1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BAI THU HOACH HO SO dân SU SO 13

17 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 40,82 KB
File đính kèm BAI THU HOACH HO SO DÂN SU SO 13.rar (37 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LS DS 13B5 TH2 DA3KDTM I TÓM TẮT VỤ VIỆC Ngày 02012015, Công ty TNHH Nhật Linh (Nhật Linh) và Công ty TNHH Kim Lân (Kim Lân) có ký Hợp đồng nguyên tắc số 012015NLBN KL về việc mua bán hàng hóa Tuy nhiên, đã hết hạn thanh toán theo thỏa thuận Nhật Linh vẫn không thành toán đầy đủ tiền Kim Lân cho rằng Nhật Linh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng căn cứ biên bản đối chiếu công nợ ngày 2522016 về việc chốt công nợ của năm 2015, biên bản đối chiếu công nợ ngày 852016 để xác nhận công.

Trang 1

I TÓM TẮT VỤ VIỆC

Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Nhật Linh (Nhật Linh) và Công

ty TNHH Kim Lân (Kim Lân) có ký Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL về việc mua bán hàng hóa Tuy nhiên, đã hết hạn thanh toán theo thỏa thuận Nhật Linh vẫn không thành toán đầy đủ tiền Kim Lân cho rằng Nhật Linh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng căn cứ biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 về việc chốt công nợ của năm 2015, biên bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 để xác nhận công nợ tính đến ngày 30/4/2016 tổng số tiền

là: 3.270.212.570 đồng(Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng).

Ngày 17/5/2016, hai bên đã làm việc với nhau để có hướng giải quyết việc thanh toán tiền hàng Theo đó, ngày 27/5/2016 Nhật Linh

có công văn số 77/CV-KL gửi Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ

Ngày 07/6/2016, Nhật Linh có công văn số 87/CV-NL gửi đến Kim Lân thông báo công ty không đồng ý thanh toán nợ như tại Công văn số 77/CV-KL do một số nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản của ông Linh (giám đốc công ty Nhật Linh) và công ty Nhật Linh đầu tư đang để lại trên đất của Kim Lân theo Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/

2008 ngày 3/10/2008 và được UBND tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận đầu tư số 21121/000088 ngày 17/10/2008 Đồng thời, công ty Kim Lân chưa kí xác nhận vào biên bản thống kê tài sản của công ty Nhật Linh đang để lại trên đất của công ty Kim Lân

Công ty Nhật Linh có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Kim Lân ký và yêu cầu hoàn trả toàn bộ tài sản của Nhật Linh trên đất của Kim Lân

VỤ ÁN

1 Quan hệ pháp luật tranh chấp

1

Trang 2

Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: Quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh

Đây là vụ án kinh doanh thương mại do các bên đều có đăng ký kinh doanh và việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa vì mục đích lợi nhuận

Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015

2 Tư cách đương sự:

Về quyền khởi kiện của đương sự:

Căn cứ tại quy định tại Điều 186 của BLTTDS 2015 thì cơ quan,

tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Trong trường hợp Công ty TNHH Kim Lân cho rằng Công ty Nhật Linh vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 và việc làm đó đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành giải quyết

Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Căn cứ điểm a, khoản 2, điều

200 BLTTDS 2015 thì bị đơn có yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở và đúng quy định pháp luật

Từ đó xác định:

Nguyên đơn :

Công ty TNHH Kim Lân

-Địa chỉ: Cụm Công Nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

-Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn Chức vụ: Giám đốc

-Người đại diện theo ủy quyền: Kiều Thị Hải Vân Sinh ngày: 5/8/1972

(Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Kiều Vân và Cộng Sự thuộc

2

Trang 3

Đoàn luật sư Tp Hà Nội)

-Địa chỉ: Tổ 6, Phường Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội

Bị đơn:

Công ty TNHH Nhật Linh

-Địa chỉ: Cụm Công Nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

-Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh Chức

vụ: Giám đốc

-Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Tiến Công CMND:

012667397

HKTT: Nhà B10, P102, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội

3 Thời hiệu khởi kiện:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 319 Luật Thương mại 2005 thì thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm

Trong trường hợp này, tranh chấp pháp sinh ngày 07/6/2016 khi Công ty Nhật Linh gửi Công văn số 87/CV-NL về việc không trả nợ cho Công ty Kim Lân Do bị xâm phạm về quyền và lợi ích nên ngày 10/7/2016, Công ty Kim Lân khởi kiện Công ty Nhật Linh thì vẫn còn trong thời hiệu yêu cầu khởi kiện

Yêu cầu phản tố của bị đơn: Căn cứ khoản 3 Điều 200

BLTTDS 2015 quy định: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.

Do nguyên đơn có đơn tạm đình chỉ giải quyết vụ án để tự hòa giải ngày 25/9/2016 sau đó không hòa giải thành, ngày 17/11/2016

bị đơn có yêu cầu phản tố trước phiên họp, công khai chứng cứ và hòa giải sau khi vụ án được tiếp tục thụ lý Do đó yêu cầu phản tố là

là đúng thời hạn quy định

3

Trang 4

4 Thẩm quyền giải quyết

Hợp đồng nguyên tắc số: 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015, tại Điều 5 có lựa chọn Trọng tài kinh tế Hà Nội là tổ chức giải quyết tranh chấp giữa Công ty Kim Lân và Nhật Linh

Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra tranh chấp, không thể lựa chọn được trung tâm trọng tài để giải quyết vì hai bên không thống nhất được trung tâm trọng tài cụ thể mà chỉ nói chung chung Chính vì thế, khi Công ty Kim Lân khởi kiện tại tòa án, căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 và Khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 thì TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết đối với vụ án này

5 Yêu cầu của các đương sự

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân:

Buộc Công ty TNHH Nhật Linh phải trả cho Công ty TNHH Kim

Lân số tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng) và lãi suất

theo quy định của pháp luật

Các tài liệu chứng cứ chứng minh:

- Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL về việc mua bán hàng hóa ngày 02/01/2015;

- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 về việc chốt công nợ của năm 2015;

- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 để xác nhận công nợ tính đến ngày 30/4/2016;

- Biên bản làm việc ngày 17/5/2016 liên quan đến hướng giải quyết việc thanh toán tiền hàng;

- Công văn số 77/CV-KL gửi Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ ngày 27/5/2016;

- Giấy Chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp của Công ty Kim Lân;

4

Trang 5

- Phiếu nhập kho các ngày 05/01/2016, 08/01/2016, 10/01/2016, 15/01/2016, 18/01/2016, 02/02/2016, 06/02/2016, 21/01/2016, 27/02/2016, 06/3/2016;

- Bảng kê tính lãi của Công ty Kim Lân;

- Công văn 0506ĐN/CV ngày 09/5/2016

Ý kiến của bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh:

1 Không đồng ý với yêu cầu buộc Công ty TNHH Nhật Linh phải trả số tiền hàng 3.270.212.570 đồng ( Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng)

2 Yêu cầu phản tố: Yêu cầu Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của Nhật Linh trên đất của Kim Lân

Các tài liệu chứng cứ chứng minh:

- 01 Bản sao biên bản xác nhận tài sản của Công ty Nhật Linh đầu tư xây dựng trên đất của Công ty Kim Lân;

- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016;

- Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Công ty TNHH hai

thành viên trở lên;

- Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 3/10/2008;

- Công văn số 87/CV-NL gửi đến Kim Lân ngày 07/6/2016 của Công ty Nhật Linh gửi Công ty Kim Lân

- Giấy Chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp của Công ty Nhật Linh

- Ủy nhiệm chi ngày 11/01/2016 và ủy nhiệm chi ngày

30/01/2016

6 Các văn bản pháp luật liên quan:

1 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 25/11/2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017)

(sau đây gọi tắt là “ Bộ Luật Tố tụng dân sự”);

2 Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm

2005 ( sau đây gọi tắt là “ Luật thương mại”);

5

Trang 6

3 Luật Trọng tài thương mại số: 54/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010 (Sau đây gọi tắt là “Luật trọng tài thương mại”);

4 Thông tư số: 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài

chính hướng dẫn thi hành luật thuế và đăng ký thuế;

5 Luật Doanh nghiệp số: 64/2014/QH13 ngày 26/11/2014;

6 Luật Đất đai số: 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013;

7 Luật nhà ở số: 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014.;

8 Tiểu hồ sơ của Luật sư

II CÂU HỎI DỰ KIẾN TẠI PHIÊN TÒA

KẾ HOẠCH HỎI BỊ ĐƠN:

1 Công ty TNHH Nhật Linh được thành lập từ thời điểm nào? Loại hình doanh nghiệp là gì?

2 Thành viên góp vốn của Công ty TNHH Nhật Linh gồm những ai?

3 Đại diện của bị đơn đã trực tiếp ký xác nhận vào bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 đúng không?

4 Sau đó thời điểm đó, Công ty đã thanh toán cho Công ty Kim Lân khoản chi phí nào chưa?

5 Đại diện công ty có ký kết bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 không?

6 Vậy số nợ thực tế Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân là bao nhiêu, có đối chiếu được số nợ còn lại này không?

7 Vì sao Công ty lại không đồng ý thanh toán nợ cho Công ty Kim Lân?

8 Nguyên do từ đâu mà Nhật Linh lại xây dựng nhà xưởng và trang thiết bị trên đất của Kim Lân?

9 Khi Bị đơn xây dựng nhà kho 3 tầng trên mặt bằng của Nguyên đơn, nguyên đơn có phản đối không?

10 Những tài sản mà Công ty xây dụng trên đất của Công ty Kim lân gồm những gì?

11 Giá trị tài sản đang tranh chấp trên đất của Công ty Kim Lân mà Công ty có tranh chấp đã được tòa án tiến hành xác minh, thẩm định giá chưa?

12 Sau khi nhận được Công văn yêu cầu di dời từ Kim Lân, Công ty đã làm gì?

6

Trang 7

13 Sau khi di dời, hai bên có động thái gì thể hiện thiện chí thanh toán tiền hàng

và xử lý số tài sản trên đất của Kim Lân không?

14 Đầu năm 2013, Công ty đã thanh toán cho Công ty Kim Lân số tiền 60.00USD đúng không? Đây là tiền gì?

KẾ HOẠCH HỎI NGUYÊN ĐƠN

1 Nguyên đơn cho biết, hiện tại Công ty TNHH Nhật Linh còn nợ Nguyên đơn bao nhiêu tiền?

2 Công ty Kim Lân căn cứ vào đâu để chốt được số nợ vừa nêu trên?

3 Tháng 10/2008, Công ty TNHH Kim Lân có góp vốn vào Công ty TNHH Nhật Linh để cùng xây dựng đầu tư hay không?

4 Vì sao Công ty Nhật Linh lại xây dựng các tài sản trên đất của Công ty nhưng Công ty lại không ý kiến gì suốt thời gian qua?

5 Tại búc lục 77, Công ty cho rằng đã cho bị đơn thuê mặt bằng để mở rộng sản xuất từ năm 2009, vậy Công ty có gì để chứng minh cho lời trình bày của mình không?

6 Tại sao hai bên đã ký vào biên bản làm việc ngày 17/5/2016, trong đó Kim Lân đã cam kết sẽ ký vào biên bản kiểm kê tài sản và công nhận số tài sản trên đất của Kim Lân là do Nhật Linh đầu tư đúng không?

7 Thế thì vì sao ông Hàn Anh Tuấn lại bẻ khóa nhà kho, sử dụng máy móc và

tự ý đem tài sản của chúng tôi vứt ra ngoài?

8 Theo hợp đồng nguyên tắc, thời hạn thanh toán là trong vòng 6 tháng kể từ ngày bên bán cung cấp các chứng từ trong đó có hóa đơn VAT Vậy nguyên đơn đã cung cấp chưa?

9 Vậy mảnh đất của công ty Kim Lân cho công ty Nhật Linh xây dựng nhà xưởng sản xuất là vì có lý do gì?

10 Tại sao, khi Bị đơn xây dựng nhà kho 3 tầng trên mặt bằng của công ty nguyên đơn, nguyên đơn lại không phản đối?

11 Nguyên đơn có biên nhận về việc bị đơn thanh toán tiền thuê đất cho nguyên đơn không?

7

Trang 8

12 Nguyên đơn cho rằng, giữa nguyên đơn và bị đơn không hề tồn tại mối quan

hệ góp vốn Vậy tại sao ngày 17/5/2016, công ty Kim Lân đã đồng ý xác nhận cả 2 việc là kiểm kê tài sản trên đất của công ty Kim Lân và thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nguyên tắc?

III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO

BỊ ĐƠN

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH Nhật Linh – là bị đơn trong vụ án: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Kính thưa Hội đồng xét xử;

Thưa vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa;

Cùng Luật sư đồng nghiệp và mọi người có mặt trong Phiên tòa hôm nay.

Tôi là Luật sư , Luật sư Văn phòng Luật sư A, thuộc đoàn

luật sư tỉnh B Được sự yêu cầu của Công ty TNHH Nhật Linh và được

sự chấp thuận của Hội đồng xét xử, tôi tham gia phiên tòa hôm nay

với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty

TNHH Nhật Linh– là bị đơn trong vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, dựa trên các chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án và việc xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm pháp lý sau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty Nhật Linh như sau:

1 Về trình tự, thủ tục tố tụng

Việc Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành thụ lý giải quyết vụ

án và đưa vụ án ra xét xử như ngày hôm nay là chưa phù hợp, chưa

đủ căn cứ và có thiếu sót về trình áp dụng các trình tự, thủ tục tố tụng Lý do như sau:

Thứ nhất, Theo tài liệu hồ sơ vụ án, Công ty Kim Lân cung cấp

cho Tòa án thông tin của Công ty Nhật Linh có sự không thống nhất

8

Trang 9

Cụ thể, tại Bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 (bút lục 31) thể hiện Mã số thuế của Công ty Nhật Linh là 26374857777, trong khi đó tại Hợp đồng nguyên tắc số: 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 được ký kết giữa hai công ty thì thể hiện Mã số thuế của Công ty Nhật Linh là 2300336011

Theo quy định tại Thông tư số: 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính, tại điểm a khoản 3.3 quy định về nguyên tắc cấp

mã số thuế như sau: “3.3

Người nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thế cho đến khi không còn tồn tại Mã số thuế được dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế mà người nộp thuế phải nộp, kể cả trường hợp người nộp thuế kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau…”

Tuy có sự sai lệch trên nhưng Tòa án đã không tiến hành xác minh làm rõ dẫn đến việc xác định chưa đúng đắn về tư cách tham gia tố tụng của công ty Nhật Linh

Thứ hai, trong vụ án này, bị đơn có yêu cầu phản tố liên quan

đến bất động sản và các tài sản mà bị đơn xây dựng trên đất được xác định là của Công ty Kim Lân

Theo quy định tại Điều 202 BLTTDS quy định: “Thủ tục yêu cầu

phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.”

Tuy nhiện, sau khi thụ lý yêu cầu phản tố của Công ty Nhật Linh, tòa án đã không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, thẩm định giá tài sản cũng như đo đạc áp ranh đối với phần diện tích đất tranh chấp theo quy định tại Điều 101, 104 BLTTDS Từ đó không

đủ căn cứ để giải quyết vụ án theo yêu cầu phản tố của bị đơn là cấn trừ nghĩa vụ với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp

Hơn nữa, theo đúng thủ tục, Tòa án phải bắt đầu lại các thủ tục

tố tụng theo các Điều 205, 208 BLTTDS là hòa giải và họp kiểm tra

9

Trang 10

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hỏa giải đối với yêu cầu phản tố của bị đơn

Việc không thực hiện theo đứng trình tự thủ túc đối với yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến sai phạm cơ bản trong thủ tục giải quyết

vụ án gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn

Thứ ba, Trong hồ sơ vụ án có những lời trình bày của các

đương sự hoàn toàn mâu thuẫn nhau Điển hình như:

- Về vấn đề nợ: phía công ty TNHH Kim Lân cho rằng công

ty TNHH Nhật Linh còn nợ số tiền 3.270.212.570 đồng dựa vào các biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 và ngày 08/5/2016 Tuy nhiên, phía Công ty TNHH Nhật Linh lại cho rằng từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/4/2016 đã thanh toán cho Công ty Kim Lân số tiền 1.112.160.860 đồng thông qua 02 lần ủy nhiệm chi vào các ngày 11/01/2016 và 30/01/2016

- Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 ghi nhận số tiền nợ là 3.250.319.430đ Trong khi đó, biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 ghi nhận số tiền nợ là 3.177.970.970đ Vậy số tiền phía nguyên đơn yêu càu bị đơn phải trả theo đơn khởi kiện từ đâu

mà có Hơn nữa, Mã số thuế của Công ty Nhật Linh tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 cũng không đứng nhưng chưa được làm rõ

- Phía công ty TNHH Nhật Linh nhiều lần khẳng định mình không hề ký và đóng dấu tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 Vì vậy, cần tiến hành trưng cầu giám định theo Điều 102 BLTTDS xem chữ ký có phải của đại diện công ty TNHH Nhật Linh và con dấu có phải của công ty TNHH Nhật Linh hay không

- Phía nguyên đơn cho rằng chỉ cho phía bị đơn thuê mặt bằng xây nhà xưởng nhưng lại không cung cấp GCNQSDĐ để chứng minh mình là chủ sử dụng hợp pháp phần đất nêu trên Phía nguyên đơn cũng không cung cấp hợp đồng thuê theo đúng quy định pháp luật Trong khi đó, phía bị đơn trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn

đã lập Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 ngày 03/10/2008 và được

10

Ngày đăng: 05/06/2022, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w