1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng quan tín dụng ngân hàng LTC

46 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 192,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG docx ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT 0 0 BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Giảng viên TS Nguyễn Thị Thu Hương Hà Nội, tháng 52022 MỤC LỤC Một số vấn đề lý luận chung về tín dụng ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 5 Tín dụng ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng ngân hàng 5 Đặc điểm của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 6 Bản chất và nguyên tắc hoạt động của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -0-0 -

BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN

HÀNG

Giảng viên: TS Nguyễn Thị Thu Hương

Hà Nội, tháng 5/2022

Trang 2

MỤC LỤC

I Một số vấn đề lý luận chung về tín dụng ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 5

1 Tín dụng ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng ngân hàng 5

2 Đặc điểm của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng: 6

3 Bản chất và nguyên tắc hoạt động của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.8

4 Vai trò của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 105

Phân loại các hình thức cấp tín dụng ngân hàng 12

II Pháp luật điều chỉnh các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 13

1 Cấu trúc của pháp luật điều chỉnh các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 13

1.1 Quy định của pháp luật về các nghiệp vụ cấp tín dụng ngân hàng được phép thực hiện 13

1.2 Quy định của pháp luật về thẩm quyền quyết định cấp tín dụng cho khách hàng 15

1.3 Quy định pháp luật về hình thức, nội dung các hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng 15

1.4 Quy định pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 16

2 Khái quát nội dung pháp luật điều chỉnh các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 17

2.1 Quy định của pháp luật về các nghiệp vụ cấp tín dụng ngân hàng 17

2.1.1 Cho vay 17

Trang 3

2.1.2 Bao thanh toán 20

2.1.3 Bảo lãnh ngân hàng 21

2.1.4 Chiết khẩu, tái chiết khấu giấy tờ có giá 23

2.1.5 Phát hành thẻ tín dụng 24

2.2 Quy định của pháp luật về thẩm quyền cấp tín dụng cho khách hàng 27

2.3 Quy định của pháp luật về nội dung hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 28

2.3.1 Quy định của pháp luật về chủ thể và tư cách chủ thể được tham gia quan hệ cấp tín dụng của ngân hàng 28

2.3.2 Quy định pháp luật về hình thức pháp lý khi xác lập quan hệ tín dụng với khách hàng 32

2.3.3 Quy định pháp luật về nội dung hợp đồng cấp tín dụng 33

2.3.4 Quy định về việc kiểm soát, quản lý và thu hồi khoản tín dụng đã cấp: 35

2.3.5 Quy định về xử lý khoản tín dụng đã cấp nhằm mục đích thu hồi vốn. 35

III Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng tại Việt Nam 39

1 Ưu điểm: 43

2 Hạn chế 43

IV Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh đối với các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng 44

Trang 4

TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG (HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN

DỤNG CỦA NGÂN HÀNG)

I Một số vấn đề lý luận chung về tín dụng ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

1 Tín dụng ngân hàng và hoạt động cấp tín dụng ngân hàng

Tín dụng xuất phát từ tiếng La tinh Creditium có nghĩa là tín nhiệm, tintưởng

Tín dụng trong tiếng Anh là Credit Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam,tín dụng là sự vay mượn Về cơ bản, tín dụng được hiểu là sự thể hiện cho mốiquan hệ vay và cho vay Trong đó, người vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức,còn người cho vay là ngân hàng, hoặc tổ chức tài chính tín dụng nào đó Sảnphẩm vay có thể là hàng hóa hoặc tiền Mối quan hệ vay và cho vay này cónhững quy định và ràng buộc cụ thể, bên cạnh đó, tín dụng thì luôn gắn với lãisuất Những khoản vay tín dụng đều được áp lãi suất theo quy định của bên chovay mà người vay muốn vay phải chấp nhận thực hiện

Khi xã hội loài người phát triển kéo theo sự phát triển của sản xuất và traođổi hàng hóa, nhu cầu trao đổi tiền tệ và dịch vụ kinh doanh tiền tệ cũng xuấthiện và phát triển trở thành ngành nghề kinh doanh và được gọi là nghề ngânhàng Theo đó, tín dụng có thể hiểu theo nghĩa là một trong những chức năng cơbản trong hoạt động của ngân hàng

Với cách hiểu này, có thể rút ra định nghĩa: “Tín dụng ngân hàng là mối

quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay Nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ người tạm dư thừa vốn sang những người thiếu vốn Lãi suất của

Trang 5

khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt thời gian tồn tại của khoản vay”.

Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu rộng, trong phạm vi bài làm, nhóm chỉxem xét tín dụng dưới góc độ là một hoạt động cấp tín dụng (hay còn gọi là cấpvốn) của ngân hàng cho các chủ thể khác Cấp tín dụng là hoạt động quan trọngnhất của ngân hàng nói riêng và thị trường tín dụng nói chung Theo quy định tại

khoản 14, Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, cấp tín dụng là “việc

thỏa thuận để tổ chức, cả nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác" Như vậy, cấp tín dụng chính là giao dịch về tài sản trên cơ sở có

hoàn trả giữa hai chủ thể là bên cấp tín dụng (ngân hàng) và khách hàng – nhữngngười có nhu cầu được cấp tín dụng

2 Đặc điểm của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng:

Cùng với sự ra đời và phát triển của hoạt động tín dụng, chủ thể thực hiệnhoạt động cấp tín dụng cũng ngày càng chuyên nghiệp hơn và được các quốc giaquản lý bằng các quy định pháp luật chặt chẽ hơn, nghiêm minh hơn Trong sốcác chủ thể thực hiện hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng thương mại (NHTM)được coi là chủ thể quan trọng nhất, thực hiện các hình thức cấp tín dụng đadạng và chuyên nghiệp nhất Các NHTM là tổ chức cấp tín dụng chủ yếu chocác doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình với các khoản tín dụng phục vụ nhucầu kinh doanh, đầu tư, hay tiêu dùng Theo khoản 3, Điều 4 Luật Các tổ chức

tín dụng năm 2010, NHTM là “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các

hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận" Khác với ngân hàng nhà nước có nguồn vốn vay

là vốn dự trữ phát hành, ngân hàng thương mại khi cấp tín dụng cho khách hàngchủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động của các tổ chức, cá nhân thông qua hình

Trang 6

thức nhận tiền gửi Qua đó, có thể thấy hoạt động cấp tín dụng chủ yếu đượcthực hiện bởi các ngân hàng thương mại Qua nghiên cứu những dấu hiệu từ cácđịnh nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm của hoạt động cấp tín dụng củangân hàng:

Thứ nhất, cấp tín dụng là một giao dịch song vụ, trong đó cả hai nhómchủ thể (bên cấp tín dụng và bên nhận) đều gắn với những quyền và nghĩa vụ vậtchất nhất định, được xác định trước; theo đó, tài sản giao dịch dưới hai hình thức

là cho vay và cho thuê Tuy nhiên đối với ngân hàng thương mại, quan hệ tíndụng chủ yếu là cho vay

Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, khi thực hiện hoạt động cấp tíndụng, ngân hàng phải có những cơ sở tin rằng chủ thể được cấp tín dụng có khảnăng hoàn trả đúng hạn Đây là yêu cầu quan trọng của nghiệp vụ quản trị tíndụng của ngân hàng Đồng thời hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là hành vinhằm mục đích lợi nhuận, do vậy, giá trị hoàn trả hay giá trị mà các ngân hàngnhận lại thông thường phải lớn hơn giá trị mà ngân hàng bỏ ra ban đầu

Thứ ba, ngân hàng luôn là một bên cấp tín dụng cho khách hàng Với nộidung và phạm vi nghiên cứu của bài làm, cấp tín dụng được hiểu là hoạt độngkinh doanh ngân hàng cơ bản và thường xuyên của ngân hàng

Thứ tư, cấp tín dụng luôn mang tính sinh lời và rủi ro cho các ngân hàng.Cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh ngân hàng cơ bản trong quá trình sử dụngvốn của chủ sở hữu và đặc biệt là sử dụng vốn của chủ thể gửi tiền, đi cùng vớinguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn thì yêu cầu sinh lời cho mỗi giao dịch tíndụng được hiểu như lẽ tự nhiên Bên cạnh đó, việc chuyển giao tín dụng chokhách hàng cũng đồng nghĩa với nguy cơ không nhận lại/không nhận lại đầy đủgiá trị tín dụng theo cam kết ban đầu, vì thế, các điều kiện cấp tín dụng cũng nhưcác biện pháp phòng ngừa rủi ro luôn đi kèm với quá trình chuyển giao tín dụngcho khách hàng

Trang 7

Thứ năm, trong quan hệ cấp tín dụng, vốn vay được cấp trên cơ sở hoàntrả vô điều kiện Ngân hàng cấp vốn cho khách hàng cần vốn, trong bất kỳtrường hợp nào, khi đến hạn, chủ thể được cấp tín dụng phải hoàn trả đầy đủtoàn bộ số vốn và các cam kết khác được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng.

3 Bản chất và nguyên tắc hoạt động của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

Khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng ở Việt Nam năm 2010 qui

định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản

tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác" Vậy bản chất pháp lý của

hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là việc chuyển nhượng quyền sở hữu sốtiền vay từ ngân hàng (bên cấp tín dụng) sang bên đi vay theo nguyên tắc hoàntrả và dựa trên cơ sở thỏa thuận trong các hợp đồng cấp tín dụng Hoạt động cấptín dụng của NHTM rất đa dạng, có thể là hoạt động cho vay, chiết khấu, baothanh toán, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng và các nghiệp vụ cấp tíndụng khác (Khoản 3 Điều 98 Luật Các TCTD năm 2010) Tuy nhiên, dù dướihình thức nào thì hoạt động cấp tin dụng cũng gắn với việc chuyển nhượngquyền sở hữu lượng tín dụng từ bên cấp tín dụng là NHTM cho bên nhận tíndụng là khách hàng, trên cơ sở đó khách hàng có thể sử dụng, định đoạt và thựchiện các quyền của mình đối với lượng tín dụng đã nhận vào các mục đích, thờihạn như đã thỏa thuận trọng hợp đồng

Ví dụ: đối với cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, việc chuyển nhượng

số tiền từ NHTM (bên cho vay) sang cho khách hàng (bên đi vay) được thựchiện theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, đối với bảo lãnh ngân hàng đượcthực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh ngân hàng, đối với bao thanhtoán là hợp đồng bao thanh toán, đối với chiết khấu là hợp đồng chiết khấu,…

Trang 8

Về nguyên tắc, hoạt động cấp tín dụng của NHTM thường được thực hiệndựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, hoạt động cấp tín dụng của NHTM là một giao dịch dân sự,trong đó đối tượng chuyển giao có thể được giao dịch thông qua hình thức chovay, chiết khẩu hoặc cho thuê Các bên thực hiện hoạt động này trên nguyên tắcthỏa thuận và tự do ý chí nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Sựthỏa thuận này được khẳng định bằng các hợp đồng trong hoạt động cấp tíndụng ngân hàng như hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh ngân hàng

Thứ hai, việc cấp tín dụng của ngân hàng phải được thực hiện trên nguyêntắc có hoàn trả Theo đó, khách hàng được cấp tín dụng có nghĩa vụ cam kết vàhoàn trả cho ngân hàng khoản vốn tín dụng đã được cấp cùng với một khoản lãisau một khoảng thời gian nhất định Theo nguyên tắc này khoản tín dụng màkhách hàng nhận được chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định

đã được thoả thuận trong hợp đồng (thời hạn cấp tín dụng) Khi hết hạn hợpđồng, người nhận vốn phải trả cả gốc và lãi Tùy thuộc từng nghiệp vụ cấp tíndụng và phương thức cấp mà nghĩa vụ hoàn trả vốn tín dụng được thực hiệnbằng nhiều cách Ví dụ, theo phương thức cho vay trả góp trong nghiệp vụ chovay theo hợp dồng tín dụng: khi vay vốn, khách hàng và ngân hàng thương mạixác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với nợ gốc được chia ra đểtrả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay

Thứ ba, đề bảo đảm khả năng hoàn trả vốn tín dụng đã được cấp củakhách hàng, việc cấp tín dụng của ngân hàng phải đảm bảo nguyên tắc vốn tíndụng được cấp phải được sử dụng đúng mục đích Theo đó, khách hàng phảiđảm bảo sử dụng khoản tín dụng được ngân hàng cấp theo đúng mục đích đãcam kết với ngân hàng, là cơ sở để đảm bảo vốn vay được khách hàng sử dụnghiệu quả và phù hợp với quy định pháp luật Đồng thời, việc sử dụng vốn đúngmục đích cũng là cơ sở bảo đảm khả năng hoàn trả vốn của khách hàng, từ đó,

Trang 9

bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trường hợp kháchhàng sử dụng vốn tín dụng được cấp sai mục đích, ngân hàng được quyền thuhồi khoản vay trước hạn phù hợp với thỏa thuận của các bên và các quy định củapháp luật.

Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng: việccấp tín dụng cần đảm bảo sự thu hồi vốn cả gốc và lãi cho các ngân hàng Đểthực hiện được điều này, ngân hàng phải tuân thủ những giới hạn và tỷ lệ antoàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng Có thể nói, hoạt động cấp tín dụng củangân hàng có nhiều đặc thù so với hoạt động cho vay tài sản của các chủ thểkhác trong nền kinh tế, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro Vì vậy, việc cấp tíndụng ngân hàng cần phải đảm bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng Đặcbiệt, việc tuân thủ các tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là rấtquan trọng, nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro cho các ngân hàng Đối với kinhdoanh ngân hàng nói chung và cấp tín dụng ngân hàng nói riêng pháp luật đưa racác giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn rất cu thể Việc quy định chi tiết, cụ thể là

để hạn chế và phân tán rủi ro theo nguyên tắc "không bỏ trứng vào cùng mộtgiỏ" Vì vậy, các biện pháp an toàn, hạn chế rủi ro được đặt ra không chỉ dừnglại những biện pháp đơn lẻ, mang tính tình thế của từng ngân hàng mà đòi hỏipháp luật can thiệp sâu, rộng bằng những quy chế đặc thù, tạo nên hệ thống cácquy phạm pháp luật chặt chẽ, hợp lý, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanhcủa cả hệ thống ngân hàng ngay từ khi mới thành lập Đồng thời đây cũng chính

là sự can thiệp, kiểm soát của nhà nước đối với hoạt động ngân hàng bằng phápluật

4 Vai trò của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, khi nhu cầu về vốn của các tổ chức, cá nhânngày càng tăng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống, kênh cung cấp vốn kịpthời và hiệu quả nhất chính là hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng Hoạt

Trang 10

động cấp tín dụng không chỉ mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng mà cònmang lại lợi ích cho khách hàng là các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quan

hệ cấp tín dụng, đồng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước

Trước hết, đối với nền kinh tế, hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng

có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàngcung cấp lượng vốn cho khách hàng là các tổ chức, cá nhân khi khách hàngkhông thể tự đáp ứng nhu cầu về vốn để sử dụng vào mục đích nhất định nhưsản xuất, kinh doanh, hay tiêu dùng, qua đó thúc đẩy các hoạt động kinh tế pháttriển Để được vay vốn, bản thân khách hàng cũng phải nâng cao uy tín, tức lànâng cao hiệu quả kinh doanh hoặc có tài sản bảo đảm phù hợp tức là huy độngđược hết nguồn vốn nhàn rỗi vào kinh doanh Thông qua hoạt động giám sátviệc sử dụng nguồn vốn được cấp sẽ giúp cho vốn được sử dụng đúng mục đích.Bên cạnh đó, hoạt động cấp tín dụng cũng thúc đẩy chu trình luân chuyển vốn,tạo cơ chế phân phối vốn hiệu quả đồng thời là công cụ quan trọng góp phầngiúp nhà nước hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế vĩmô

Bên cạnh đó, đối với ngân hàng, hoạt động cấp tín dụng mang lại nguồnlợi nhuận lớn nhất, trực tiếp nhất cho các ngân hàng Cấp tín dụng được xemnhư những mạch máu, mang nguồn vốn của ngân hàng thông qua hoạt độngnhận tiền gửi và nguồn vốn tự có của bản thân ngân hàng đi cung cấp cho nhữngnơi cần đến và mang về nguồn tiền lớn hơn Không có hoạt động cấp tín dụng,ngân hàng chi giống như tổ chức nhận tiền gửi thông thường, không mang đầy

đủ đặc tính của một tổ chức tín dụng Ngoài ra, đổi với chủ thể được cấp tíndụng, hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng mang đến nguồn vốn để giải quyếtvấn đề của mình, có thể để sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị, cải tiếnquy trình kỹ thuật, khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm Kháchhàng được ngân hàng cấp tín dụng có thể là tổ chức, cá nhân và hoạt động cấptín dụng được coi là nguồn cứu trợ cần thiết và có tính an toàn

Trang 11

5 Phân loại các hình thức cấp tín dụng ngân hàng

Các hình thức cấp tín dụng ngân hàng thường được phân loại theo hìnhthức của tín dụng Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào cáccăn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, người ta thườngphân loại theo một số tiêu chí sau:

- Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau:

+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường

được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vềvốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêudùng của cá nhân

+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay

vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng

và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh

+Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng

để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy môlớn Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định

và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:

+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung

cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh

+Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp

ứng nhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhàcửa, xe cộ, các thiết bị gia đình Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướngtăng lên

Trang 12

- Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:

+Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát

ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp,chiết khấu và bảo lãnh

+Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay

phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp Loại hình nàythường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòngphẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và

có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự ánsản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ

II Pháp luật điều chỉnh các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

1 Cấu trúc của pháp luật điều chỉnh các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

Qua nghiên cứu, nhóm cho rằng cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt độngcấp tín dụng của các ngân hàng gồm các bộ phận sau:

1.1 Quy định của pháp luật về các nghiệp vụ cấp tín dụng ngân hàng được phép thực hiện.

Cho vay, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, chiết khấu, tái chiết khấugiấy tờ có giá là các hình thức cấp tín dụng khác được Ngân hàng Nhà nướcchấp nhận Cụ thể:

- Pháp luật về cho vay: là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nướcban hành nhằm điều chinh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức,thực hiện hoạt động cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của ngân hàng Chovay là nghiệp vụ cấp tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng hiện nay, chiếm tỷ

Trang 13

trọng lớn trong tổng số vốn mà ngân hàng cung cấp hàng năm cho khách hàng.Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng bằng nghiệp vụ cho vay của ngânhàng bao gồm các nội dung cơ bản sau: quy định pháp luật về các chủ thể thamgia quan hệ cấp tín dụng dưới hình thức cho vay; quy định pháp luật điều chỉnhhợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay; quy định về các biện pháp hạn chế

để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng: quy định về giảiquyết tranh chấp và xử lí vi phạm trong hoạt động cho vay của ngân hàng

- Pháp luật về chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá và công cụ chuyểnnhượng Đây là công cụ để nhà nước quản lý hoạt động chiết khấu/tái chiết khấugiấy tờ có giá đảm bảo hoạt động của ngân hàng hoạt động đúng định hướng củanhà nước; là cơ sở pháp lý để các ngân hàng hoạt động bình đẳng, lành mạnh.Quy định về chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá bao gồm đối tượng, chủthể, hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh

- Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng: là tổng thể các quy phạm pháp luật donhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong việc xác lập,thực hiện và chấm dứt quan hệ bảo lãnh ngân hàng, địa vị pháp lý, quyền vànghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ bảo lãnh và các chủ thể khác,nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia và đảm bảo antoàn cho hệ thống ngân hàng

- Pháp luật về hoạt động phát hành thẻ tín dụng: điều chỉnh quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng Hoạtđộng phát hành thẻ tín dụng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1990

- Pháp luật về hoạt động bao thanh toán: điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình ngân hàng thực hiện dịch vụ cho bên bán hàng, cungứng dịch vụ hoặc bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc mua lại cáckhoản phải thu hoặc các khoản phải trả hình thành từ việc mua, bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ theo hợp đồng thương mại giữa các bên Nội dung pháp luật

Trang 14

bao thanh toán quy định cụ thể các bên chủ thể của giao dịch bao thanh toán; đốitượng bao thanh toán; hợp đồng bao thanh toán; các quyền và nghĩa vụ các bênkhi tham gia giao dịch bao thanh toán.

1.2 Quy định của pháp luật về thẩm quyền quyết định cấp tín dụng cho khách hàng.

Cấp tín dụng là hoạt động sử dụng vốn quan trọng hàng đầu của ngânhàng tỷ trọng trên tổng tài sản lớn, hàm chứa nhiều rủi ro nên việc quyết địnhcấp tín dụng cho khách hàng cần phải được cân nhắc và thực hiện bởi chủ thể đủthẩm quyền Do vậy, câu hỏi đặt ra là: Ai là người quyết? Mức độ chịu tráchnhiệm đối quyết định cấp tín dụng thế nào? Đây là những nội dung về thẩmquyền cấp tín dụng cho khách hàng Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng 2010 về

xét duyệt tín dụng, kiểm tra sử dụng tiền vay chỉ quy định "Tổ chức tín dụng

phải tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng" không có nghĩa bất kỳ cá nhân hay

nhóm cá nhân nào cũng có quyền quyết định cấp tín dụng Việc quy định vềquyền cho cá nhân, nhóm cá nhân và cơ chế kiểm soát sẽ hình thành nên hệthống phê duyệt tín dụng của các ngân hàng thương mại

1.3 Quy định pháp luật về hình thức, nội dung các hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng.

Pháp luật quy định về nội dung cấp tín dụng thường để cập đến các vấn

đề sau đây:

- Nhóm quy phạm quy định về tư cách chủ thể của bên nhận tín dụng.Mặc dù khách hàng có thể là tổ chức, cá nhân theo nghĩa chung nhất, tuy nhiênvới mỗi hình thức cấp tín dụng có những đặc thủ khác nhau nên pháp luật có thểquy định thêm để đáp ứng tính đặc thù này

Trang 15

- Nhóm quy phạm quy định về hình thức pháp lý khi xác lập quan hệ tíndụng với khách hàng (hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng pháthành thẻ, hợp dồng chiết khấu /tái chiết khấu, hợp đồng bao thanh toán)

- Nhóm quy định về nội dung hợp đồng cấp tín dụng

- Nhóm quy định về việc kiểm soát, quản lý và thu hồi khoản tín dụng đãcấp

- Nhóm quy định về xử lý khoản tỉn dụng đã cấp nhằm mục đích thu hồivốn

1.4 Quy định pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

Pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các ngânhàng là một bộ phận cụ thể của pháp luật ngân hàng, bao gồm các quy định vềvốn tự có, tỷ lệ an toàn tối thiểu và quản lý nội bộ Các quy định này có nộidung chủ yếu quy định về việc nắm giữ tiền mặt trong thực tế, nguồn vốn bắtbuộc các ngân hàng phải duy trì để đảm bảo hoạt động cũng như đảm bảo tính

an toàn cho hoạt động tín dụng Ngoài ra, để tăng tính an toàn cũng như tránhđược các hành vi gian lận nhằm thu lợi ích cao nhất, các quy định về an toàntrong hoạt động cấp tín dụng cũng có nêu rõ những đối tượng và trường hợpcấm, hạn chế cấp tín dụng; quy định về giới hạn cấp tin dụng; quy định trongviệc góp vốn, mua cổ phần và quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn và các quy định

về dự phòng rủi ro

Trang 16

2 Khái quát nội dung pháp luật điều chỉnh các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.

2.1 Quy định của pháp luật về các nghiệp vụ cấp tín dụng ngân hàng.

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quyđịnh: ngân hàng thương mại được cấp tín dụng dưới các hình thức: cho vay;chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bảolãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước, bao thanhtoán quốc tế đối với ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; cácnghiệp vụ cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Cụthể:

2.1.1 Cho vay

Cho vay là nghiệp vụ cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc

và lãi Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để

tạo ra lợi nhuận, doanh thu và từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phítiền gửi, chi phí dự trù, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chiphí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư khác Cho vay có nhiều nét khác vớicác nghiệp vụ cấp tín dụng khác của ngân hàng thương mại Trong nghiệp vụcho vay, tổ chức tín dụng giao một khoản tiền nhất định trong một thời giannhất định cho bên đi vay, để dùng vào một mục đích nhất định; bên đi vay phảihoàn trả lại cả gốc và lãi khi đến hạn Trong hoạt động đi vay khoản tiền đượcchuyển giao trực tiếp cho bên đi vay

Hoạt động cho vay của ngân hàng là một trong những hoạt động cơ bản,mang lại nguồn thu chủ yếu chiếm khoảng 70% lợi nhuận hàng năm, thông quahoạt động cho vay các ngân hàng đã thực hiện việc chu chuyển, điều hoàn cácnguồn vốn nhàn rỗi, nguồn vốn mà ngân hàng có được thông qua huy động từ

Trang 17

công chúng để đáp ứng nhu cầu cần vốn của các tổ chức, cá nhân khác trong xãhội Chủ thể tham gia quan hệ cho vay là bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay(khách hàng vay) Hình thức pháp lý của mối quan hệ giữa bên cho vay và bên

đi vay là thông qua hợp đồng tín dụng Pháp luật Việt Nam hiện hành quy địnhbên cho vay thông thường là các tổ chức tín dụng được thành lập và thực hiệnnghiệp vụ cho vay theo quy định của Luật TCTD Ngoài ra các tổ chức khác nếuđược NHNN cho phép thực hiện các hoạt động tín dụng thì cũng có thể là bêncho vay Bên đi vay có thể là cá nhân, thỏa mãn các yêu cầu như: có năng lựcpháp pháp nhân trong nước hoặc nước ngoài luật và năng lực hành vi dân sự,mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợtrong thời hạn cam kết; có phương án sử dụng vốn vay khả thi và hiệu quả Như vậy, Luật các TCTD quy định các tổ chức tín dụng và khách hàng đi vayphải thỏa mãn các điều kiện luật định thì mới thành chủ thể trong quan hệ chovay

Nguyên tắc vay vốn dựa trên nhu cầu thị trường là nguyên tắc cơ bảnnhất, bên cạnh đó cũng được xác định trên cơ sở chính sách tín dụng của Nhànước trong từng giai đoạn, yêu cầu bảo đảm an toàn cho các hoạt động ngânhàng và yêu cầu bảo đảm quyền tự chủ cho các ngân hàng thương mại

Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, nguyên tắc vay vốn bao gồm:

Trang 18

Thứ hai, nguyên tắc hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận

trong hợp đồng tín dụng Theo đó, số tiền mà khách hàng vay nhận được chỉđược sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận tronghợp đồng tín dụng (thời hạn vay vốn) Khi kết hạn hợp đồng, khách hàng phảitrả cả gốc và lãi Tùy thuộc vào phương thức cho vay mà nghĩa vụ hoàn trả tiềnvay được thực hiện bằng nhiều cách Ví dụ, theo phương thức cho vay trả góp:khi vay vốn, khách hàng và ngân hàng xác định và thỏa thuận số lãi tiền vayphải trả cộng với nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạncho vay; tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên đi vay khi trả hết

nợ gốc và lãi; Đối với khoản vay nhằm mục đích phục vụ hoạt động sản xuấtkinh doanh thì thường được thanh toán một lần khi đến hạn

Theo quy định, việc cho vay phải được lập thành hợp dồng tín dụng Hợpđồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay,hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức sử dụng vốn vay,hình thức bảo đảm tiền vay, giá trị tài sản bảo đảm, biện pháp xử lý tài sản bảođảm, chuyển nhượng hoặc không chuyển nhượng hợp đồng tín dụng Như vậy,hợp đồng tín dụng chính là hình thức pháp lý riêng của quan hệ cho vay giữangân hàng và khách hàng, chứ không phải hình thức pháp lý chung cho tất cảcác trường hợp cấp tín dụng của ngân hàng Theo đó, hợp đồng tín dụng là sựthỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng (gọi là bên cho vay) và khách hàng vayvốn (gọi là bên đi vay), theo đó, bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiềnnhất định để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi hết hạn đó,bên đi vay phải hoàn trả lại cả gốc và lãi Hay nói cách khác, hợp đồng tín dung

là văn bản phản ảnh sự thỏa thuận trực tiếp của ngân hàng và khách hàng trongviệc xác lập một quan hệ cho vay, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thểcủa các bên trong việc vay và hoàn trả vốn vay

Trang 19

2.1.2 Bao thanh toán

Bao thanh toán là nghiệp vụ cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về nghiệp vụ bao thanh toánnhưng nói chung có thể hiểu nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thức tài trợcho những khoản thanh toán chưa đến hạn (trong ngắn hạn) từ các hoạt động sảnxuất, kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ Trong một nghiệp vụ bao thanhtoán thông thường sẽ có sự tham gia của 03 chủ thể, đơn vị bao thanh toán(factor) là bên thực hiện việc mua bán các khoản nợ và các dịch vụ liên quanđến mua bán nợ gồm các ngân hàng và công ty tài chính; người bán (seller) làđơn vị sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ, là bên sở hữu hợp pháp nhữngkhoản nợ chưa đến hạn thanh toán và ngưoi mua (buyer) là đơn vị sản xuất kinhdoanh, đó chính là bên mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng, là bênphải trả cho các khoản nợ

Có thể kể đến các đặc trưng của bao thanh toán như sau:

- Bao thanh toán là nghiệp vụ tín dụng có mức độ rủi ro cao Trongnghiệp vụ bao thanh toán không có sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sảnnhư trong nghiệp vụ cho vay Các khoản phải thu được coi như sự đảm bảo chokhoản tiền vay, mặc dù sự đām bảo không mấy chắc chắn Khi nhận chuyển giaocác khoản phải thu, các khoản phải trả, ngân hàng đã thay khách hàng gánh chịumọi rủi ro có thể phát sinh từ giao dịch đó Do vậy, bao thanh toán là nghiệp vụtín dụng ngắn hạn Ngân hàng chỉ nhận bao thanh toán với các khoản thu có thờihạn thanh toán còn lại không quá 180 ngày

- Trong hoạt động bao thanh toán các khoản phải thu, tuy ngân hàng thỏathuận ứng trước một khoản tiền cho khách hàng bao thanh toán, nhưng sau đó

Trang 20

ngân hàng không đòi lại khoản tiền đó trực tiếp từ người được cấp tín dụng màđòi tiền từ người thứ ba (người có nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ).

- Bao thanh toán là nghiệp vụ cho vay dựa trên việc chuyển nhượng tráiquyền hoặc nghĩa vụ tài sản Ngân hàng không chỉ có tư cách của người cho vay

mà còn có tư cách của người mua các trái quyền chưa đến hạn thanh toán Tronggiao dịch bao thanh toán, khách hàng còn phải làm thủ tục chuyển giao cácchứng từ, giấy tờ liên quan đến các khoản phải thu theo thủ tục quy định chặtchẽ của pháp luật Đối tượng của hoạt động bao thanh toán là các khoản phải thu(tồn tại dưới hình thức các hóa đơn thương mại là bằng chứng chứng minh việcngười bán hoàn thành nghĩa vụ cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ) là một tài sảntài chính theo đó người mua có trách nhiệm phải thanh toán số tiền còn nợ chongười bán Người bán sau khi lập hóa đơn, thay vì phải chờ đến kỳ hạn thanhtoán mới nhận được tiền, sẽ bán các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán

để nhận được tiền ngay

Việc bán các khoản phải thu phải gắn liền với việc chuyển quyền sở hữucác khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán, do đó, đơn vị bao thanh toán sẽ cótoàn quyền đối với khoản phải thu Nhờ vào việc chuyển giao quyền sở hữu này

mà đơn vị bao thanh toán sẽ có quyền nhận tiền thanh toán hóa đơn và trongtrường hợp bao thanh toán miễn truy đòi, đơn vị bao thanh toán phải gánh chịurủi ro nếu người mua không thanh toán vì lý do người mua mất khả năng thanhtoán

Trang 21

hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tin dụng theo thỏa thuận.

Bảo lãnh ngân hàng thực chất là sự cam kết bằng uy tín của người bảolãnh ngân hàng Điều này có nghĩa là khi nhận bảo lãnh, người nhận bảo lãnhquan tâm chủ yếu đến nhân thân người bảo lãnh, ví dụ như uy tín, độ tin cậy.Đồng thời với sự đánh giá này, người nhận bảo lãnh cũng rất quan tâm đến khảnăng tài chính của người bảo lãnh, vì trong trường hợp nghĩa vụ của khách hàngkhông được thực hiện, thực hiện không đầy đủ, người bảo lãnh sẽ phải thực hiệnnghĩa vụ này Bên bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng này là ngân hàngđược thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và được thực hiệnnghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng Ngân hàng được bảo lãnh thực hiện hợpđồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo đảm chất lượng sản phẩm theohợp đồng và các hình thức bảo lãnh cho các tổ chức, cá nhân khác theo quyđịnh

Hình thức của bảo lãnh ngân hàng phải bằng văn bản, đó là hợp đồng bảolãnh ngân hàng Trong hợp đồng bảo lãnh này phải ghi rõ phạm vi bảo lãnh,nghĩa là trách nhiệm của người bảo lãnh phải được xác định trong hợp đồng bảolãnh Ví dụ, đối với khoản tiền vay của khách hàng, việc bảo lãnh có thể đượcthực hiện một phần hoặc toàn bộ khoản vay Trong trường hợp thứ nhất, nghĩa

vụ của bên bảo lãnh được giới hạn bởi một số tiền cụ thể được ghi rõ trong thưbảo lãnh Trong trường hợp thứ hai, bên bảo lãnh có nghĩa vụ trả nợ toàn bộkhoản nợ của khách hàng đối với ngân hàng Như vậy, xét về bản chất, bảo lãnhngân hàng là một quan hệ hợp đồng bảo đảm mà theo đó bên bảo lãnh (ngânhàng) cam kết với bên có quyền về việc trả một khoản tiền xác định trước hoặctối đa khi có một yêu cầu thanh toán theo mẫu quy định trên cơ sở hành vi viphạm của bên có nghĩa vụ trong thời gian có hiệu lực của bão lãnh

Trang 22

2.1.4 Chiết khẩu, tái chiết khấu giấy tờ có giá

Chiết khấu giấy tờ có giá là việc các ngân hàng mua lại giấy tờ có giá của khách hàng trước thời hạn thanh toán Trong trường hợp ngân hàng đem giấy tờ có giá đã được chiết khấu một lần đi chiết khấu lại với tổ chức tín dụng khác hoặc ngân hàng trung ương thì được gọi là tái chiết khấu.

Hai nghiệp vụ này được phân biệt thông qua: chiết khấu giấy tờ có giá làgiao dịch lần đầu giấy tờ có giá giữa ngân hàng và khách hàng, tái chiết khấu làviệc ngân hàng đem giấy tờ có giá đã được mua lại từ khách hàng giao dịch với

tổ chức tín dụng khác là thông qua hình thức mua đứt bán đoạn; chủ thể thamgia vào tái chiết khấu giấy tờ có giá chi có thể là các tổ chức tín dụng hoặc ngânhàng trung ương Theo khoản 19, 20 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy

định: “- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi

các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán - Tái chiết khẩu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán”.

Xét dưới góc độ pháp lý, chiết khẩu là một hợp đồng, theo đó ngân hàngthỏa thuận mua công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụhưởng trước khi đến hạn thanh toán Theo quy định, hợp đồng chiết khẩu công

cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là văn bản thỏa thuận giữa ngân hàng vàkhách hàng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cácbên về việc chiết khẩu Việc chiết khẩu được thực hiện khi công cụ chuyểnnhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán, nhưng người bán lại cầntiền để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của mình Họ có thể đề nghị ngânhàng chiết khấu, có nghĩa là ứng trước cho họ một khoản tiền tương đương với

số tiền trong công cụ chuyền nhượng, giấy tờ có giá khác trừ đi lãi suất chiếtkhẩu và các chi phí khác Việc ứng trước tiền như vậy được coi là một hình thứccấp tín dụng của ngân hàng

Trang 23

Điểm đặc trưng của chiết khẩu là ngân hàng khấu trừ ngay lợi tức chiếtkhẩu và chỉ cấp cho khách hàng phần tiền còn lại Lợi tức chiết khấu và cáckhoản hoa hồng khác liên quan chính là phần lãi của ngân hàng Chính vì vậy,chiết khấu có thể được hiểu là việc mua lại phiếu nhận nợ trước khi đến hạnthanh toán theo giá được xác định trong phiếu trừ đi một số phần trăm nhất định.

Số phần trăm này phụ thuộc vào thời hạn còn lại đến khi phải thanh toán Thờihạn còn lại của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là khoảng thời gian

kể từ ngày công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được ngân hàng nhậnchiết khẩu đến ngày đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụ chuyểnnhượng, giấy tờ có giá khác đó

Thời hạn chiết khấu giấy tờ có giá do ngân hàng và khách hàng thỏa thuậnnhưng tối đa bằng thời hạn còn lại của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giákhác Đến thời hạn thanh toán của công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác,ngân hàng xuất trình chứng từ hợp lệ để đòi tiền người mắc nợ theo chứng từ.Thời hạn chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là khoảng thờigian tính từ ngày tiếp theo của ngày ngân hàng nhận chiết khấu công cụ chuyếnnhượng, giấy tờ có giá khác đến ngày khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ camkết mua lại hoặc đến ngày đến hạn thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên công cụchuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đó, bao gồm cả ngày nghi và ngày lễ

2.1.5 Phát hành thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàngphát hành theo thỏa thuận với chủ thẻ để đáp ứng nhu cầu tín dụng, thanh toántrong hạn mức nhất định thông qua việc xác lập quan hệ thanh toán giữa chủ thể

và đơn vị chấp nhận thẻ, đồng thời cũng xác lập quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ vàngân hàng Hay nói cách khác đi, thẻ tín dụng là công cụ thanh toán không dùngtiền mặt, cho phép người sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền mặt sau.Khoảng thời gian từ khi thẻ được sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch

vụ tới lúc chủ thẻ trả tiền cho ngân hàng phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng

Ngày đăng: 21/05/2022, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w