1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng quan về tín dụng ngân hàng (luật tài chính)

27 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 431,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 MỤC LỤC I Lý luận chung về tín dụng ngân hàng 5 1 Khái niệm 5 2 Đặc điểm 5 3 Phân loại 6 4 Vai trò và ý nghĩa 7 II Thực trạng pháp luật Việt Nam về tín dụng ngân hàng 9 1 Cơ sở pháp lý về tín dụng ngân hàng 9 1 1 Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 9 1 2 Quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 12 1 3 Quy định về tranh chấp và xử lý tranh chấp trong trong hợp đồng tín dụng 17 2 Thực trạng về hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay 18 2.

Trang 1

3

MỤC LỤC

I Lý luận chung về tín dụng ngân hàng 5

1 Khái niệm 5

2 Đặc điểm 5

3 Phân loại 6

4 Vai trò và ý nghĩa 7

II Thực trạng pháp luật Việt Nam về tín dụng ngân hàng 9

1 Cơ sở pháp lý về tín dụng ngân hàng 9

1.1 Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 9

1.2 Quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng 12

1.3 Quy định về tranh chấp và xử lý tranh chấp trong trong hợp đồng tín dụng. 17

2 Thực trạng về hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay 18

2.1 Một số điểm nổi bật trong hoạt động tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong năm 2021 18

2.2 Những hạn chế trong pháp luật về tín dụng ngân hàng 20

III Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về tín dụng ngân hàng 23

1 Kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động tín dụng ngân hàng 23

2 Đề xuất phương hướng hoàn thiện chung 25

Trang 2

7 Ngân hàng thương mại: NHTM

8 Doanh nghiệp Nhà nước: DNNN

Trang 3

5

BÀI LÀM

I Lý luận chung về tín dụng ngân hàng

1 Khái niệm

Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người cho vay

(ngân hàng thương mại) sang người đi vay (khách hàng) và sau thời gian nhất định theo thoả thuận bên đi vay hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay Hoạt động tín

dụng là một phần của hoạt động kinh doanh ngân hàng Tín dụng ngân hàng là

quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, với các nhà doanh nghiệp và cá nhân Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay Với tư cách

là người đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội Trái lại, với

tư cách là người cho vay thì ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và

cá nhân

2 Đặc điểm

Thứ nhất, cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về

việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của khách hàng và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn Còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay

Thứ hai, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim)

hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng

Trang 4

6

Thứ ba, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện

Ngân hàng thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay

Thứ tư, giá trị tín dụng không những được bảo toàn mà còn được nâng cao

nhờ lợi tức tín dụng Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, bởi khách hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay Khoản lợi tức này luôn dương để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng

Thứ năm, đặc trưng bản chất nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao Cho dù

khách hàng có thiện chí trả nợ nhưng nếu gặp môi trường kinh doanh bất lợi, biến động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng… thì cũng dễ gây ra khó khăn trong việc trả nợ và tất yếu ngân hàng gặp rủi ro tín dụng

3 Phân loại

3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn (không quá 12 tháng): được sử dụng để bù đắp sự thiếu

hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Đây là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất của các ngân hàng thương mại

Tín dụng trung hạn: có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng Tín dụng dài hạn: có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng

=> Tín dụng trung dài hạn thường có lãi suất cao gắn liền với các dự án đầu

tư của DN, do đó có quy mô và thời gian thực hiện kéo dài và tính chất phức tạp cao Điều này đòi hỏi NH phải có biện pháp quản lý phù hợp

3.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng

Trang 5

7

Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu

động của các tổ chức kinh doanh

Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được dùng hình thành tài sản cố

định

3.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng dành cho các

doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa

Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu

cầu tiêu dùng

3.4 Dựa theo phương thức hoàn trả

Các khoản vay được hoàn trả một lần: theo phương thức này vốn vay được

cấp cho người vay sau đó khi đến hết thời hạn vay vốn, người đi vay sẽ hoàn trả cho ngân hàng toàn bộ số vốn vay và lãi một lần

Các khoản vay được hoàn trả định kỳ: Theo phương thức này, cứ sau một

khoảng thời gian nhất định người đi vay phải hoàn trả một phần vốn vay cho ngân hàng Vốn vay và lãi có thể được hoàn trả theo các phương thức: gốc trả đều, lãi trả theo số dư; vốn vay được trả theo niên kim cố định; gốc trả theo cấp số cộng hay cấp số nhân, lãi trả theo số dư…

4 Vai trò và ý nghĩa

Thứ nhất, Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất,

đồng thời đầu tư phát triển kinh tế Quá trình tái sản xuất xã hội là thường xuyên và

liên tục nên nhu cầu về vốn thường xuyên ở mức độ cao Tín dụng ngân hàng hoạt động trên nguyên lý, bên cần vốn thì có thể vay được vốn với chi phí thấp và kịp

Trang 6

8

thời để hoàn thành công việc của mình, bên có vốn thì thu được khoản lợi trong thời gian mình không dùng tới khoản vốn đó Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần cung cấp, điều hoà vốn khiến quá trình sản xuất kinh doanh được trôi chảy Ngoài ra, tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Tín dụng là động lực kích thích tiết kiệm, đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế

Thứ hai, Tín dụng ngân hàng là công cụ thúc đẩy quá trình tập trung vốn và

tập trung sản xuất Tín dụng thông qua việc hoạt động đi vay để cho vay, làm

nhiệm vụ đưa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Bên cạnh đó, việc sản xuất sản phẩm đáp ứng yêu cầu của của thị trường tiêu dùng phải cần đến vốn nên việc sử dụng hiệu quả tín dụng ngân hàng là cần thiết Cùng với đó, hoạt động tín dụng chú trọng đầu tư vào các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả để tránh rủi ro

Thứ ba, Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, tiền

tệ, điều tiết trong lưu thông và kiểm soát lạm phát Sự gặp gỡ giữa cung và cầu về

vốn hoạt động trên cơ sở, những nơi đang có vốn tiền tệ tạm thời thừa được điều chuyển đến những nơi cần bổ sung về vốn nhờ vào hoạt động tín dụng của các cơ quan ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian Việc điều hoà vốn tín dụng trong nền kinh tế không chỉ là giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt

và hạn chế việc sử dụng tiền mặt, từ đó tiết kiệm được chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần vào việc điều hoà và ổn định lưu thông tiền tệ, đồng thời kiểm soát được lạm phát

Thứ tư, Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế

với nước ngoài Thông qua quá trình nhận và cho vay, tài trợ, xuất nhập khẩu của

các nước cấp tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng khác cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ thanh toán quốc tế Đồng thời tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt động

Trang 7

Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010

Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi bổ sung 2017)

Luật thương thương mại 2005

Luật doanh nghiệp 2020

Một số các nghị quyết, nghị định và thông tư của Chính phủ có liên quan khác…

Theo đó, có thể chia nội dung các quy định pháp luật thành các nhóm:

1.1 Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng

a Khái niệm

Được quy định tại Điều 463 BLDS 2015 Theo đó, HĐTD là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản Nhưng chỉ gọi là hợp đồng tín dụng khi một bên chủ thể tham gia vào HĐTD là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng HĐTD chính là hợp đồng cho vay, theo đó tổ chức tín dụng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoản thời gian hạn định theo thoả thuận và tuân thủ nguyên tắc “Có hoàn trả cả gốc và lãi”

Trang 8

10

b Đặc điểm

Chủ thể: Bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là

các ngân hàng, có đủ điều kiện luật định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có đủ điều kiện vay vốn theo pháp luật quy định

Hình thức: Lập thành văn bản Vì các bên có thể thực hiện hợp đồng trong

sự đảm bảo an toàn pháp lý và khi xảy ra tranh chấp , HĐTD sẽ là căn cứ để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng ngân hàng đa phần là các hợp đồng theo mẫu

Đối tượng: Là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ (có thể

là tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ) Đối tượng của HĐTD luôn là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng

Rủi ro: Vì bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời gian nhất

định Nếu thời gian cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn Do đó, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn các loại hợp đồng khác

Cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên: Trong HĐTD, nghĩa vụ

chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Vì thế chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình

Biện pháp bảo đảm: Vì HĐTD vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho

quyền lợi của bên cho vay nên việc thiết lập cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai dựa trên biện pháp bảo đảm thế chấp,cầm cố tài sản thuộc quyền sở hữu của

Trang 9

11

người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba để bảo vệ quyền lợi của người cho vay, khi nguồn thu nợ thứ nhất không xảy ra

c Nguyên tắc hoạt động

Một là, Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong HĐTD

Hai là, Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: Nguyên tắc này

đảm bảo cho các TCTD tránh được những rủi ro từ bên vay, cũng như đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay

có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật

Ba là, Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc lẫn lãi theo thỏa

thuận: Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này Trường hợp bên vay

có thể trả chậm hơn thời hạn quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn

1.2 Quy định PL về vốn pháp định của ngân hàng thương mại

Chính phủ ban hành Nghị định 86/2019/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (“Nghị định 86/2019/NĐ-CP”)

=> Với hoạt động ngân hàng – hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro

và có ảnh hưởng mang tính dây chuyền, các ngân hàng cần phải đáp ứng các điều kiện về năng lực kinh doanh để được phép thành lập,đi vào hoạt động và đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh

Vì vậy để đảm bảo hoạt động một cách an toàn thì các ngân hàng cần phải có

đủ mức vốn pháp định Trong kinh doanh tiền tệ, vốn không chỉ là cơ sở để thực hiện kinh doanh, trang trải chi phí, bù đắp tổn thất rủi ro trong kinh doanh mà vốn

Trang 10

12

còn là thước đo lòng tin của khách hàng đối với TCTD Bởi vậy, quy định về vốn pháp định là cơ sở để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính của các TCTD sau khi được thành lập và đi vào hoạt động kinh doanh Đối với ngân hàng, do phạm vi hoạt động kinh doanh rộng nhất, được phép thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh ngân hàng nên điều kiện về vốn pháp định cũng sẽ khắt khe nhất Theo quy định hiện hành, điều kiện về vốn pháp định để được thành lập đối với TCTD là ngân hàng là 3.000 tỷ (riêng đối với ngân hàng chính sách và ngân hàng phát triển

là 5.000 tỷ)

1.3 Quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng

a Pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NH

Quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng và giới hạn cấp tín dụng: Có thể thấy không được cấp tín dụng là quy định

mang tính chất “cấm đoán”, hạn chế cấp tín dụng là những quy định hạn chế phạm

vi và quyền trong HĐCTD, gồm: không được cấp tín dụng không có bảo đảm, không được cấp tín dụng ưu đãi cho một số đối tượng được quy định Ngoài ra, khi cấp tín dụng cho những đối tượng này thì cần có sự đồng ý của cơ quan quản lý TCTD và công khai tại TCTD Giới hạn tín dụng là quy định nhằm hạn chế về quy

mô tín dụng theo nguyên tắc kinh tế “không để tất cả trứng trong cùng một giỏ”

Quy định về thẩm định tín dụng và kiểm tra sử dụng vốn: là những quy

định phòng ngừa rủi ro cả trước khi giải ngân (thẩm định tín dụng) và sau khi giải ngân (kiểm tra sử dụng vốn vay) Các quy định này ràng buộc đối với các NH trong quá trình từ khi tiếp nhận hồ sơ cấp tín dụng cho đến khi quyết định cấp tín dụng

(phê duyệt tín dụng và ký kết hợp đồng)

Trang 11

13

Quy định về các biện pháp bảo đảm tín dụng: Cấp tín dụng của các NH được

thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau nên rủi ro trong HĐCTD là rất

đa dạng Xét về bản chất, các biện pháp bảo đảm tín dụng là những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 292 BLDS năm 2015 Biện pháp bảo đảm tín dụng được xác lập trước khi giải ngân, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, kể cả việc xử lý rủi ro

nhằm thu hồi nợ cho ngân hàng

Quy định về thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng sẽ cho ngân hàng biết về

uy tín, khả năng tài chính, chiến lược kinh doanh, khả năng trả nợ và nhiều nội dung quan trọng khác cần thiết đối với ngân hàng, từ đó làm cơ sở cho NH cấp hoặc từ chối cấp tín dụng Bên cạnh đó, thông tin tín dụng không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình thẩm định và xét duyệt tín dụng, mà còn có vai trò quan trọng trong khi giải ngân, sau khi giải ngân, cũng như đối với phân loại nợ và trích lập dự

phòng rủi ro

Quy định về hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN: Tại Việt Nam,

NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động NH và chức năng ngân hàng trung ương, hai chức năng này được biểu hiện thông qua hoạt động

thanh tra giám sát an toàn hoạt động NH

Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro: được thực hiện sau khi

đã tiến hành giải ngân cho khách hàng, phân loại nợ hướng đến mục tiêu đánh giá thực chất rủi ro của khách hàng, làm cơ sở để đề ra biện pháp dự phòng tương xứng Về nguyên tắc chung, phân loại nợ với rủi ro càng cao thì dự phòng rủi ro càng cao và ngược lại Khi xảy ra rủi ro và hậu quả, các NH sẽ dùng khoản dự

phòng này để xử lý rủi ro

Ngoài ra thì còn có các Quy định về việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

và Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ

Trang 12

14

b Pháp luật về xử lý rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NH

Có hai nhóm biện pháp xử lý rủi ro trong HĐCTD của các NHTM gồm biện pháp xử lý khai thác và biện pháp xử lý thanh lý Chính vì vậy, pháp luật về xử lý rủi ro trong HĐCTD của các NHTM có cấu trúc gồm những quy định của pháp luật

về xử lý khai thác và những quy định của pháp luật về xử lý thanh lý Cụ thể:

• Quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Để giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới mức tiêu chuẩn, làm lành mạnh hóa tài chính, ngân hàng cần thông qua cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản bảo đảm, dùng quỹ

dự phòng rủi ro để bù đắp Cơ cấu lại thời hạn trả nợ bao gồm điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ và gia hạn nợ Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc TCTD chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi Gia hạn nợ vay là việc TCTD chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng

Biện pháp điều chỉnh kỳ hạn trả nợ được áp dụng đối với khách hàng không

có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và TCTD đánh giá là có khả năng trả nợ trong các kỳ hạn tiếp theo, thì TCTD sẽ xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay

Tóm lại, cơ cấu lại thời hạn trả nợ được áp dụng đối với khách hàng có mức

độ rủi ro thấp, có thể kéo dài thời gian trả nợ cho NH

• Quy định về khoanh nợ, miễn giảm lãi suất, xoá nợ

Trang 13

15

Xét ở góc độ kinh tế, khoanh nợ là việc NH tạm thời chưa thu nợ của khách

hàng và không tính lãi tiền vay phát sinh trong thời gian được khoanh nợ, còn xoá

nợ là việc ngân hàng không thu một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi của khách hàng đang còn dư nợ tại ngân hàng

Xét về bản chất pháp lý, khoanh nợ là việc ngân hàng thoả thuận cho khách

hàng hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 354 BLDS năm 2015) Xoá nợ là việc ngân hàng miễn thực hiện nghĩa vụ dân sự cho khách hàng (Điều 372 và Điều 376 BLDS năm 2015)

Miễn giảm lãi suất vừa thể hiện bản chất của khoanh nợ, vừa thể hiện bản chất của xoá nợ, bởi lẽ khoanh nợ chính là việc NH giảm lãi suất về mức 0% trong thời gian khoanh nợ; còn miễn lãi suất chính là việc NH xoá nợ lãi cho khách hàng

• Quy định về chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ

Rủi ro trong HĐCTD của ngân hàng trên thực tế thường xuất phát chủ yếu

do khách hàng thực hiện không đúng nghĩa vụ (ví dụ: không thực hiện nghĩa vụ trả gốc và lãi vay ) hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ (chậm thanh toán tiền gốc và lãi vay) hay vi phạm các nội dung khác của hợp đồng tín dụng Pháp luật đã định hướng xử lý cho những vi phạm này như: buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại, yêu cầu trả lãi chậm thanh toán, đơn phương chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng Bên cạnh đó, các bên có thể thỏa thuận các biện pháp xử lý như phạt vi phạm hợp đồng, lãi chậm trả theo thỏa thuận

Bên cạnh đó, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng đưa ra biện pháp xử

lý là chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ (Điều 95) Có thể thấy chấm dứt cấp tín dụng

là việc NH đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo Điều 428 BLDS năm

2015 Đối với trường hợp này, NH phải thông báo ngay cho khách hàng biết về

Ngày đăng: 19/05/2022, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w