được trả trong điều kiện lao động và môi trường
lao động bình thường Rõ ràng sẽ loại bỏ được trường hợp mức lương tối thiểu sẽ áp dụng cho những người lao động làm những công việc có yếu tố nặng nhọc hoặc trong môi trường nguy hiểm
Thứ ba, tiền lương tối thiểu trả cho người lao động nhằm giúp đảm bảo được
những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ, giúp bù đắp phần nào sức lao động bị tiêu hao
Việc quy định mức lương tổi thiểu tạo khung hành lang pháp lý quan trọng, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động một cách hiệu quả
Tiêu chí Người lao động Viên chức Người nhận gia công
Nguồn tiền chi trả Quỹ lương của người sử dụng lao
động
Quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Tài sản của người
sử dụng
Căn cứ trả lương Mức lương tối thiểu vùng Mức lương cơ sở
Giá thỏa thuận của công việc hoặc sản phẩm
Hình thức trả
lương
Theo giờ, theo sản phẩm hoặc theo khoán
Kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao
Theo kết quả thực hiện công việc
Chủ thể xây
dựng thang lương,
bảng lương
Người sử dụng lao động Nhà nước Không có thang lương, bảng lương
Trang 3Có ba loại mức lương tối thiểu được áp dụng cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động Cụ thể là mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành và mức lương tối thiểu giờ
- Mức lương tối thiểu vùng: Đây là mức lương được áp dụng cho từng vùng lãnh thổ nhất định, trong đó có tính đến những yếu tố đặc thù của vùng lãnh thổ đó như điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ phát triển kinh tế, mức thu nhập bình quân trên đầu người của từng vùng, mức chi tiêu tối thiểu chung của vùng và các yếu tố có liên quan khác như điều kiện làm việc, yếu tố địa lý Hiện nay, mức lương tối thiểu vùng từ 01/01/2020 quy định tại Nghị định số 90/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động Theo đó có bốn mức lương tối thiểu vùng khác nhau, dựa trên mức độ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương Các địa phương thuộc Vùng I, II, III, IV được quy định tại Phụ lục của Nghị định 90/2019/NĐ-CP Mức lương tối thiểu vùng này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm phải đảm bảo không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất và cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề
- Mức lương tối thiểu ngành: Đây là mức lương được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu vùng do Chính phủ quy định
- Mức lương tối thiểu giờ: Mức lương này do Chính phủ công bố dựa trên khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia Pháp luật lao động hiện hành vẫn chưa
có một quy định cụ thể về mức lương tối thiểu giờ
Nguyên tắc về việc xây dựng mức lương tối thiểu giờ:
Thứ nhất, mức lương tối thiểu là cơ sở, là mức nền để quy định các mức tiền
lương khác và dùng để trợ cấp, phụ cấp cho người lao động Nguyên tắc này nhằm mục đích bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động
Thứ hai, tiền lương tối thiểu còn được xem là một công cụ điều tiết của Nhà
nước, nhằm hạn chế sự bóc lột và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường lao động Nguyên tắc này giúp Nhà nước bảo đảm được mục tiêu là bảo vệ người lao động Bên cạnh đó, còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đề ra phương hướng, chính sách định hướng phát triển không chỉ về tiền lương mà còn định hướng phát triển kinh
tế xã hội
Chung quy lại, việc xây dựng mức lương tối thiểu có ý nghĩa vô cùng to lớn, vừa đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong thị trường lao động hiện nay
Trang 43 Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa các loại tiền lương tối thiểu? Theo bạn, Nhà nước
có nên thống nhất tiền lương cơ sở và tiền lương tối thiểu vùng hay không? Vì sao?
Các mức lương tối thiểu hiện hành ở nước ta gồm lương tối thiểu vùng, lương tối thiểu ngành và lương tối thiểu giờ Trong đó mức lương tối thiểu ngành lệ thuộc vào lương tối thiểu vùng cụ thể như khoản 3 điều 91 BLLĐ 2012 quy định về việc
mức lương tối thiểu ngành “… không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố” Sở dĩ có sự lệ thuộc này vì mức lương tối thiểu vùng được đặt ra
với ý nghĩa là mức lương thấp nhất mà người lao động có thể nhận để chi trả đời sống sinh hoạt của họ, nếu mức lương tối thiểu ngành mà thấp hơn thì người lao động không thể chi trả đời sống sinh hoạt hay tái tạo lại hàng hóa sức lao động của mình Còn mức lương tối thiểu theo giờ chỉ mới được quy định gần đây, tuy nhiên tính chất của việc quy định mức lương tối thiểu giờ sẽ tương tự như vùng, nó sẽ tạo cơ sở cho mức lương tối thiểu ngày hoặc tuần Nếu mức lương tối thiểu vùng là quy định cho làm việc trọn thời gian thì mức lương tối thiểu giờ là đối với cho việc làm không trọn thời gian Từ đó nhà sử dụng lao động dễ dàng tính lương, người lao động được đảm bảo và hạn chế khả năng bóc lột, còn nhà nước dễ dàng hơn trong việc bảo vệ người lao động cũng như giải quyết các tranh chấp trong các quan hệ lao động
Theo ý kiến riêng của tôi thì không nên thống nhất tiền lương cơ sở và tiền lương tối thiểu chung với nhau Vì lương cơ sở giống như mức lương nền tảng để xây dựng các bảng lương khác cho người lao động, cán bộ, công chức, viêc chức,… bao gồm tất cả những người được hưởng lương Còn mức lương tối thiểu vùng là mức lương được chia theo từng vùng áp dụng cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động đúng quy định Do đó, nếu đồng nhất hai khái niệm này sẽ dễ dẫn đến xung đột, bất công…
4 Xác định cơ cấu tiền lương theo quy định cấu pháp luật hiện hành.
Bộ luật Lao động quy định chính thức cơ cấu tiền lương, bao gồm: Mức lương theo công việc hoặc chức danh; Phụ cấp lương và Các khoản bổ sung khác
- Mức lương được xác định căn cứ vào giá trị của công việc hoặc yêu cầu cụ thể đối với từng chức danh lao động Mức lương theo quy định tại Khoản 1 Điều 90 BLLĐ còn được gọi là mức lương cơ bản, được thể hiện trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng Trên thực tế, để xác định được mức lương (lương cơ bản) chính xác, người sử dụng lao động cần tổ chức hiệu quả hoạt động phân tích công việc và mô tả công việc Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định Mức lương cơ bản vì vậy được coi là phần chính yếu nhất trong cơ cấu tiền lương
- Phụ cấp lương được coi là khoản tiền bù đắp các yếu tố do biến động, thay đổi, phát sinh về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức
Trang 5lương theo công việc hoặc chức danh Phụ cấp lương ngoài việc bảo đảm công bằng, bình đẳng trong việc trả lương, còn có tác dụng động viên, khuyến khích, thu hút người lao động làm việc ở những ngành nghề, địa bàn, công việc… khó khăn, góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách phân công lao động xã hội trong phạm vi doanh nghiệp, ngành, địa phương và toàn quốc Các chế độ phụ cấp lương có thể bao gồm: phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp thu hút, phụ cấp độc hại, nguy hiểm
- Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, trừ các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động
5 Phân tích và đánh giá việc áp dụng các quy định về việc xây dựng thang lương, bảng lương theo pháp luật hiện hành.
* Phân tích về việc xây dựng thang lương, bảng lương:
- Nội dung nguyên tắc: Điều 7 Nghị định 49/2013/NĐ-CP
- Quy trình:
(1) NSDLĐ tự xây dựng theo nguyên tắc
(2) Tham khảo ý kiến của Tổ chức ĐD TTLĐ tại cơ sở
(3) Công bố công khai cho NLĐ biết
(4) Gửi cho cơ quan quản lý LĐ
- Nguyên tắc :
+ Xây dựng cho lao động quản lý, lao động chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân trực tiếp SX, KD, phục vụ căn cứ vào tổ chức sản xuất và tổ chức lao động của DN
+ Bội số của thang lương là hệ số chênh lệch giữa mức lương của công việc hoặc chức danh có yêu cầu trình độ kỹ thuật cao nhất so với mức lương của công việc hoặc chức danh có yêu cầu trình độ kỹ thuật thấp
+ Số bậc của thang lương, bảng lương phụ thuộc vào độ phức tạp quản lý, cấp bậc công việc hoặc chức danh đòi hỏi
+ Khoảng cách chênh lệch giữa hai bậc lương liền kề ít nhất bằng 5%
* Đánh giá về việc xây dựng bảng lương, thang lương theo pháp luật hiện hành:
- Việc xây dựng thang lương, bảng lương phải tuân thủ các nguyên tắc do pháp luật quy định Theo khoản 2 Điều 93 BLLĐ quy định: khi xây dựng thang lương, bảng lương người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và công bố công khai tại nơi làm việc của người lao động trước khi thực hiện, đồng thời gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện (phòng Lao động – Thương binh và Xã hội) nơi đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động
- Xuất phát từ tính chất phong phú, đa dạng về công việc, ngành nghề và đối tượng lao động sử dụng mà trong doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều loại thang lương,
Trang 6bảng lương khác nhau, như: Thang lương của công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh; Bảng lương chuyên gia cao cấp, nghệ nhân; Bảng lương của các thành viên chuyên trách hội đồng quản trị; Bảng lương viên chức chuyên môn, nghiệp vụ; Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ…
6 Phân tích và đánh giá việc áp dụng các quy định về quy chế tiền thưởng tại doanh nghiệp hiện nay.
- Phân tích quy chế tiền thưởng:
+ Tiền thưởng là khoản tiền mà NSDLĐ thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ (Điều 103 BLLĐ)
+ Chế độ tiền thưởng do hai bên thỏa thuận trong HĐLĐ, TƯLĐTT hoặc theo quy chế thưởng của DN
+ Quy chế thưởng do NSDLĐ quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện TTLĐ tại cơ sở
- Đánh giá việc áp dụng quy chế tiền thưởng:
+ Hiện nay, doanh nghiệp áp dụng rất nhiều các hình thức về tiền thưởng, phúc lợi để thu hút người lao động vào làm việc Mỗi doanh nghiệp cần có một quy chế tiền thưởng tại doanh nghiệp rõ ràng, hợp lý như vậy đảm bảo các hoạt động trong doanh nghiệp được diễn ra đúng quy trình và tốc độ bởi nó giúp người lao động hài lòng về công việc và về công ty nên tốc độ sản xuất, kinh doanh sẽ được đảm bảo
+ Khi xây dựng quy chế tiền lương, thưởng tại doanh nghiệp, doanh nghiệp cần bám sát những quy định của pháp luật về sử dụng lao động, những quy định về mức lương tối thiểu vùng, mức đóng bảo hiểm xã hội, mức lương thử việc để đảm bảo tính pháp lý khi doanh nghiệp hoạt động
+ Người lao động là đối tượng trực tiếp được hưởng các phúc lợi và chế độ lương thưởng của doanh nghiệp, đó đó những ý kiến đóng góp của họ thưởng bám sát thực tế Nhà quản lý cũng nên lắng nghe những góp ý để có thể dung hòa giữa điều kiện của công ty và mong muốn của người lao động từ đó giúp cả hai gắn bó lâu dài hơn
+ Doanh nghiệp cũng cần xem xét sự tương quan về chế độ phúc lợi, lương thưởng của đơn vị mình với những đơn vị khác để khi người lao động đưa ra những lựa chọn sẽ không bị chênh lệch quá nhiều
+ Ngoài những yếu tố về pháp luật của Nhà Nước, ý kiến của người lao động, thị trường lao động bên ngoài thì yếu tố nội tại của doanh nghiệp vẫn đóng một vai trò then chốt Doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc thù công việc, thâm niên và kết quả làm việc để đưa ra những mức thưởng phù hợp cho từng người lao động khác nhau Doanh nghiệp không thể cào bằng để đưa ra mức thưởng chung bởi mỗi nhân viên sẽ có hiệu suất và kết quả làm việc khác nhau Do đó, cần đưa ra những tiêu chí cụ thể để có được mức thưởng cụ thể
Trang 7II Tình huống:
Tình huống 1:
Giải quyết tranh chấp giữa ông Trần Văn Thành( nguyên đơn) và công ty P
(bị đơn).
Các yêu cầu trên của ông Thành được chấp nhận
- Về yêu cầu trả tiền lương còn thiếu và tiền lãi chậm trả
Theo quy định tại Điều 96 BLLĐ 2012 về nguyên tắc trả lương:
“Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.
Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đảng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương”.
Trong tình huống này, Công ty P vẫn còn nợ một phần tiền lương các tháng 11/2016, 02/2017, 4/2017, 7/2107 của ông Thành Như vậy, Công ty P đã chậm thanh toán tiền lương cho ông Thành quá 15 ngày, mà theo điểm b, khoản 2 Điều 24 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định:
“Nểu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền it nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương Khi Ngân hàng Nhà ước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương”.
- Về yêu cầu trả tiền trợ cấp thôi việc:
Công ty P và ông Thành có ký HĐLĐ có thời hạn 03 năm từ 01/8/2014 đến 31/8/2017, hai bên chấm dứt HĐLĐ do HĐLĐ hết thời hạn thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 36 BLLĐ 2012 Theo khoản 1 Điều 48 BLLĐ 2012 quy định về trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc:
“Khi hợp đồng lao động chẩm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”.
Theo đó ông Thành sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc tương ứng với thời gian 3 năm làm việc là 1,5 tháng lương
Vậy, từ các căn cứ pháp lý trên, các yêu cầu của ông Thành được chấp nhận
Trang 8Tình huống 2:
Giải quyết tranh chấp về tiền lương giữa ông Nguyễn Tấn (nguyên đơn) và
Công ty T (bị đơn).
Căn cứ Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP:
“Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá thức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở”.
Ở đây ta cần xem xét để đánh giá chính xác là ông Tấn có không hoàn thành công việc theo quy định của công ty hay không Giả sử công ty đã xác định ông Tấn không hoàn thành công việc thì việc giam lương tháng 6, 7 và 15 ngày của tháng 8/2017 của công ty là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật Công ty chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với ông Tấn căn cứ vào việc ông không hoàn thành công việc theo đúng quy định của pháp luật
Như vậy có thể giải quyết tranh chấp theo hướng sau:
- Về tiền lương, công ty cần phải trả mức lương cơ bản và trợ cấp công việc cho ông Tấn trong suốt gian Hợp đồng lao động còn hiệu lực, tức tiền lương thàng 6,7 và
15 ngày tháng 8 năm 2017 và trả lãi suất chậm chi trả
- Về tiền thưởng, cần xem xét dựa trên cơ sở thỏa thuận trong Hợp đồng lao động hoặc quy chế thưởng, thỏa ước lao động của công ty có quy định Tuy nhiên trong HĐLĐ quy định về tiền thưởng quý là theo mức độ hoàn thành công việc nên từ việc ông Tấn đã không bán được hàng theo doanh số là cơ sở để công ty không phải trả các khoản thưởng quý cho ông
- Về nghỉ phép, ở đây ông Tần đã nghỉ bệnh 4 ngày, căn cứ vào khoản 6 Điều 6 Nghị định 45/2013/NĐ-CP thì thời gian nghỉ do ốm đau được coi là thời gian làm việc
để tính số ngày nghỉ hằng năm Vậy nó không được coi là thời gian nghỉ hằng năm Vậy đối với công ty phải chi trả cho ông Tấn đầy đủ 8 ngày nghỉ phép hằng năm
Tình huống 3:
* Tóm tắt bản án:
Ông Hoàng được Công ty liên doanh TNHH Y tuyển dụng vào làm nhân viên khách sạn Ngày 13/09/2017, trong ca làm việc ông xin phép khách và được đồng ý lái lùi xe của khách vào bãi đậu Tổng Giám đốc công ty đã cảnh cáo ông và không cho nhận thưởng Quý 3/2017 Sau đó công ty có văn bản nhắc nhở ông và quyết định không cho ông nhận thưởng Quý 3/2017
Trả lời câu hỏi:
Trang 9Theo nhóm thì yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Công ty liên doanh TNHH Y trả tiền thưởng Quý 3/2017 số tiền 1.320.000 đồng không được chấp nhận
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 103 BLLĐ 2012 thì tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động Ở đây ông Hoàng đã không hoàn thành nhiệm vụ là hướng dẫn xe vào khách sạn đậu đúng quy định mà trực tiếp lái lùi xe của khách hàng dù có sự ngăn cản của Tổng Giám đốc khách sạn ở đó Sau đó công ty cũng đã gửi thư nhắc nhở ông Hoàng 2 lần nhưng ông vẫn không hợp tác, có ý nhận lỗi
Thứ hai, theo khoản 2 Điều 103 BLLĐ 2012 thì quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc Ở đây Tổng Giám đốc công ty đã ra quyết định về chính sách thưởng Quý 3/2017 là phù hợp với Điều luật trên Mặt khác vì khoản tiền thưởng Quý này không được quy định trong hợp đồng lao động cũng như trong thỏa ước lao động nên đây không phải là nghĩa vụ của công ty mà chỉ là một khoản khuyến khích thêm cho người lao động Do đó, người sử dụng lao động có quyền quy định các điều kiện để người lao động có thể nhận được khoản hỗ trợ trên
Thứ ba, việc Tổng Giám đốc nhắc nhở và công ty gửi thư nhắc nhắc ông Hoàng không phải là hình thức kỷ luật lao động mà chỉ nhằm để nhắc nhở ông thực hiện đúng công việc được giao như thỏa thuận trong HĐLĐ, đồng thời cũng là cơ sở để xem xét việc nhận thưởng theo quyết định về chính sách thưởng của công ty
Ông Hoàng dù đã bị Tổng Giám đốc ngăn cản nhưng tiếp tục thực hiện hành vi không đúng thẩm quyền của mình Tại phiên tòa ông cũng đã thừa nhận mình vi phạm nội quy lao động Mặt khác, về phía công ty mới chỉ nhắc nhở chứ chưa đưa ra quyết định kỷ luật nào
Vậy việc công ty không trả tiền thưởng quý 3/2017 với số tiền lá 1.320.000 là hợp lý và có cơ sở