Hành vi chửi bới của bị cáo chưa ảnh hưởng lớn đến mức tổ công tác không thể thực hiện nhiệm vụ, mà chỉ gây ảnh hưởng tạm thời cho đến khi bị khống chế.. Về cách đặt câu hỏi: Hỏi bị cáo:
Trang 1III Soạn theo luận cứ bào chữa cho Ngơ Đình Hồng
ĐỒN LUẬT SƯ TỈNH …
VĂN PHỊNG LUẬT SƯ …
-*** -CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-*** -BẢN LUẬN CỨ
Bào chữa cho bị cáo Ngô Đình Hồng
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử (HĐXX),
Tơi là Luật sư … – thuộc Văn phòng Luật sư … - Đoàn Luật sư tỉnh
Theo lời mời của bị cáo Ngơ Đình Hồng, tơi có mặt với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Hồng tại phiên tịa hơm nay Trước hết, tôi xin được bày tỏ sự cám ơn tới HĐXX đã tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu hồ sơ vụ việc, tham dự phiên tòa Qua các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, căn cứ các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe quan điểm của
vị đại diện Viện kiểm sát, tơi xin được khẳng định bị cáo Ngơ Đình Hồng khơng phạm tội Chống người thi hành cơng vụ Tơi cho rằng VKS quận Cầu Giấy – Tp Hà Nội truy tố bị cáo Ngơ Đình Hồng về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo Điều 330 khoản 1 BLHS là
chưa phù hợp với hành vi của bị cáo
Thứ nhất, bị cáo không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực hay dùng thủ đoạn khác đối với người thi hành công vụ Tất cả hành vi mà bị cáo thực hiện mà đại diện VKS cho
rằng đó là hành vi sử dụng vũ lực là gạt tay đ/c Phương khi bị kéo ra khỏi vùng căng dây, dùng tay và chân để giữ chặt đồng chí sau khi bị quật ngã Đồng chí Trần Hồi Phương có
Trang 2khai rằng sau khi xảy ra sự việc thì khơng bị thương và Biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể ngày 08/10/2017 của đồng chí Trần Hồi Phương có kết luận: “Khơng phát hiện thấy dấu vết gì trên thân thể” Tuy nhiên, Biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể ngày 09/10/2017 của
bị cáo Ngơ Đình Hồng kết luận “01 vết xước dài 2 cm ở mu bàn tay trái và 01 vết xước dài
2 cm ở cổ tay trái” Hành vi của bị cáo tại thời điểm đó khơng phải hành vi vũ lực mà đơn thuần là hành động theo phản xạ tự nhiên nhằm ngăn chặn những hành động tiếp theo của đ/c Phương Mặc dù bị cáo có những hành động phản xạ nhưng mục đích khơng phải để gây thương tổn cho đồng chí Phương Nhiều nhân chứng của vụ án cũng xác nhận là bị cáo
không xô đẩy, túm áo của ai trong tổ công tác Như vậy, việc bị cáo “túm tóc anh Phương giật
ra phía sau và túm cổ anh Phương đẩy ra” như trong Cáo trạng là không đúng
Thứ hai, hành vi của bị cáo không nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ Việc chửi bới, lăng mạ tổ công tác là hành vi bộc phát do quá bức xúc chứ không
7
nhằm mục đích cản trở hay gây khó khăn cho người thi hành công vụ Khi xảy ra vụ việc, bị cáo hoàn toàn chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thông Khi được yêu cầu kiểm tra giấy
tờ, bị cáo không mang nên đã xin tổ công tác không tạm giữ xe của mình Vi phạm của bị cáo
là chở quá số người quy định vi phạm Điều 8 khoản 2 điểm e Nghị định 46/2016/NĐ-CP và Điều 21 khoản 2 Nghị định 46/2016/NĐ-CP Trường hợp phải tạm giữ phương tiện, tổ công tác phải nêu căn cứ áp dụng và lý do tạm giữ phương tiện Tổ công tác cần giải thích luật cho
bị cáo và hướng dẫn bị cáo nộp phạt và chấp hành hiệu lệnh Thực tế là tổ công tác cũng chưa thực hiện đúng nhiệm vụ và trách nhiệm của họ khi tiếp xúc với người dân có hành vi sai phạm Xét trên khía cạnh khác, khi người dân bức xúc chưa hiểu vấn đề, việc tổ cơng tác giải quyết và giải thích thắc mắc của người vi phạm cũng là đang thực hiện nhiệm vụ của chính họ
Thứ ba, hành vi của bị cáo có ảnh hưởng đến việc thực hiện công vụ của tổ công tác nhưng
Trang 3không đáng kể Những người chứng kiến đã xác định khi xảy ra sự việc, các tổ B và tổ C vẫn làm nhiệm vụ bình thường Hơn nữa, đ/c Chính thuộc tổ A vẫn tiến hành làm nhiệm vụ phân luồng trong thời gian xảy ra sự việc Hành vi của bị cáo khiến những đồng chí cịn lại của tổ
A phải tạm dừng hoạt động nhưng trong thời gian rất ngắn (15 phút) Hành vi chửi bới của bị cáo chưa ảnh hưởng lớn đến mức tổ công tác không thể thực hiện nhiệm vụ, mà chỉ gây ảnh hưởng tạm thời cho đến khi bị khống chế
Thứ tư, hành vi của bị cáo xuất phát từ cách giải quyết không hợp lệ của chính tổ cơng tác Một là, khi xảy ra vụ việc, bị cáo hoàn toàn chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thơng Nhưng khơng hiểu lý do gì, đ/c Phương lại muốn giữ chìa khóa xe của bị cáo Việc rút chìa khóa xe của người vi phạm giao thông không được coi là một biện pháp để ngăn chặn và đảm bảo xử lý vi phạm hành chính nhưng có thể thực hiện nhằm kiểm sốt phương tiện trong trường hợp người vi phạm khơng hợp tác Xét trong tình huống này, bị cáo hoàn toàn hợp tác
và chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát Như vậy, hành động thu giữ chìa khóa xe khơng góp phần để cảnh sát thực hiện quyền kiểm sốt người, phương tiện và khơng hợp pháp trong trường hợp này Mặt khác, hành động này xâm phạm quyền về tài sản, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho bị cáo
Hai là, khi được yêu cầu kiểm tra giấy tờ, bị cáo không mang nên đã xin tổ cơng tác khơng tạm giữ xe của mình Lẽ ra trong trường hợp này, tổ công tác cần phải hướng dẫn, giải thích
để người dân hiểu và thực hiện theo quy định pháp luật Tuy nhiên, hết lần này đến lần khác, đáp lại sự van nài của bị cáo thì tổ cơng tác chỉ trả lời là “Khơng có giấy tờ thì khơng giải quyết” Tơi vẫn chưa hiểu là tổ cơng tác muốn giải quyết cái gì và giải quyết như thế nào Vi phạm của bị cáo là chở quá số người quy định vi phạm Điều 8 khoản 2 điểm e Nghị định 46/2016/NĐ-CP và Điều 21 khoản 2 Nghị định 46/2016/NĐ-CP Trường hợp phải tạm giữ phương tiện, tổ công tác phải nêu căn cứ áp dụng và lý do tạm giữ phương tiện Tổ công tác 8
cần giải thích luật cho bị cáo và hướng dẫn bị cáo nộp phạt và chấp hành hiệu lệnh Thực tế
là tổ công tác cũng chưa thực hiện đúng nhiệm vụ và trách nhiệm của họ khi tiếp xúc với
Trang 4người dân có hành vi sai phạm, gây tâm lý bức xúc cho người dân.
Thưa HĐXX, bị cáo đã van nài nhiều lần vì chiếc xe là tài sản lớn nhất của bị cáo, là công cụ
mưu sinh của bị cáo: Ban ngày đi làm công nhân, buổi tối đi làm xe ơm để trang trải chi phí
sinh hoạt đắt đỏ ở Hà Nội và nuôi bố mẹ già Tất nhiên, do tức giận tức thời mà to tiếng, chửi
bới với tổ công tác là vi phạm pháp luật Nhưng sai lầm của bị cáo xuất phát từ tâm lý bức
xúc, lo lắng khi công cụ mưu sinh bị tịch thu khơng rõ lý do là có thể hiểu và thơng cảm Nay
bị cáo đã biết hành vi chửi bới, lăng mạ tổ cơng tác của mình là sai và vơ cùng hối hận với
hành vi của mình Nếu vì điều đó mà HĐXX quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thì
khơng thể cho thấy đường lối nhân đạo của nhà nước Hơn nữa, hành vi của bị cáo hồn tồn
khơng đủ căn cứ cấu thành tội chống người thi hành công vụ do không thỏa mãn yếu tố mặt
khách quan của tội phạm này
Từ những nội dung đã phân tích ở trên, kính mong HĐXX xem xét tun bố bị cáo Ngơ Đình
Hồng khơng phạm tội vì hành vi của Hồng khơng cấu thành tội chống người thi hành cơng
vụ Theo đó, về việc bị cáo Ngơ Đình Hồng có thừa nhận về hành vi chửi bới, to tiếng chỉ
xem xét xử lý hành chính theo quy định tại Điều 20 khoản 2 điểm b Nghị định 167/2013/NĐCP Quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an tồn xã hội;
phịng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phịng, chống bạo lực gia đình với
hành vi “Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi
hành cơng vụ”
Trên đây là tồn bộ quan điểm bào chữa của tôi Trân trọng cảm ơn./
Luật sư,
Vũ Hà My
9
NHẬN XÉT PHẦN DIỄN ÁN
Nhận xét chung: Các nhân vật có trang phục nghiêm chỉnh, giọng nói mạch lạc rõ ràng, các
Trang 5bước tham gia phiên tòa: thực hiện đúng, đầy đủ các bước tiến hành phiên tòa theo quy định pháp luật
Tên
vai diễn
Thư ký Tòa án
Chủ tọa phiên
tòa
Nhận xét về nội dung diễn án
Đảm bảo các thủ tục bắt đầu phiên tòa
Đảm bảo các thủ tục bắt đầu phiên tòa, từ việc xác minh nhân thân đương sự,
giải thích cặn kẽ quyền và nghĩa vụ của đương sự, yêu cầu các nhân chứng cam
đoan về lời khai tại tòa, hỏi đương sự có nhu cầu thay đổi ai trong HĐXX hay
khơng, ý kiến và yêu cầu thêm về thủ tục bắt đầu phiên tịa Tuy nhiên chủ tọa
điều khiển sai trình tự, thiếu phần hỏi đương sự có đề nghị triệu tập người làm
chứng
Về cách đặt câu hỏi:
Hỏi bị cáo: Các câu hỏi mang tính làm rõ tình tiết sự việc, về hồn cảnh khó
khăn và sự ăn năn của bị cáo
Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Hồi Phương: Các câu hỏi
mang tính làm rõ tình tiết sự việc, về nhân thân, công tác, trang phục của anh
Phương; về diễn biến sự việc ngày 08/10/2017
Hỏi người làm chứng: Các câu hỏi mang tính làm rõ tình tiết sự việc như có giao
nhiệm vụ cho Phương khơng (nhằm xác định yếu tố khách thể của tội phạm là
người được giao nhiệm vụ thi hành công vụ), thuật lại diễn biến sự việc, ảnh
hưởng của hành vi gây rối của Hồng
Các câu hỏi phù hợp với vai trị của chủ tọa mang tính làm rõ sự việc, đầy đủ
Trang 6nội dung về buộc tội và gỡ tội.
Luật sư bào
chữa
Về cách đặt câu hỏi: Câu hỏi góp phần làm sáng tỏ hướng bào chữa trong bản luận cứ Tuy nhiên luật sư đặt câu hỏi quá nhanh Nếu trong phiên tòa thực tế thì
người được hỏi rất khó theo tốc độ nói nhanh như vậy
• Khi hỏi bị cáo, luật sư có những câu hỏi phù hợp về nhân thân, hồn cảnh của
bị cáo; về sự tuân thủ của bị cáo; sai phạm trong quy trình của tổ cơng tác; sự
vi phạm của bị cáo là do không hiểu rõ pháp luật
• Đối với Vũ Mạnh Nam: Câu hỏi về việc có được xử phạt vi phạm hành chính khi đang mặc đồng phục hay khơng là khơng cần thiết vì thực tế Phương là cảnh sát 141 được phân công mặc thường phục, thứ hai là Phương không phải người xử lý vi phạm hành chính mà dẫn bị cáo ra chỗ đồng chí CSGT Nguyện
để xử lý Ngồi ra, các câu hỏi khác phù hợp nhằm làm rõ sai phạm của tổ
công tác khi tiếp xúc với người dân vi phạm và gián tiếp chứng minh bức xúc của bị cáo là có cơ sở Không nên hỏi về vấn đề yêu cầu kiểm tra giấy tờ của tổ
10
cơng tác vì rất lan man và khơng góp phần chứng minh bị cáo khơng có tội Sai phạm của bị cáo là chửi bới, to tiếng với tổ công tác chứ khơng phải kiểm tra giấy tờ của tổ cơng tác
• Đối với Trần Hoài Phương: Các câu hỏi phù hợp nhằm làm rõ sai phạm của tổ công tác khi tiếp xúc với người dân vi phạm và gián tiếp chứng minh bức xúc của bị cáo là có cơ sở Tuy nhiên, có một số câu hỏi trùng lặp với câu hỏi đã
Trang 7hỏi Vũ Mạnh Nam Câu hỏi về việc cảnh sát 141 mặc thường phục có quyền
xử phạt vi phạm hành chính hay khơng là khơng cần thiết vì thực tế Phương là cảnh sát 141 được phân công mặc thường phục, thứ hai là Phương không phải người trực tiếp xử lý vi phạm hành chính mà dẫn bị cáo ra chỗ đồng chí CSGT Nguyện để xử lý Khơng nên hỏi về vấn đề yêu cầu kiểm tra giấy tờ của tổ cơng tác vì rất lan man và khơng góp phần chứng minh bị cáo khơng có tội Sai phạm của bị cáo là chửi bới, to tiếng với tổ công tác chứ không phải kiểm tra giấy tờ của tổ công tác Những câu hỏi khác góp phần làm bào chữa cho sai
phạm của bị cáo
Về bản luận cứ của luật sư: Đồng ý với hướng bào chữa của luật sư
Hướng bào chữa của luật sư: Không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát Chứng minh hành vi của bị cáo khơng cấu thành tội phạm
• Về mặt khách quan: Hành vi của bị cáo không phải dùng vũ lực hay đe dọa sử
dụng vũ lực
• Lỗi: Phải là lỗi cố ý trực tiếp tuy nhiên nếu được cảnh báo hành vi của bị cáo
là hành vi chống người thi hành cơng vụ
• Khách thể của tội phạm: Hành vi của Phương sai về cơng vụ thì người dân khơng có nghĩa vụ phải chấp hành Theo quan điểm của luật sư, Đ/c Phương đang mặc thường phục nên khơng có quyền xử lý vi phạm hành chính Điều này khơng phù hợp với thực tế sự việc vì Phương là cảnh sát 141 được phân công mặc thường phục, thứ hai là Phương không phải người trực tiếp xử lý vi phạm hành chính mà dẫn bị cáo ra chỗ đồng chí CSGT Nguyện để xử lý
• Hành vi của bị cáo có thể xử lý theo hướng hành chính hoặc hình sự Do mức
độ vi phạm không lớn nên chỉ cần bị xử phạt hành chính là đã đủ sức răn đe
• Kết luận: Đề nghị xử phạt hành chính đối với hành vi chống người thi hành công vụ của bị cáo theo Điều 20 khoản 3 điểm a Nghị định 167/2013/NĐ-CP:
Trang 8=> Khơng đồng ý vì đây là xử phạt vì hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực để chống người thi hành công vụ Như vậy là gián tiếp thừa nhận hành
vi của bị cáo là dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành cơng vụ Điều này vơ hình trung đối ngược lại toàn bộ luận điểm mà luật sư đưa ra trước đó và khơng thống nhất với hướng bào chữa ban đầu là hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm
Về phần tranh luận:
Về việc có hay khơng bị cáo dùng vũ lực: Khơng có ý kiến
Về việc khơng thể dùng luận điệu bị cáo bức xúc mà có hành vi chửi bới và không thể dùng lý do bị cáo khơng biết vì bị cáo đã học hết lớp 12: Khơng có ý
11
kiến
Về việc hành vi của bị cáo làm gián đoạn cơng việc của tổ cơng tác: Luật sư cho rằng có làm gián đoạn nhưng không nghiêm trọng và không đến mức bị phạt tù Đại diện Viện
kiểm sát
Bị cáo Ngơ
Đình Hồng
Hội thẩm 2
Hội thẩm 1
Người làm
chứng Lê Văn
Linh
Người làm
Trang 9chứng Vũ
Mạnh Nam
Người làm
Về cách đặt câu hỏi: Nhiều câu hỏi có lợi cho bị cáo chứ khơng thiên về hướng buộc tội Ví dụ, câu hỏi về lý do bị cáo chửi mắng tổ cơng tác là câu hỏi có lợi cho bị cáo, lẽ ra đại diện VKS không nên hỏi
Đối với bị cáo: Câu hỏi bị cáo có cam đoan về lời khai của mình hay khơng là khơng cần thiết và khơng mang nhiều ý nghĩa buộc tội Câu hỏi về trang phục của Phương là khơng cần thiết vì trong biên bản ghi lời khai, bị cáo biết Phương
là cảnh sát 141 Các câu hỏi đối với bị cáo chưa sắc sảo, khơng góp phần buộc tội bị cáo, cũng một phần là do bị cáo thay đổi lời khai so với biên bản ghi lời
khai, tuy nhiên đại diện vks cũng không khai thác sâu thêm
Đối với Vũ Mạnh Nam: Phù hợp
Đối với Nguyễn Văn Chính: Câu hỏi về sự chấp hành của Nam là lợi cho Nam, đại diện VKS không nên hỏi Câu hỏi có người nào đang chờ được giải quyết hay không khá hay
Đối với Nguyễn Lê Linh và Vũ Văn Nam: Làm rõ tình tiết vụ án nhằm buộc tội
bị cáo
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Biết cách xây dựng bản luận tội Tuy nhiên, KSV chưa chứng minh được bị cáo hiểu rõ luật mà vẫn cố tình sai phạm trong phần đặt câu hỏi trước đó Tuy nhiên, đại diện VKS vẫn đưa vào bản luận tội Những phần khác hợp lý
Phần tranh luận:
Đưa ra được những vấn đề cần tranh luận:
Về việc có hay khơng bị cáo dùng vũ lực
Về việc không thể dùng luận điệu bị cáo bức xúc mà có hành vi chửi bới và khơng thể dùng lý do bị cáo khơng biết vì bị cáo đã học hết lớp 12
Trang 10Về việc hành vi của bị cáo làm gián đoạn công việc của tổ công tác do mỗi tổ lại
có nhiệm vụ riêng nên việc làm gián đoạn nhiệm vụ của tổ A vơ hình trung làm gián đoạn của cả những tổ còn lại
Trả lời tốt câu hỏi, hiểu vụ án, có khả năng tự gỡ tội cho mình Tuy nhiên, theo
hồ sơ vụ án, bị cáo không hề đẩy Phương ra mà là kẹp chặt Phương Nhiều nhân chứng cũng đồng ý với điều này
Câu hỏi sát với nội dung vụ án
Các câu hỏi dành cho nhân chứng Chính là khơng cần thiết vì Chính khơng có điều kiện theo dõi vụ việc do phải làm nhiệm vụ, thay vì hỏi Chính thì nên hỏi Nam hoặc Linh
Trả lời khá tốt các nội dung được hỏi, hiểu vụ án
Trả lời được câu hỏi, hiểu vụ án Tuy nhiên, khi được hỏi về những thành viên tổ công tác, Nam chưa trả lời đúng bởi tổ công tác chia làm 3 tổ A, B, C Nam mới chỉ liệt kê được các thành viên của tổ A
Trả lời được câu hỏi, hiểu vụ án
12
chứng Nguyễn
Lê Linh
Người làm
chứng Vũ Văn
Nam
Trả lời được câu hỏi, hiểu vụ án
Được gửi từ iPhone của tôi