1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT MÔN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

12 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 323,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề 1: Được lơi về tài sản không có căn cứ pháp luật Vấn đề 2: Giao kết hợp đồng có điều kiện phát sinh Vấn đề 3: Hợp đồng chínhphụ vô hiệu Vấn đề 4: Phân biệt thời hiệu khởi kiện tranh chấp về tài sản và về hợp đồng Câu 1: Những điểm khác biệt giữa thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng và thời hiệu khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

Trang 1

BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT Vấn đề 1: Được lơi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Câu 1: Thế nào là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật?

Trả lời:

Được lợi về về tài sản không có căn cứ pháp luật là sự phát sinh quyền chiếm hữu sử dụng tài sản cử một chủ thể đối với một tài sản của chủ thể khác nhưng không dựa trên những căn cứ do do pháp luật quy định

“Là sự gia tăng tài sản hoặc phát sinh quyền chiếm hữu, sử dụng của của một chủ thể đối với tài sản nhưng không dựa theo căn cứ do pháp luật quy định

Là việc tránh được những khoản chi phí để đảm bảo, giữ nguyên tài sản mà lẽ ra tài sản phải bị giảm sút”1

Câu 2: Vì sao được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Trả lời:

- Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đáng lẽ được lợi về tài sản nhưng trên thực tế đã không được

- Đảm bảo tính bình đẳng, công bằng vì thực tế chủ thể đã được lợi về tài sản nhưng pháp luật không thừa nhận quyền được nhận lợi ích đó Cho nên cần phải có một nghĩa vụ phát sinh (như hoàn trả, bồi thường, )

Câu 3: Trong điều kiện nào người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật có trách nhiệm hoàn trả?

Trả lời:

- Sự được lợi về tài sản đó không dựa trên căn cứ do pháp luật quy định

- Sự được lợi về tài sản của một người đã gây ra thiệt hại cho tài sản của chủ sở hữu (tài sản bị mất hoặc giảm sút), hay nói một cách khác sự gia tăng hay giữ nguyên được tình trạng tài sản như cũ (được lợi) của một người là nguyên nhân làm cho tài sản của chủ sở hữu bị giảm sút hoặc mất đi

- Người được lợi về tài sản không biết đó là tài sản của người khác mà coi là tài sản của mình

Câu 4: Trong vụ việc được bình luận, đây có là trường hợp được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật không? Vì sao?

Trả lời:

1

Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng

Đức - Hội Luật gia Việt Nam năm 2017, Chương 1, Trang 36

Trang 2

Trong vụ việc được bình luận, đây là trường hợp được lợi về tài sản không có căn

cứ pháp luật

Để được xem là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật thì phải dựa vào những điều kiện sau đây2:

Thứ nhất: Sự được lợi về tài sản của một người đã gây ra thiệt hại về tài sản cho

chủ sở hữu, hay nói một cách khác sự gia tăng hay giữ nguyên được tình trạng tài sản như cũ (được lợi) của một người là nguyên nhân làm cho tài sản của chủ sở hữu bị giảm sút hoặc bị mất

Thứ hai: Sự được lợi về tài sản đó không dựa trên căn cứ do pháp luật dân sự quy

định

Thứ ba: Người được lợi về tài sản không biết tài sản đó là của người khác, mà

nghĩ rằng đó là tài sản của mình

Xét vụ việc trên, Ngân hàng chuyển nhầm một khoản tiền vào tài khoản của anh

T Anh T đã sử dụng khoản tiền ấy tức đã làm giảm sút tài sản theo điều kiện thứ nhất Anh T không có quyền sử dụng khoản tiền đó, bởi đó là số tiền mà ngân hàng chuyển nhầm không có căn cứ xác lập quyển sở hữu của anh T đối với chúng – điều này thỏa điều kiện thứ hai

Từ đó có thể cho thấy, trường hợp trong vụ việc đang được bàn luận là trường hợp được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Câu 5: Nếu Ngân hàng không rút yêu cầu tính lãi chậm trả thì phải xử lý như thế nào? Cụ thể, anh T có phải chịu lãi không? Nếu chịu lãi thì chịu lãi từ thời điểm nào, đến thời điểm nào và mức lãi là bao nhiêu?

Trả lời:

Nếu phải chịu lãi thì anh T chịu lãi từ thời điểm 22/11/2016 đến khi anh T trả hết

số tiền với mức lãi suất 10%/năm

Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm tôi, nếu Ngân hàng không rút yêu cầu tính lãi chậm trả thì anh T vẫn không phải chịu lãi Bởi lẽ việc chuyển nhầm tiền là do phía Ngân hàng sơ suất Mặc dù anh T có sử dụng số tiền đó, nhưng chỉ nên buộc anh T trả lại đúng số tiền mà ngân hàng đã chuyển nhầm

Vấn đề 2: Giao kết hợp đồng có điều kiện phát sinh

Câu 1: Bộ luật Dân sự có cho biết thế nào là hợp đồng giao kết có điều kiện phát sinh không?

Trả lời:

2

Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2017, Chương 1, tr 38-40

Trang 3

Trong cả Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều có quy định

về hợp đồng dân sự có điều kiện nhưng không nói cụ thể thế nào là hợp đồng giao kết

có điều kiện phát sinh Trong cả hai điều khoản của điều luật chỉ nhắc đến điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ của hợp đồng Định nghĩa hợp đồng giao kết có điều kiện phát sinh không được quy định trong luật Tuy vậy, có thể hiểu: “Hợp đồng có điều kiện là những hợp đồng mà khi giao kết, các bên còn thỏa thuận để xác định về một sự kiện để khi sự kiện đó xảy ra thì hợp đồng được thực hiện hoặc chấm dứt”3

Ví dụ như: Mẹ A nói với A: nếu A được học bổng HK1 của năm 2 ở Trường Đại học Luật TP.HCM thì A sẽ được mẹ tặng cho một chiếc laptop mới Trường hợp A dành được học bổng tức điều kiện đã đạt được thì làm phát sinh hợp đồng (ở đây là hợp đồng tặng cho) Ngược lại nếu A không dành được học bổng thì hợp đồng tặng cho ấy bị hủy bỏ

Câu 2: Trong trường hợp bên chuyển nhượng tài sản chưa có quyền sở hữu tại thời điểm giao kết nhưng đang làm thủ tục hợp thức hóa quyền sở hữu, có quy định nào của Bộ luật Dân sự coi đây là hợp đồng giao kết có điều kiện không?

Trả lời:

Áp dụng Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng trong trường hợp trên có thể được coi là hợp đồng có điều kiện Điều kiện phát sinh hợp đồng là khi bên chuyển nhượng hoàn tất việc hợp thức hóa quyền sở hữu Nếu hai bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh đó thì hợp đồng được xem là hợp đồng có điều kiện

Câu 3: Trong quyết định số 14, Tòa án nhân dân tối cao có coi hợp đồng trên là hợp đồng giao kết có điều kiện không?

Trả lời:

Trong quyết định số 14 nêu trên, Tòa án xác định hợp đồng giữa bà Tao và vợ chồng ông Phương, bà Thanh là hợp đồng có điều kiện Vì hai bên đã có các thỏa thuận cho hợp đồng - đối tượng, giá cả Còn lại là điều kiện phát sinh hợp đồng, bà Tao chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất tại 36 Hoàng Thị Diệu, nhưng trong tương lại bà Tao sẽ được mua hóa giá và được chuyển quyền sở hữu

Câu 4: Ngoài bản án này còn có quyết định nào khác đề cập đến vấn đề này không?

Trả lời:

Đề cập về vấn đề này, ngoài bản án này còn có trường hợp tại Quyết định số 403/2011/DS-GĐT ngày 25/5/2011 của Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao Bà Ngọc xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Thu, với điều kiện là

3 Trần Thị Thu Quỳnh, Hợp đồng dân sự có điều kiện – Luận văn thạc sĩ ngành Luật Dân sự, năm 2011, trang 4

Trang 4

khi nào bà Ngọc hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì sẽ chuyển nhượng cho bà Thu

Câu 5: Cho đến khi Ủy ban nhân dân bán hóa giá nhà và cấp giấy chứng nhận cho bà Tao, hợp đồng chuyển nhượng có tranh chấp đã tồn tại chưa? Vì sao?

Trả lời:

Cho đến khi Uỷ ban nhân dân bán hóa giá căn nhà và cấp giấy chứng nhận cho

bà Tao, hợp đồng chuyển nhượng có tranh chấp chưa tồn tại

Vì theo cơ sở pháp lý tại Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 1995 về Giao dịch dân sự

có điều kiện thì “Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc

hủy bỏ giao dịch dân sự, thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc

bị hủy bỏ.” Như vậy, sau khi Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bán hóa giá

nhà và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở thì lúc này điều kiện đã xảy ra, tức là lúc này hợp đồng chyển nhượng có tranh chấp đã phát sinh Vì vậy, cho đến khi Ủy ban nhân dân bán hóa giá nhà và cấp giấy chứng nhận cho bà Tao, hợp đồng chuyển nhượng chưa tồn tại

Từ các hợp đồng mua bán và thỏa thuận trong vụ việc, có căn cứ kết luận hợp đồng mua bán ngôi nhà số 36 Nguyễn Thị Diệu ngày 27/8/2000 giữa bà Tao và ông Phương là có thật, được kí kết trên tinh thần tự nguyện của các bên Tại thời điểm bà Tao kí hợp đồng mua bán căn nhà này cho vợ chồng ông Phương thì bà Tao đã được Công ty quản lý kinh doanh nhà thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ký hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở4 (Hợp đồng số 207/HĐMBNƠ.1 ngày 21/8/2000 và “phiếu thanh toán tiền mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở” số 207.A/PTT.1 cho bà Tao) Khi này thì hợp đồng chuyển nhượng mới thực sự tồn tại

Câu 6: Hệ quả pháp lý khi bà Tao có chủ quyền sở hữu nhà có tranh chấp?

Trả lời:

Khi bà Tao có chủ quyền sở hữu, lúc này bà Tao đã thực sự có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu (bao gồm quyền định đoạt tài sản) Theo Quyết định 14/2015/DS-GĐT ngày 18/5/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng mua bán ngôi nhà 36 Nguyễn Thị Diệu giữa bà Tao với vợ chồng ông Phương bà Thanh là hợp đồng có điều kiện (điều kiện là sau khi bà Tao hoàn thành thủ tục mua hóa giá nhà và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 36 Nguyễn Thị Diệu, thì hai bên sẽ làm thủ tục mua bán nhà) Vì vậy sau khi Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bán hóa giá nhà và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở (điều kiện đã xảy ra), thì bà Tao phải thực hiện hợp

4 Quyết định số 26/2007/DS-GĐT ngày 12/7/2007 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao

Trang 5

đồng mua bán nhà với ông Phương Nếu bà Tao không đi công chứng, chứng thực theo thỏa thuận thì làm cho hợp đồng vô hiệu về mặt hình thức và đây là do lỗi của bà Tao Theo quy định của Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn

áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình” thì bà Tao phải bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu gây ra

Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc vận dụng các quy định liên quan đến giao kết hợp đồng có điều kiện

Trả lời:

Trong một số trường hợp sự thống nhất giữa các bên chưa đủ để hình thành hợp đồng vì việc giao kết hợp đồng còn phụ thuộc vào một điều kiện nào đó5

Pháp luật nước ta (trong Bộ luật Dân sự năm 1995 Điều 134 và khoản 1 Điều 125 Bộ luật Dân

sự năm 2005) cũng như pháp luật nhiều nước đều chấp nhận việc giao kết hợp đồng có điều kiện Trong thực tiễn xét xử, Tòa án đã có nhiều bản án công nhận giao kết hợp đồng có điều kiện Chẳng hạn trong Quyết định số 14/2015/DS-GĐT ngày 18/5/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các bên đều thống nhất với nhau

về hợp đồng mua bán nhà nhưng hợp đồng mua bán nhà vẫn chưa tồn tại vì còn phụ thuộc vào một yếu tố trong tương lai (điều kiện) Ở giai đoạn này các bên chưa có quan hệ hợp đồng mua bán nhà mà chỉ là các chủ thể trong “dự án” mua bán nhà Nói đến điều kiện trong Bộ luật Dân sự thì điều kiện phải là một yếu tố trong tương lai

“nhưng không chắc chắn xảy ra trong tương lai”6 Điều kiện có thể do các bên thỏa thuận minh thị hay ngầm định, và ở Quyết định đang xem xét thì điều kiện phát sinh giao dịch là ngầm định và được Tòa án chấp nhận Thuật ngữ điều kiên tương đối trừu tượng và có nghĩa tương dối khác nhau tùy theo hoàn cảnh Chẳng hạn theo khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“giao dịch dân sự có hiệu lực khi đủ các điều kiện sau đây” Ở đây Bộ luật Dân sự dung thuật ngữ điều kiện nhưng để chỉ điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chứ không phải là điều kiện phát sinh hợp đồng7 Thực ra việc phát hiện các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh giao dịch (hợp đồng) như trên không mâu thuẫn ý chí các bên: các bên ngầm hiểu là khi có quyền sở hữu thì việc chuyển nhượng mới thực sự tồn tại Hướng giải quyết này là thuyết phục và cần được duy trì cũng như phát triển trong các

vụ án tương tự trong tương lai Phần trên cho thấy khi điều kiện xảy ra thì giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh Tuy nhiên giao dịch này chỉ mới phát sinh mà thôi Ở giai đoạn này giao dịch mới hình thành, bắt đầu tồn tại còn việc giao dịch có giá trị

5 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt nam

2018 (xuất bản lần thứ bảy), Bản án số 29-32, tr.234

6 Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, t1,

tr.291

7

Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt nam

2018 (xuất bản lần thứ bảy), Bản án số 29-32, tr.236

Trang 6

pháp lý hay không còn phụ thuộc vào việc giao dịch này có thỏa mãn những điều kiện

về nội dung và hình thức để có hiệu lực hay không Đối với việc chuyển nhượng trong

vụ việc đã cho, để có giá trị pháp lý hợp đồng chuyển nhượng này cần phải thỏa mãn những điều kiện có hiệu lực thông thường áp dụng cho hợp đồng này Hội đồng thẩm phán cũng theo hướng này và chúng em cho rằng là khá thuyết phục Tức là khi điều kiện xảy ra, bà Tao không thực hiện (không đi công chứng, chứng thực theo thỏa thuận) nên đã làm hợp đồng bị vô hiệu về hình thức Có thể thấy hướng hiểu và áp dụng chế định này vào thực tiễn của Tòa án là phù hợp và cần được áp dụng rộng rãi cho các vụ việc tương tự trong giao kết hợp đồng có điều kiện

Vấn đề 3: Hợp đồng chính/phụ vô hiệu

Câu 1: Thế nào là hợp đồng chính và hợp đồng phụ? Cho ví dụ minh họa đối với mỗi loại hợp đồng

Trả lời:

Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ (khoản 3 Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015 )

Hợp đồng chính là một hợp đồng tồn tại độc lập và được công nhận là có hiệu lực không lệ thuộc vào sự tồn tại của hợp đồng phụ, cũng như hiệu lực của hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên rõ ràng có những thỏa thuận ngược lại

Luật không nói rõ tính chất pháp lý ràng để phân biệt cả 2 loại hợp đồng

Theo quan điểm của TS Lê Minh Hùng viết trong Giáo trình Pháp luật về hợp

đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hợp đồng chính và hợp đồng phụ

được hiểu như sau:

“Hợp đồng chính là một hợp đồng tồn tại độc lập và được công nhận là có hiệu lực không lệ thuộc vào sự tồn tại của hợp đồng phụ, cũng như hiệu lực của hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên rõ ràng có thỏa thuận ngược lại…”8

“Hợp đồng phụ chỉ có thể xác lập, tồn tại cùng với hợp đồng chính và có hiệu lực

lệ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính Khi hợp đồng chính vô hiệu, hợp đồng phụ

sẽ bị chấm dứt (khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015) Khi hợp đồng chính bị

vi phạm, thì hợp đồng phụ mới có thể được thực hiện.”9

Ví dụ minh hoạ:

Hợp đồng vay tiền có bão lãnh giữa A và B thì trong quan hệ dân sự này có 2 loại hợp đồng, đó là hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng vay mượn Hợp đồng vay là hợp đồng chính và hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng phụ

8 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức -

Hội Luật gia Việt Nam, Chương 2, tr 130

9

Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức -

Hội Luật gia Việt Nam, Chương 2, tr 130

Trang 7

Câu 2: Trong vụ việc trên, ai là người (chủ thể) có nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng?

Trả lời:

Trong vụ việc trên, có 2 loại hợp đồng hiện hữu Đó là hợp đồng vay tiền và hợp đồng thế chấp bằng bất động sản (hợp đồng bão lãnh) Cả 2 hợp đồng có mối liên kết chặt chẽ với nhau Ta xác định hợp đồng vay là hợp đồng chính còn hợp đồng thế chấp

là hợp đồng phụ

Theo khoản 3 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“2 Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

3 Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng

Vậy sự vô hiệu của hợp đồng thế chấp (hợp đồng phụ) không ảnh hưởng gì tới hợp đồng chính là hợp đồng vay mượn giữa công ty Thiên Minh và Ngân hàng nên công ty vẫn phải trả cho ngân hàng số tiền đã vay

Câu 3: Bà Quế tham gia quan hệ trên với tư cách gì? Vì sao?

Trả lời:

Dựa theo khoản 1 Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa

vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên

Trong tình huống trên, bà Quế là bên thứ ba đứng ra bảo lãnh cho công ty Thiên Minh về khoản nợ mà Ngân hàng cho công ty vay Vì vậy, có thể xác định bà Quế tham gia quan hệ trên với tư cách là người bảo lãnh

Câu 4: Việc Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu có thuyết phục hay không? Vì sao?

Trả lời:

Thuyết phục

Vì những lý do sau:

Thứ nhất, ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng Bà Quế đã vượt quá giới hạn

khi thế chấp nhà mà không có sự đồng ý của chồng

10

Khoản 3 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

11 Khoản 1 Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 8

Theo Điều 35 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“1 Việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận

2 Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng kí quyền sở hữu;

Câu 5: Theo Tòa án, bà Quế có còn trách nhiệm gì đối với Ngân hàng không?

Trả lời:

Theo Tòa án thì “không có cơ sở để buộc bà Quế phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các khoản nợ nêu trên [các khoản nợ đối với Ngân hàng].”13

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong vụ việc trên liên quan đến trách nhiệm của bà Quế

Trả lời:

Hướng giải quyết trên của Tòa án là chưa hoàn toàn hợp lý Vì:

Theo như ý kiến của PGS.TS Đỗ Văn Đại thì: “chúng ta có hai quan hệ hợp đồng chính/phụ [trong quan hệ bảo lãnh vay tài sản]: Cặp thứ nhất là hợp đồng vay với hợp đồng bảo lãnh và ở đây hợp đồng vay là hợp đồng chính còn hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng phụ (phục vụ cho hợp đồng vay) Cặp thứ hai là hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng thế chấp; trong cặp này hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng chính còn hợp đồng thế chấp là hợp đồng phụ (phục vụ cho hợp đồng bảo lãnh) Trong trường hợp này, hợp đồng thế chấp vô hiệu và không ảnh hưởng đến hợp đồng chính là hợp đồng bảo lãnh trên cở sở quy định trên của Bộ luật dân sự: khi hợp đồng thế chấp vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức (như không công chứng, chứng thực) hay điều kiện về nội dung (như không có sự đồng ý của các đồng sở hữu) thì sự vô hiệu này không ảnh hưởng tới hợp đồng bảo lãnh.”14

Tòa tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu là đúng nhưng việc Tòa tuyên là “không

có cơ sở để buộc bà Quế phải chịu trách nhiệm dân sự đối với khoản nợ nêu trên” đồng nghĩa với việc Tòa mặc nhiên công nhận hợp đồng bảo lãnh vô hiệu là không thuyết phục

12

Điều 35 Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

13 Trích phần Tình huống; Đề cương bài tập tuần, tháng, lớn: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng

14

Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

2017, tr 912

Trang 9

Tuy nhiên, để bảo vệ người bảo lãnh là bà Quế, Tòa án nên thiết lập một giải pháp trung hòa: bà Quế - người bảo lãnh chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa

vụ tương đương với phần tài sản mà họ có quyền định đoạt để thế chấp

Vấn đề 4: Phân biệt thời hiệu khởi kiện tranh chấp về tài sản

và về hợp đồng

Câu 1: Những điểm khác biệt giữa thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng

và thời hiệu khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu tài sản

Trả lời:

Tiêu chí

đánh giá

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về

quyền sở hữu tài sản

Cơ sở

pháp lý

Điều 429 Điều 588, Điều 623, Điều 671 Bộ luật Dân sự năm

2015, Khoản 3, 4 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011

Thời

gian

khởi

kiện

Về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự là

03 năm

(Điều 429)

Về bồi thường thiệt hại 03 năm (Điều 588)

Về thừa kế đối với động sản 10 năm (khoản 1 Điều 623)

Về thừa kế đối với bất động sản 30 năm (Khoản 1 Điều 623)

Về Thời hiệu đối với yêu cầu xác nhận quyền thừa

kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm (Khoản 2 Điều 623)

Về Thời hiệu đối với yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm (Khoản 3 Điều 623)

Về tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp

về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; Tranh chấp không thuộc những trường hợp quy định trên thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân

sự là hai năm

Về trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải

Trang 10

quyết việc dân sự là một năm

Thời

điểm bắt

đầu

Kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp của mình pháp bị xâm phạm

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là

03 năm kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích của mình hợp pháp bị xâm phạm (Điều 588)

Thời hiệu đối với yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác (Khoản 2, Điều 623);

Thời hiệu đối với yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để, kể từ thời điểm mở thừa kế (Khoản 3, Điều 623)

Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; Tranh chấp không thuộc những trường hợp quy định trên thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân

sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm ( Khoản 3, 4 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004)

Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu (Khoản 3, 4 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004)

Câu 2: Theo anh/chị, tranh chấp về số tiền 45 triệu đồng là tranh chấp hợp đồng hay tranh chấp về quyền sở hữu tài sản? Vì sao?

Trả lời:

Theo nhóm tranh chấp về số tiền 45 triệu đồng (tiền phạt do vi phạm thỏa thuận đặt cọc) là tranh chấp về hợp đồng vì đây là số tiền phát sinh từ hợp đồng đặt cọc giữa

V và P do một bên vi phạm thỏa thuận đặt cọc

Ngày đăng: 11/10/2022, 10:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w