Theo vụ án, ông Bình mất không để lại di chúc, và sau này bà Như lập di chúc và di chúc được xem là hợp pháp vì lúc lập bà Như vẫn minh mẫn để lại toàn bộ tài sản cho cho vợ chồng ông Tr
Trang 1BÀI TẬP THÁNG THỨ HAI
(TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ)
Bộ môn: Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế
Giảng viên: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Nhóm: 02
Thành viên:
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 5 năm 2020
Trang 3VẤN ĐỀ 1:
HÌNH THỨC SỞ HỮU
1.1 Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.
Theo BLDS năm 2005, có 6 hình thức sở hữu (từ Điều 200 đến Điều 232) bao gồm:
(1) Sở hữu nhà nước: từ Điều 200 đến Điều 207.
Theo Điều 200: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định.”
(2) Sở hữu tập thể: từ Điều 208 đến Điều 210.
Theo Điều 208: “Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi.”
(3) Sở hữu tư nhân: từ Điều 211 đến Điều 213.
Theo Điều 211:
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình
- Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân
(4) Sở hữu chung: từ Điều 214 đến Điều 226 Theo Điều 214:
- Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản
- Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất
- Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung
(5) Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: từ Điều 227 đến
Điều 229
Theo Điều 227: “Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là sở hữu của tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung quy định trong điều lệ.”
Trang 4(6) Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp: từ Điều 230 đến Điều 232.
Theo Điều 230: “Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung của các thành viên được quy định trong điều lệ.”
1.2 Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình thức sở hữu trong BLDS.
Theo BLDS năm 2015, có 3 hình thức sở hữu (từ Điều 197 đến Điều 220) bao gồm:
(1) Sở hữu toàn dân: từ Điều 197 đến Điều 204.
Theo Điều 197: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”
(2) Sở hữu riêng: Điều 205 và 206.
Theo khoản 1 Điều 205: “Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.”
(3) Sở hữu chung: từ Điều 207 đến Điều 220.
Theo khoản 1 Điều 207: “Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.”
1.3 Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức sở hữu giữa hai
Bộ luật.
Theo nhóm em, những thay đổi về hình thức sở hữu của BLDS năm 2015 là hợp lý Vì nếu theo hướng phân chia hình thức sở hữu dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể như BLDS năm 2005 thì sẽ phát sinh những vấn đề như sau:
- Thứ nhất, Việc liệt kê chủ thể như BLDS năm 2005 là chưa khoa học vì sự
liệt kê có thể chưa đầy đủ vì có thể có nhiều loại hình tổ chức, các nhóm người phát sinh Nếu như có một thành phần kinh tế mới xuất hiện trong xã hội thì BLDS lại phải sửa, như vậy tính ổn định của BLDS không cao Và việc chỉnh sửa, bổ sung thêm Điều luật là rất tốn thời gian
Trang 5- Thứ hai, Nội dung của một số hình thức sở hữu được quy định trong BLDS
năm 2005 là không có sự khác biệt ngoại trừ chủ thể sở hữu, vì vậy không có ý nghãi về mặt pháp lý khi không chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa các hình thức sở hữu
- Thứ ba, Theo quy định BLDS năm 2005 thì sở hữu tập thể là một hình thức
sở hữu độc lập nhưng về cơ bản, đây chỉ là sở hữu của pháp nhân là hợp tác xã
Trang 6VẤN ĐỀ 2:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
Tóm tắt Quyết định số 382/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008
Nguyên đơn là bà Dương Thị Thu Nga (là con nuôi của người để lại di sản là ông Bình và bà Như), bị đơn là ông Trương Cẩm Truyền (cháu coi người để lại di sản là cậu mợ) về “Tranh chấp đòi tài sản” là căn nhà số 8/7 bic Nguyễn Trãi, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên Theo vụ án, ông Bình mất không để lại
di chúc, và sau này bà Như lập di chúc (và di chúc được xem là hợp pháp vì lúc lập
bà Như vẫn minh mẫn) để lại toàn bộ tài sản cho cho vợ chồng ông Truyền và bà Hằng Nhưng theo Tòa dân sự thì di chúc của bà Như chỉ hợp lý một phần vì đối với phần di sản của bà, còn phần di sản của bà Nga thì bà Như không được định đoạt (do ông Bình mất không để lại di chúc nên phần di sản của ông Bình được chia theo pháp luật) Bên cạnh đó theo Viện kiệm sát bà Nga đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, nhưng theo Tòa dân sự không có cơ sở để khẳng định việc vi phạm của bà Nga Do đó Tòa dân sự giao lại
hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm xét xử lại
Tóm tắt Quyết định số 545/2009/DS-GĐT ngày 26/10/2009 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
2.1 Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người làm di chúc không minh mẫn thì di chúc có giá trị pháp lý không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người làm di chúc không minh mẫn thì di chúc không có giá trị “nhưng Bộ luật Dân sự không cho biết khi nào cá nhân “minh mẫn, sáng suốt”1
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS năm 2015 về Di chúc hợp pháp:
“Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép”
BLDS quy định một di chúc hợp pháp khi người lập di chúc “minh mẫn, sáng suốt” Từ đó có thể suy ra, nếu người lập di chúc không minh mẫm thì di chúc sẽ không hợp pháp, tức là không có giá trị pháp lý
1 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia
Việt Nam (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 35-37, Tập 1, tr.340.
Trang 72.2 Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Tòa phúc thẩm
đã quyết định như vậy?
Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như không minh mẫn Đoạn 3 phần xét thấy cho câu trả lời: “[ ] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không công nhận di chúc của bà Như lập ngày 1/1/2005 là di chúc hợp pháp vì lý do Bệnh xá Công an tỉnh An Giang không có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc”
Tòa phúc thẩm đã quyết định như vậy do Tòa cho rằng Bệnh xá Công An tỉnh
An Giang không có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc Có ý kiến cho rằng:
“Cách lập luận này rất lạ vì, điểu pháp luật yêu cầu không phải ai là người khám sức khỏe mà là cần quan tâm tới yếu tố minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc; yếu tố này có thể xác định bằng mọi phương tiện”2
2.3 Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2005 cụ Như có minh mẫn không? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy vì Tòa căn cứ vào xác nhận của người viết hộ, người làm chứng để xác định người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt
Đoạn 3 phần Xét thấy, theo Tòa giám đốc thẩm: “Trong quá trình giải quyết
vụ án ông On, ông Kiếm và ông Hiếu đều có lời khai xác nhận tại thời điểm và Như lập di chúc, trạng thái tinh thần của và Như vui vẻ, minh mẫn Ông On, ông Kiếm
và ông Hiếu không phải là người được hưởng thừa kế, không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc, nên có cơ sở xác định di chúc của bà Như nêu trên đã thể hiện đúng ý chí của bà Như khi lập di chúc Do đó, theo quy định tại các Điều 655, 656, 657 và 659 của Bộ luật Dân sự năm 1995 thì có đủ
cơ sở để xác định di chúc của bà Như lập ngày 1/1/2005 là di chúc hợp pháp”
2 Đỗ Văn Đại (2019), Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia
Việt Nam (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 35-37, Tập 1, tr.342.
Trang 82.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Theo nhóm em, hướng giải quyết trên của Tòa án giám đốc thẩm là hợp lý Vì tòa án đã căn cứ vào xác nhận của người viết hộ, người làm chứng tại thời điểm lập
di chúc cụ Như vẫn minh mẫn Bên cạnh đó, căn cứ vào kết luận của bá sĩ Hiền về tình trạng sức khỏe và tinh thần của bà Như được ghi trong giấy chứng nhận khám sức khỏe ngày 26/12/2004, trước ngày bà Như lập di chúc 5 ngày không mâu thuẫn với lười khai xác nhận của người viết hộ và người làm chứng Vì vậy có có sở để khẳng định bà Như minh mẫn trong lúc lập di chúc
Bộ luật Dân sự chưa nêu rõ xác định trạng thái minh mẫn của người lập di chúc vào thười điểm mào Tuy nhiên việc quy định “người lập di chúc” phải minh mẫn, sáng suốt cho phép suy luận rằng Bộ luật Dân sự theo hướng xác định trạng thái minh mẫn, sáng suốt của cá nhân vào thười điểm lập di chúc Do đó, nếu ở thời điểm lập di chúc cá nhân minh mẫn, sáng suốt nhưng sau đó không còn khả năng này thì di chúc vẫn có thể có giá trị pháp lý
Vì vậy, theo lời của mọi người có mặt trong lúc làm chứng cho di chúc thì lúc lập di chúc bà Như vẫn minh mẫn, do vậy di chúc của bà Như vẫn hợp pháp, cho dù sau đó bà không còn minh mẫn Vì vậy, nhóm em cùng ý kiến với quyết định của Tòa giám đốc thẩm
2.5 Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa phúc thẩm
đã quyết định như vậy?
Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập
di chúc ngày 3/1/ 2001 cụ Biết không minh mẫn Tòa án phúc thẩm đã quyết định như vậy vì Tòa án cho rằng:
- Cụ Biết lập di chúc ngày 3/1/2001 đã 84 tuổi Dựa vào đây có thể hiểu ý của Tòa, người lập di chúc đã cao tuổi và có những ứng xử, hành vi mâu thuẫn với nhau hay không đúng thực tế do đó không có cơ sở để cho rằng người này còn minh mẫn, sáng suốt nếu không có chứng cứ khác
- Bên cạnh đó, trước ngày lập di chúc, vào tháng 11, 12 năm 2000 cụ Biết phải nhập viện điều trị với triệu chứng theo chuẩn đoán là “thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp”; cụ Biết lập di chúc ngày 3/1/2001 thì ngày 14/1/2001 cụ biết chết Do
đó, Tòa phúc thẩm cho rằng cụ Biết lập di chúc trong tình trạng thiếu minh mẫn, sáng suốt
Trang 92.6 Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2001 cụ Biết có minh mẫn không? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc, khi lập di chúc ngày 3/1/ 2001 cụ Biết vẫn minh mẫn Tòa án phúc thẩm đã quyết định như vậy vì Tòa án đã căn cứ các lời khai của có người có liên quan, như:
- Các lời khai của ông Dầm (người chứng kiến quá trình lập di chúc) ngày 7/2/2002 và của ông Thắng (người viết hộ di chúc) ngày 1/4/2002 đều xác nhận khi lập
di chúc, cụ Biết là người minh mẫn và đọc (nói) nội dung di chúc cho ông Thắng viết
- Bên cạnh đó, theo lời khai của bà Mỹ (người thuê vườn cây của cụ Biết) ngày 11/3/20002 thì trước ngày ký hợp đồng một tuần, cụ Biết có gọi bà Mỹ đến để thỏa thuận về việc thuê vườn cây và khi cụ biết điểm chỉ vào bản hợp đồng thì cụ Biết là người minh mẫn, còn chỉ dẫn cho bà Mỹ cách chăm sóc vườn cây Và được biết ngày bà
Mỹ và cụ Biết ký hợp đồng thuê vườn cây là ngày 4/1/2001
Vì vậy, dựa vào các lời khai trên, Tòa giám đốc thẩm cho rằng cụ Biết vẫn minh mẫn trong lúc lập di chúc ngày 3/1/2001
2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
2.8 Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
BLDS năm 2005 (Điều 671) và BLDS năm 2015 (Điều 646) đều có quy định
về di tặng và về cơ bản các quy định trong các Bộ luật không có sự thay đổi Theo khoản 1 Điều 646 BLDS năm 2015: “Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc”
2.9 Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Di tặng là một dạng di chúc đặc biệt nên chịu sự điều chỉnh chung của di chúc
Vì vậy điều kiện để di tặng có giá trị pháp lý:
Trang 10- Thứ nhất, di tặng chỉ có hiệu lực “sau khi người có tài sản di tặng chết”3 vì
“di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế” (khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2015)
- Thứ hai, tài sản được di tặng phải là tài sản của người di tặng vì “di chúc là
sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi
chết” (Điều 624 BLDs năm 2015)
- Thứ ba, người được di tặng là người thừa kế theo di chúc nên các quy định
về người thừa kế theo di chúc cũng được áp dụng như “người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa
kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” (khoản 2 Điều 646 BLDS năm 2015)
2.10 Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng tài sản riêng và chung cho ba cháu ngoại là ông Hùng, bà Diễm và ông Hoàng Theo lời khai của bị đơn tại trang
2 bản án cho câu trả lời:
Ngoài ra, bà Thuyết còn khai như sau: Ngày 20/9/1997 cụ Biết đã lập tờ truất quyền hưởng thừa kế, có nội dung: Cụ Biết được cụ Kiệt giao quyền định đoạt tài sản theo tờ ủy quyền ngày 16/7/1997, cụ Biết truất quyền hưởng thừa kế của bà Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt đối với những tài sản chung và riêng của cụ Kiệt, cụ Biết tại ấp Bình Phước Cụ Biết di tặng tài sản riêng và chung cho ba cháu ngoại là ông Hùng, bà Diễm và ông Hoàng Tờ truất quyền do cụ Biết ký tên và lăn tay.
2.11 Di tặng có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Di tặng không được Tòa án chấp nhận vì Tòa án không công nhận tờ di chúc
có nội dung di tặng được lập ngày 20/9/1997 của cụ Biết
Đoạn 3 phần Xét thấy cho câu trả lời: “[ ] Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản” lập ngày 20/9/1997 và “Tờ di chúc” ngày 15/9/2000 bởi các văn bản này không phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản là có căn cứ”
Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên): Bình luận khoa học BLDS năm 2015, Nxb Tư pháp 2016, tr.947.
Trang 112.12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến di tặng.
2.13 Truất quyền thừa kế là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Truất quyền thừa kế là người lập di chúc có quyền không cho người thừa kế theo pháp luật được hưởng thừa kế mà không cần phải nêu rõ lý do Truất quyền thừa kế là việc người để lại di sản xác định rõ trong di chúc về việc không cho ai được hưởng di sản của mình
Căn cứ thao khoản 1 Điều 626 về Quyền của người lập di chúc:
“ Người lập di chúc có quyền sau đây:
1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.”
2.14 Trong Quyết định số 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của ai? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định số 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của bà Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt Theo lời khai của bị đơn tại trang 2 bản án cho câu trả lời:
Ngoài ra, bà Thuyết còn khai như sau: Ngày 20/9/1997 cụ Biết đã lập tờ truất quyền hưởng thừa kế, có nội dung: Cụ Biết được cụ Kiệt giao quyền định đoạt tài sản theo tờ ủy quyền ngày 16/7/1997, cụ Biết truất quyền hưởng thừa kế của bà Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt đối với những tài sản chung và riêng của cụ Kiệt, cụ Biết tại ấp Bình Phước.
2.15 Truất quyền trên của cụ Biết có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Truất quyền trên của cụ Biết không được Tòa án chấp nhận vì Tòa án không công nhận tờ di chúc được lập ngày 20/9/1997 của cụ Biết
Đoạn 3 phần Xét thấy cho câu trả lời: “[ ] Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản” lập ngày 20/9/1997 và “Tờ di chúc” ngày 15/9/2000 bởi các văn bản này không phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản là có căn cứ”