4 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại lý bảo hiểm 1.1.1 Khái niệm đại lý bảo hiểm Trong kinh tế, thuật ngữ đại lý là một hành vi thương mại, theo đó bên giao đại lý thường là một
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-∞∞ -
LÊ THU THẢO
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
∞∞
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÊ THU THẢO
KHÓA: 36 - MSSV: 1155010330 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS TRẦN MINH HIỆP
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Trần Minh Hiệp, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”
Trang 4CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG ĐƢỢC VIẾT TẮT
Trang 5Bảng 1: Những lợi ích của mô hình Bancassurance - - 13
Bảng 2: Tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm nhân thọ đối với các sản phẩm bảo hiểm chính - 40
Trang 6Sơ đồ 1: Con đường sự nghiệp của ĐLBH Công ty BHNT AIA Việt Nam - 39 Biểu đồ 1: Lý do không mua bảo hiểm của người dân - 45
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI LÝ BẢO HIỂM - 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại lý bảo hiểm - 4
1.1.1 Khái niệm đại lý bảo hiểm - 4
1.1.2 Đặc điểm của đại lý bảo hiểm - 5
1.1.3 Vai trò của đại lý bảo hiểm - 6
1.2 Điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường của đại lý bảo hiểm - 9
1.3 Mối tương quan của đại lý bảo hiểm so với các chủ thể khác - 10
1.3.1 So sánh đại lý bảo hiểm với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và một số kênh phân phối khác của doanh nghiệp bảo hiểm - 10
1.3.2 So sánh đại lý bảo hiểm với đại lý thương mại - 16
1.3.3 So sánh đại lý bảo hiểm với đại lý thuế - 17
1.3.4 So sánh đại lý bảo hiểm với đại lý hải quan - 19
1.3.5 So sánh đại lý bảo hiểm với đại diện cho thương nhân - 21
1.3.6 So sánh đại lý bảo hiểm với uỷ thác mua bán hàng hoá - 22
1.3.7 So sánh ủy quyền trong đại lý bảo hiểm với ủy quyền trong dân sự 23
1.4 So sánh địa vị pháp lý của đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước khác - 25
1.4.1 Pháp luật Trung Quốc - 25
Trang 81.4.3 Pháp luật Ấn Độ - 27
Kết luận chương - 29
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI LÝ BẢO HIỂM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN - 30
2.1 Quy định của pháp luật về điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường của đại lý bảo hiểm và hướng hoàn thiện - 30
2.1.1 Quy định của pháp luật về điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường của đại lý bảo hiểm - 30
2.1.2 Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về điều kiện, thủ tục gia nhập thị trường của đại lý bảo hiểm - 32
2.2 Quy định của pháp luật về hoạt động của đại lý bảo hiểm và hướng hoàn thiện - 33
2.2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động của đại lý bảo hiểm - 33
2.2.2 Thực tiễn hoạt động của đại lý bảo hiểm và hướng hoàn thiện - 43
2.3 Trách nhiệm của đại lý bảo hiểm - 48
2.3.1 Trách nhiệm của đại lý bảo hiểm đối với các chủ thể có liên quan - 48
2.3.2 Quy định của pháp luật trong việc xử lý đại lý bảo hiểm vi phạm và hướng hoàn thiện - 49
Kết luận chương - 54
KẾT LUẬN - 55
Trang 9hệ thống đại lý bảo hiểm - kênh phân phối truyền thống không thể thay thế được của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình xúc tiến sản phẩm Tuy nhiên, địa vị pháp lý của chủ thể này vẫn chưa được quy định chặt chẽ trong pháp luật cũng như trong hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến khách hàng lẫn doanh nghiệp bảo hiểm Trên cơ sở đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Đại lý bảo hiểm” tập trung vào việc nghiên cứu những quy định pháp quy hiện tại và liên hệ với thực tiễn, chỉ ra những điểm hạn chế và hướng đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của chủ thể này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình tìm hiểu và tổng hợp, tác giả nhận thấy địa vị pháp lý của đại lý bảo hiểm vẫn chưa được quan tâm xem xét và đầu tư nghiên cứu Cho đến hiện tại chưa có công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về đề tài này Cụ thể, rất ít sách tham khảo, chuyên khảo, giáo trình và đề tài nghiên cứu riêng về tư cách pháp lý của chủ thể này,
đa phần đều đề cập một cách sơ lược trong một tiểu mục nhỏ Các luận án, luận văn, khóa luận chủ yếu đều tập trung vào vấn đề hoàn thiện và phát triển đại lý bảo hiểm tại một đơn vị nhất định mà chưa đem đến cái nhìn bao quát toàn ngành cũng như không
đi vào tìm hiểu địa vị của đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật, tác giả xin dẫn chứng một số luận văn như sau:
Luận văn: Thực trạng hoạt động của đại lý bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Luận văn: Nâng cao hiệu quả hoạt động đại lý bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
Trang 102
trạng và giải pháp
Luận văn: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác của đại
lý bảo hiểm Phú Thọ
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Tác giả nghiên cứu đề tài “Địa vị pháp lý của đại lý bảo hiểm” nhằm đem đến cách hiểu toàn diện về địa vị, tư cách của chủ thể này theo pháp luật hiện hành Trên cơ
sở đó, tác giả xem xét quá trình áp dụng các quy định trên vào thực tiễn hoạt động để tìm ra những bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện Mục đích cuối cùng của tác giả là khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể này, góp phần phát triển kênh phân phối đắc lực của DNBH để đáp ứng nhu cầu được bảo vệ ngày càng cao của con người hiện đại, đảm bảo an toàn tài chính cho toàn xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Căn cứ vào loại hình bảo hiểm và tính chất nghiệp vụ được định nghĩa tại Luật kinh doanh bảo hiểm, hệ thống đại lý bảo hiểm bao gồm: Đại lý bảo hiểm nhân thọ - là đại lý hoạt động liên quan đến các loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết; Đại lý bảo hiểm phi nhân thọ - là đại lý hoạt động liên quan đến các loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ Bên cạnh đó còn tồn tại hệ thống đại lý trực thuộc tổ chức khác thông qua hợp đồng hợp tác ký kết giữa tổ chức đó với doanh nghiệp bảo hiểm (Ví dụ như ngân hàng…) Tuy nhiên, trong nội dung đề tài nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu về đại lý bảo hiểm nhân thọ Ngày nay, các doanh nghiệp và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh cả chiều rộng và chiều sâu, hệ thống đại
lý cũng theo đó gia tăng nhanh chóng, bên cạnh những đóng góp tích cực còn gặp phải nhiều hạn chế trong quá trình hoạt động Do đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực đại lý này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của kênh phân phối đại lý bảo hiểm trong tương lai
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tích những quy định của pháp luật hiện hành, tham khảo so sánh với pháp luật m ột số nước khác đồng thời liên hệ vào hoạt động thực tiễn để đưa ra hướng hoàn thiện Lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 11- Phương pháp giải thích – suy luận: Tác giả sử dụng phương pháp này để giải thích trên quan điểm khoa học những quy định của pháp luật cũng như nguyên nhân gây ra những hạn chế trong hoạt động của đại lý bảo hiểm
- Phương pháp so sánh: Trong phạm vi khóa luận, tác giả có so sánh đại lý bảo hiểm với các kênh phân phối khác của doanh nghiệp bảo hiểm, với các chủ thể khác có mối quan hệ tương quan như: đại lý thương mại, đại lý thuế, đại lý hải quan, ủy thác mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân… Tác giả còn tham khảo quy định về đại lý bảo hiểm với quy định một số nước khác như Trung Quốc, Canada, Ấn Độ để tham khảo và đối chiếu
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Toàn bộ khóa luận tập trung phân tích những quy định pháp lý nhằm làm rõ địa vị pháp lý của đại lý bảo hiểm trong pháp luật Việt Nam.Trên cơ sở đó, tác giả liên hệ với thực tiễn hoạt động của đại lý bảo hiểm và đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của đại lý bảo hiểm trong tương lai Khóa luận bao gồm hai chương như sau:
Chương 1: Khái quát về đại lý bảo hiểm
Chương 2: Quy định pháp luật về Đại lý bảo hiểm và hướng hoàn thiện
Trang 124
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại lý bảo hiểm
1.1.1 Khái niệm đại lý bảo hiểm
Trong kinh tế, thuật ngữ đại lý là một hành vi thương mại, theo đó bên giao đại lý (thường là một doanh nghiệp, công ty có sản phẩm, dịch vụ cần bán) và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua hoặc bán hàng cho bên giao đại lý để được hưởng thù lao Theo quy định của pháp luật bảo hiểm thì đại lý bảo hiểm (ĐLBH) cũng
là việc thoả thuận giữa bên đại giao đại lý và bên đại lý Tuy nhiên về địa vị pháp lý, tư cách hoạt động của ĐLBH lại có những điểm riêng biệt, đặc thù so với khái niệm trong thuật ngữ kinh tế Cụ thể, ĐLBH có thể là tổ chức hoặc cá nhân được uỷ quyền thông qua hợp đồng đại lý bảo hiểm (HĐĐLBH) để thực hiện các hoạt động ĐLBH
Bất cứ một sản phẩm, dịch vụ nào đến được với người tiêu dùng cũng phải trải qua quá trình phân phối Phân phối là một quá trình nhằm đưa một sản phẩm, dịch vụ hoặc một giải pháp đến tay người tiêu dùng vào thời gian, địa điểm và hình thức mà người tiêu dùng mong muốn Xét về khía cạnh quyền sỡ hữu, phân phối là một quá trình chuyển quyền sỡ hữu qua các tổ chức, cá nhân khác nhau Xét về khía cạnh người tiêu dùng, phân phối là sự di chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng thông qua các tổ chức trung gian Để làm tốt vai trò phân phối nêu trên, ĐLBH được xem là một cánh tay đắclực của các DNBH trong quá trình tiêu thụ sản phẩm ĐLBH là người thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) tiến hành các hoạt động ĐLBH Các hoạt động ĐLBH bao gồm hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo
uỷ quyền của DNBH Quan hệ này được thiết lập dựa trên việc uỷ quyền bằng hợp đồng riêng biệt, gọi là HĐĐLBH ĐLBH vẫn hoạt động với tư cách độc lập nhân danh mình trên cơ sở thoả thuận thay mặt DNBH phân phối sản phẩm
Tại Quyết định của Chủ tịch HHBHVN (HHBHVN) số 014/QĐ-HHBH/2011 thì
“ĐLBH là các cá nhân được DNBH nhân thọ chấp nhận và uỷ quyền làm đại lý của doanh nghiệp có thể dưới hình thức ký hợp đồng đại lý trực tiếp hoặc được uỷ quyền thông qua tổ chức trung gian như tổng đại lý, ngân hàng… Đại lý của doanh nghiệp bao gồm đại lý và các cấp quản lý đại lý tại các kênh phân phối: đại lý truyền thống, tổng đại lý và đại lý phi truyền thống như bán hàng qua ngân hàng, bán hàng qua điện thoại” ĐLBH ở đây đã được định nghĩa dưới tư cách cá nhân hoạt động trực tiếp hoặc thông qua ủy quyền và xét trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ (BHNT), bao gồm nhiều
Trang 135
kênh phân phối, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ đi sâu nghiên cứu về ĐLBH nhân thọ truyền thống, tức đại lý được ủy quyền trực tiếp từ DNBH Luật kinh doanh bảo hiểm (LKDBH) có ghi nhận: “Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được DNBH uỷ quyền trên cơ sở HĐĐLBH để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”1 Đây là cơ sở pháp lý quy định tư cách của ĐLBH khi gia nhập vào thị trường, theo đó, ĐLBH là một chủ thể tư vấn tài chính độc lập có thể là tổ chức hoặc cá nhân hoạt động trên cơ sở được DNBH ủy quyền thực hiện một số công việc nhất định
1.1.2 Đặc điểm của đại lý bảo hiểm
ĐLBH là một kênh phân phối bảo hiểm của DNBH
Kênh phân phối (marketing channel hoặc distribution channel) là tập hợp những
tổ chức và cá nhân trong quá trình di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng; thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm, dịch vụ ở trạng thái sẵn sàng để khách hàng có thể mua sắm và tiêu dùng một cách thuận tiện Kênh phân phối cùng tham gia vào việc tạo ra, kích thích nhu cầu và làm thỏa mãn nhu cầu thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Về khái niệm kênh phân phối, có thể tham khảo định nghĩa như sau: “ Kênh phân phối là sự kết hợp hữu cơ giữa nhà sản xuất và những trung gian để tổ chức vận động hàng hoá hợp lý nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng”2
Theo đó, đối với sản phẩm hữu hình, hệ thống phân phối bao gồm các phương tiện vật chất có thể rất lớn và khá tốn kém về tài chính, còn đối với sản phẩm vô hình, hệ thống phân phối chủ yếu đòi hỏi ở yếu tố con người Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh sản phẩm vô hình, do đó đòi hỏi phải có đội ngũ đại lý chuyên nghiệp, hoạt động hiệu quả ĐLBH là “người gác cổng”, cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giữa cung và cầu Thông qua đó, DNBH tiêu thụ được sản phẩm, dịch
vụ đã tạo ra, khách hàng mua được sản phẩm, dịch vụ có nhu cầu Nhiệm vụ chính của ĐLBH là đưa sản phẩm bảo hiểm đến khách hàng nhằm tiêu thụ sản phẩm, đây là vai trò của một kênh phân phối
ĐLBH là một hình thức ủy quyền bằng hợp đồng đại lý
Uỷ quyền là việc thay mặt DNBH thực hiện một số hoạt động nhất định trên cơ
sở hợp đồng đại lý Việc ủy quyền này có nền tảng như ủy quyền trong dân sự tuy nhiên có những điểm đặc thù riêng Nội dung này sẽ được phân tích rõ ở phần 1.3.7
Trang 146
Có thể xem xét HĐĐLBH tại một số doanh nghiệp để làm rõ điều này Tại hợp đồng ĐLBH của công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Cathay Việt Nam có quy định: “Sự uỷ quyền và kinh doanh độc lập” Theo đó, đại lý được công ty uỷ quyền thực hiện việc cung cấp các sản phẩm BHNT, đại lý là một “nhà kinh doanh độc lập, không có từ ngữ nào và điều khoản nào trong hợp đồng này quy định hay được hiểu hay được giải thích Đại lý là nhân viên của công ty, do đó không tồn tại mối quan hệ lao động giữa công ty
và ĐLBH” Tại quy định đầu tiên của hợp đồng đại lý của công ty Prudential Việt Nam
có quy định “Đại lý bảo hiểm - Sự uỷ quyền, đại lý là một nhà kinh doanh độc lập, và không có điều khoản nào trong hợp đồng này quy định hay được hiểu rằng Đại lý là nhân viên của Công ty hay hợp đồng này là hợp đồng lao động” Trong các hợp đồng ĐLBH ở các công ty bảo hiểm nhìn chung đều nêu rõ phạm vi uỷ quyền thực hiện công việc đáng ra thuộc về DNBH nhằm được hưởng thù lao, do đó, nếu đại lý vượt quá quyền hạn trong hợp đồng sẽ phải tự chịu trách nhiệm
ĐLBH là chủ thể tư vấn tài chính độc lập nhằm thực hiện công việc được ủy quyền
từ DNBH
Các DNBH triển khai sản phẩm của mình phần lớn thông qua các ĐLBH Mối quan hệ giữa 2 chủ thể này được quy định tại HĐĐLBH Theo đó, ĐLBH hoạt động cho DNBH, chịu sự quản lý, giám sát của DNBH, được chi trả hoa hồng, các khoản hỗ trợ và được đào tạo bởi DNBH Bên cạnh đó, ĐLBH vẫn được độc lập trong việc kinh doanh của mình DNBH muốn phủ sóng thị trường rộng rãi phải đầu tư và phát huy vai trò của kênh phân phối này Hai bên có mối quan hệ đối tác với nhau phát triển cùng có lợi ĐLBH là một kênh phân phối truyền thống thông qua sự ủy quyền của DNBH nhằm thực hiện các hoạt động đại lý Trong quá trình hoạt động, ĐLBH có mối quan
hệ chặt chẽ với DNBH nhưng vẫn có sự độc lập nhất định Trên đây là những đặc điểm tiêu biểu của kênh phân phối này Các quy định về thủ tục gia nhập thị trường, hoạt động và trách nhiệm của ĐLBH sẽ được phân tích rõ trong những phần sau
1.1.3 Vai trò của đại lý bảo hiểm
1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm
“Kinh doanh bảo hiểm” là hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi3 Đây cũng là mục đích chung của tất cả các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh ĐLBH được thành lập bởi các DNBH cũng không nằm ngoài mục đích nêu trên ĐLBH là kênh phân phối bảo hiểm truyền thống, lâu đời nhất đồng thời đem
3 Theo điều 3, Luật kinh doanh bảo hiểm
Trang 15Trong chu kì sống của sản phâm bảo hiểm gồm 4 giai đoạn: Giới thiệu – tăng trưởng - trưởng thành - suy thoái thì ĐLBH song hành và có tác động đến cả 4 giai đoạn ĐLBH sẽ thể hiện vai trò tích cực ở giai đoạn giới thiệu các sản phẩm đến tay khách hàng, từ đó làm tăng trưởng, phát triển sản phẩm đó, tăng trưởng đến một giai đoạn nhất định sẽ đến giai đoạn trưởng thành – giai đoạn thành công của sản phẩm cũng như doanh nghiệp Ngược lại, ĐLBH có thể tác động làm cho 1 sản phẩm trở nên suy thoái, ảnh hưởng đến lợi nhuận của DNBH nếu như ĐLBH hoạt động không hiệu quả
ĐLBH dễ dàng khai thác, nắm bắt thị trường từng khu vực để từ đó giúp DNBH hoàn thiện hơn sản phẩm và dịch vụ, nâng cao tính cạnh tranh Đại lý có ý nghĩa dung hoà quyền và lợi ích giữa khách hàng và doanh nghiệp do đại lý vừa là đối tác của DNBH vừa là chỗ dựa đáng tin cậy của khách hàng Nhiều nhà sản xuất không đủ nguồn lực tài chính cho việc vừa sản xuất vừa phân phối, nhiều nhà sản xuất mặc dù đủ tiềm lực nhưng xét về mối tương quan lợi ích, họ vẫn sử dụng kênh phân phối để đạt được lợi nhuận tối đa Từ đó nâng cao sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực kinh doanh với nhau ĐLBH có thể xem là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, nhất là trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay
1.1.3.2 Đối với khách hàng (bao gồm bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm
và người thụ hưởng)
Kênh đại lý là kênh phân phối dễ dàng tiếp cận, giải quyết kịp thời, đầy đủ các vấn đề phát sinh cũng như đáp ứng nhu cầu tư vấn rộng rãi của khách hàng Hoạt động này góp phần tối đa hoá hoạt động kinh doanh tại mọi địa bàn dân cư, mọi thời điểm, lấp bằng đi những khoảng cách về không gian, thời gian, phủ sóng rộng khắp, gia tăng nhanh và tiện lợi để đáp ứng nhu cầu cho người tiêu thụ cuối cùng Là cầu nối giữa khách hàng và DNBH, giúp khách hàng hoạch định và lên kế hoạch tài chính một cách
Trang 168
an toàn và hữu hiệu nhất Xuất phát từ bản chất của bảo hiểm không những là khoản tài chính phòng ngừa khi rủi ro xảy ra mà còn là một khoản tiết kiệm cho tương lai, ĐLBH, thông qua việc tư vấn và tiếp xúc khách hàng sẽ đưa ra những lời khuyên tốt nhất dành cho khách hàng nhằm phòng tránh những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai cho bản thân và gia đình
ĐLBH có vai trò xúc tiến thương mại, xúc tiến tiêu dùng, quản trị khách hàng Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm “vô hình, không thể tách rời, không thể cất trữ, không đồng nhất”, là sản phẩm không được mong đợi, là sản phẩm được bán chứ không phải được mua Vả lại, các hợp đồng bảo hiểm hiện nay đều rất phức tạp, khách hàng còn hạn chế hiểu biết, thường thụ động trong việc mua các sán phẩm bảo hiểm thì vai trò của ĐLBH càng được phát huy trong việc chào bán, xúc tiến tiêu dùng ĐLBH nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng, thể hiện ở việc duy trì sự quan tâm đến khách hàng
để duy trì khách hàng truyền thống vì thời gian hợp đồng bảo hiểm là khá dài, bảo vệ công ty trước những luồng thông tin, qua đó có thể phần nào khai thác những khách hàng tiềm năng khác từ những khách hàng cũ
1.1.3.3 Đối với xã hội
ĐLBH giải quyết những mâu thuẫn cơ bản giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng,
đó là: mâu thuẫn giữa nhà sản xuất sản xuất khối lượng lớn nhưng ít chủng loại trong khi người tiêu dùng tiêu thụ khối lượng nhỏ nhưng đa dạng về chủng loại; mâu thuẫn
về việc sản xuất tại một địa điểm của nhà xuất với nhu cầu tiêu dùng khắp cả nước của người tiêu dùng; mâu thuẫn giữa thời gian sản xuất và thời gian tiêu thụ là không trùng khớp nhau ĐLBH góp phần nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội về
ý nghĩa và vai trò của bảo hiểm Qua đó, góp phần duy trì ổn định và an ninh xã hội bằng cách giúp khách hàng giảm bớt những khó khăn tài chính khi có rủi ro xảy ra ĐLBH là một kênh phân phối tài chính hiệu quả, thông qua việc huy động nguồn vốn từ lượng dân cư rộng rãi hình thành nên quỹ tiền tệ rất lớn, quỹ này được sử dụng
đề bồi thường nếu tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm xảy ra Nếu tổn thất chưa xảy ra thì quỹ tiền tệ này tạm thời nhàn rỗi và được đưa vào đầu tư khắc phục tình trạng dư thừa vốn nhàn rỗi, đưa nền kinh tế phát triển đi lên
Như vậy, hệ thống đại lý không chỉ có vai trò quan trọng trong việc xúc tiến chào bán sản phẩm, dịch vụ của các DNBH mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy của khách hàng Bên cạnh đó, ĐLBH còn có vai trò xã hội cao cả trong việc phòng tránh rủi ro, góp phần đảm bảo sự an toàn cho xã hội Với vai trò quan trọng như trên, cần có những quy định và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể này trong tương lai
Trang 179
1.2 Điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường của đại lý bảo hiểm
ĐLBH tham gia vào thị trường với tư cách tổ chức hoặc cá nhân Đối với mỗi loại chủ thể lại quy định những điều kiện khác nhau Cụ thể: Đối với cá nhân hoạt động ĐLBH phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có CCĐLBH do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp Đối với tổ chức hoạt động ĐLBH phải là tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp, trong đó nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động ĐLBH phải có đủ các điều kiện như đối với cá nhân hoạt động ĐLBH Riêng người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của pháp luật không được ký kết HĐĐLBH4
Xem xét những yếu tố trên, có thể thấy rằng hoạt động đại lý là hoạt động có điều kiện, có nghĩa là chỉ khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật thì các chủ thể mới được tiến hành hoạt động Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là ngành tài chính tiền tệ mang tính chất rủi ro cao, hoạt động dựa trên niềm tin, do đó, ĐLBH phải có hiểu biết nghiệp vụ cơ bản về kinh doanh bảo hiểm Tầm ảnh hưởng của ngành bảo hiểm là vô cùng to lớn, không chỉ tác động đến từng chủ thể mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế và toàn thể đời sống xã hội nên nhà nước phải quản lý chặt chẽ thông qua việc quy định những điều kiện cơ bản nhất Riêng đối với các ĐLBH với tư cách là tổ chức có tư cách pháp nhân thì tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành
Ngoài ra, các chủ thể phải đáp ứng các chuẩn mực đạo đức dành cho ĐLBH được quy định tại Bộ tiêu chuẩn đạo đức ĐLBH nhân thọ, ban hành kèm theo Quyết định 014/QĐ-HHBH/2011 ngày 08/06/2011 của Chủ tịch HHBHVN bao gồm những tiêu chuẩn đại lý phải tuân thủ và những việc không được làm Yếu tố lòng tin là một ranh giới mong manh, khó xác định Để tránh những vấn đề phát sinh và tổn thất, cần thiết phải có những quy định cụ thể cả về nghiệp vụ lẫn đạo đức Nội dung này sẽ được làm
rõ tại mục 2.2.1.4 Trong quá trình hoạt động, ĐLBH còn phải chịu sự giám sát, quản
lý chặt chẽ từ DNBH nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả
Để gia nhập thị trường, ĐLBH phải ký kết HĐĐLBH với các DNBH khi đáp ứng
đủ các điều kiện được trình bày như trên Hợp đồng ĐLBH căn cứ vào quy định chung
4
Điều 86 Luật kinh doanh bảo hiểm
Trang 18Kỹ năng bán bảo hiểm; Quyền và nghĩa vụ của DNBH, ĐLBH trong hoạt động ĐLBH; Thực hành hành nghề ĐLBH
Kinh doanh bảo hiểm là một ngành phức tạp, đặc biệt với số đông nhân dân khó tiếp cận, do đó yêu cầu có số lượng ĐLBH có hiểu biết, kiến thức, chuyên môn nghiệp
vụ giúp cho người mua bảo hiểm yên tâm, tin tưởng hơn Quy định của pháp luật về điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường của ĐLBH chỉ đề cập những vấn đề cơ bản, thiết yếu, căn cứ vào đó và tùy theo chiến lược kinh doanh đề cụ thể hóa điều kiện riêng cho từng doanh nghiệp
1.3 Mối tương quan của đại lý bảo hiểm so với các chủ thể khác
1.3.1 So sánh Đại lý bảo hiểm với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và một số kênh phân phối bảo hiểm khác của doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.1.1 So sánh đại lý bảo hiểm với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
Theo các từ điển thuật ngữ đầu tư và tài chính, “Môi giới bảo hiểm” là một nhà môi giới độc lập, là nhà tìm kiếm các khoản bảo hiểm với mức giá tốt nhất cho khách hàng của họ Nhà môi giới bảo hiểm không làm việc cho công ty bảo hiểm mà làm việc cho người mua bảo hiểm”
LKDBH có quy định “ Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm (DNMGBH) là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm theo quy định của luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”5 DNMGBH bao gồm: DNMGBH gốc và doanh nghiệp môi giới tái bảo hiểm Sự phân chia trên căn cứ vào nội dung, lĩnh vực hoạt
5 Điều 89 Luật kinh doanh bảo hiểm
Trang 1911
động của từng loại DNMGBH Như vậy, DNMGBH hoạt động dựa trên quyền lợi của khách hàng thông qua các công việc lắng nghe nhu cầu, tư vấn và chọn lựa các sản phẩm dịch vụ cho họ Doanh nghiệp môi giới là người đứng giữa, làm cầu nối cho cung và cầu Đây là kênh phân phối có sự am hiểu về chính sách pháp luật, các gói sản phẩm để đưa đến những sản phẩm tốt nhất trên cơ sở so sánh thị trường cho khách hàng Hoạt động môi giới bảo hiểm bao gồm cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm (BMBH) về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, DNBH và các công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của BMBH
Đây cũng là một trong những kênh truyền thống có tầm quan trọng trong việc phân phối bảo hiểm bên cạnh kênh đại lý Kênh này khác biệt bởi chủ thể thành lập là một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động và tự chịu trách nhiệm một cách độc lập với DNBH Chỉ có pháp nhân mới có thể hoạt động môi giới bảo hiểm còn cá nhân thì không được cho phép Đây là điểm khác biệt cơ bản trong tư cách chủ thể giữa ĐLBH và DNMGBH
Có thể thấy, về địa vị pháp lý, DNMGBH hoạt động một cách độc lập, không phụ thuộc vào DNBH Họ không bị phụ thuộc vào bất cứ DNBH nào, họ chỉ dựa trên nhu cầu của khách hàng mà tìm ra những sản phẩm phù hợp nhất với khách hàng từ các DNBH Nghĩa vụ và trách nhiệm của DNBH và ĐLBH với khách hàng có liên quan, đôi lúc liên đới với nhau Còn DNMGBH chịu trách nhiệm một cách độc lập dựa trên hoạt động của mình Họ phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảo hiểm tại DNBH Hoạt động của DNMGBH nhằm mục đích kinh doanh, nhận thù lao từ khách hàng, khác với hoạt động của ĐLBH sẽ nhận được hoa hồng thông qua việc chào bán các sản phẩm bảo hiểm Điều này khẳng định một lần nữa sự độc lập trong hoạt động của DNMGBH so với ĐLBH Cùng với ĐLBH, DNMGBH là kênh phân phối truyền thống hiệu quả nhất trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
1.3.1.2 So sánh đại lý bảo hiểm với kênh phân phối trực tiếp
Kênh phân phối trực tiếp là kênh phân phối không qua khâu trung gian nào mà di chuyển trực tiếp từ DNBH đến tay người tiêu dùng Theo đó, khách hàng có thể mua bảo hiểm tại nơi đặt doanh nghiệp, tại các phòng ban, mua trực tiếp qua nhân viên kinh doanh của công ty hoặc phản hồi từ các quảng cáo, lời mời chào… Kênh này có ưu điểm thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông, đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ giữa cơ sở sản xuất với khách hàng trong phân phối, có sự kiểm soát sản phẩm cao Mua bán thông
Trang 20mở rộng thị trường Ngày nay, xu hướng của các doanh nghiệp thường tập trung phát triển các kênh gián tiếp, hiện đại hơn là kênh trực tiếp, xuất phát từ tính chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Kênh phân phối trực tiếp, bản chất chính DNBH là chủ thể phân phối sản phẩm thông qua các hoạt động kinh doanh thường ngày, không có những quy trình, thủ tục thiết lập đăng ký hoạt động như ĐLBH
1.3.1.3 So sánh đại lý bảo hiểm với kênh phân phối qua hệ thống ngân hàng (Bancassurance)
Bancassurance (banca + assurance) là một thuật ngữ tiếng Pháp dùng để chỉ việc bán sản phẩm bảo hiểm qua hệ thống ngân hàng cho cùng một cơ sở khách hàng Có thể liệt kê tóm tắt những lợi ích khiến cho kênh phân phối qua ngân hàng đang phát triển với tốc độ nhanh chóng tại các quốc gia:
Trang 21- Tăng hiệu quả kinh
doanh từ việc phân
phối dựa trên cơ sở
thương hiệu có hiệu
ứng tạo niềm tin tốt
cầu bảo hiểm cao
- Đa dạng hoá kênh
phân phối
- Tăng nguồn vốn lưu động từ hoa hồng của DNBH
và phí dịch vụ của khách hàng
- Nâng cao hiệu quả phục vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng sản phẩm của khách hàng, duy trì và phát triển khách hàng sẵn có
- Giảm thiểu rủi ro cho các khoản vay
từ cam kết của DNBH
- Đa dạng sản phẩm mà không cần phải tăng vốn
- Mua sản phẩm với giá thấp hơn
- Có thêm kênh
để mua sản phẩm tin cậy do
đã có sự bảo đảm “hai lần” từ phía ngân hàng lẫn DNBH
- Đáp ứng nhu cầu đa dạng một cách tiện lợi, đơn giản, nhanh chóng
- Cơ quan quản
lý nhà nước sẽ thuận lợi hơn trong việc thực hiện các công việc quản lý do
về giải pháp tài chính toàn diện
Bảng 1 Những lợi ích của mô hình Bancassurance
Nhìn vào bảng trên có thể thấy một số lợi thế của kênh phân phối trên so với ĐLBH đó là không tốn kém quá nhiều chi phí đầu tư, quản lý… do đã được tận dụng được cơ sở từ ngân hàng, còn với ĐLBH, phải trải qua quá trình đào tạo, huấn luyện và theo dõi thường xuyên, liên tục; Lợi thế về thương hiệu của ngân hàng tạo niềm tin và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của khách hàng Đây cũng là hình thức phân phối sản phẩm thông qua trung gian tuy nhiên còn nhiều hạn chế so với ĐLBH ở chỗ các sản phẩm còn chưa phong phú do bán hàng qua Ngân hàng chỉ gói gọn trong một
Trang 2214
số sản phẩm nhất định tùy thuộc vào thỏa thuận, ngoài ra các quy định về cạnh tranh và quản lý thông tin khách hàng còn chưa toàn diện để đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động như ĐLBH
Cả hai hoạt động kinh doanh bảo hiểm qua Bancassurance và ĐLBH đều là hình thức uỷ quyền bởi DNBH, tuy nhiên có những điểm khác biệt Sự uỷ quyền của DNBH với ĐLBH được thể hiện thông qua hợp đồng đại lý, trong đó có quy định rõ giới hạn của việc uỷ quyền, theo đó ĐLBH là nhà kinh doanh độc lập trong giới hạn đã thoả thuận với DNBH Còn thoả thuận giữa DNBH với Ngân hàng chủ yếu được thể hiện dưới dạng hợp đồng hợp tác Bancassurance là mô hình hai bên đều có lợi, tận dụng lợi thế của nhau, ngang hàng nhau, không phụ thuộc vào sự quản lý chặt chẽ như đối với DNBH
Ngân hàng xúc tiến việc bán hàng cho DNBH để được hưởng hoa hồng, đây là hoạt động kinh doanh thêm nhằm đa dạng hoá sản phẩm Hoạt động ĐLBH có khi được xem là nguồn thu nhập chính đối với những ĐLBH chuyên nghiệp, toàn thời gian Kênh phân phối thông qua Ngân hàng tận dụng được cơ sở vật chất và nhân lực
đã được thiết lập sẵn của Ngân hàng có tư cách pháp nhân Còn ĐLBH có thể bao gồm
tổ chức hoặc cá nhân Hoạt động của Ngân hàng có phần độc lập hơn so với ĐLBH do bản chất mối quan hệ giữa hai chủ thể này là hợp tác ngang bằng Mối quan hệ giữa ĐLBH và DNBH gắn chặt với nhau do ĐLBH là tổ chức hoặc cá nhân thay mặt DNBH
và chịu sự quản lý chặt chẽ Về mức độ rủi ro pháp lý, cả hai kênh phân phối ngân hàng và đại lý đều có độ an toàn nhất định Nhưng về mặt kiểm soát, hệ thống đại lý được thành lập và hoạt động dưới sự quản lý chặt chẽ hơn trong phạm vi được ủy quyền, tạo nên sự yên tâm hơn so với bán bảo hiểm thông qua hợp đồng hợp tác với ngân hàng
Ngân hàng và ĐLBH là hai kênh phân phối qua trung gian của DNBH, tuy nhiên
mô hình tổ chức của ĐLBH mang tính truyền thống, còn Ngân hàng là kênh hiện đại mới được hình thành chưa lâu, do đó giữa hai chủ thể trên có những ưu nhược điểm nhất định như đã phân tích ở trên
1.3.1.4 So sánh đại lý bảo hiểm với kênh phân phối trực tuyến ( bán bảo hiểm qua điện thoại)
Ngày nay, với sự hỗ trợ của khoa học - công nghệ, việc phát triển kênh phân phối trực tiếp được nâng lên tầng cao mới với những phương thức cung ứng dịch vụ trực tuyến với phạm vi rộng rãi và tiết kiệm chi phí xây dựng cơ sở vật chất Kênh bán hàng này có độ linh hoạt cao trong việc tiếp cận với khách hàng, bắt kịp được xu thế và
Trang 2315
phương thức giao tiếp hàng ngày của xã hội, có sự thuận tiện cao trong việc cung cấp dịch vụ, chi phí phân phối thấp Cũng như kênh bán hàng qua Ngân hàng, kênh phân phối này không tốn quá nhiều thời gian chi phí cho quá trình thiết lập và vận hành hoạt động, đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ với tốc độ cao
Tuy nhiên, nếu bán hàng qua ĐLBH đảm bảo độ an toàn cao do đã có những quy định cụ thể, đầy đủ điều chỉnh và sự quản lý chặt chẽ thì bán hàng trực tuyến còn gặp nhiều hạn chế Các sản phẩm được phân phối bởi kênh ĐLBH hầu như đầy đủ những sản phẩm hiện có của DNBH, còn với việc bán hàng qua điện thoại không phù hợp với các sản phẩm có tính năng tổng hợp, phức tạp, nguồn gốc cơ sở dữ liệu chưa rõ ràng, không đáp ứng được tất cả các nhu cầu của khách hàng Trong đó, hạn chế về khung pháp lý là trở ngại lớn nhất, pháp luật chuyên ngành về bán bảo hiểm qua các kênh phân phối gián tiếp là chưa nhiều, có nhiều điểm không thuận lợi, các quy định gần như là không thiết thực, khả thi Không chỉ nước ta, mà các nước trên thế giới đều có
sự hạn chế nhất định đối với mô hình này, có thể điểm qua pháp luật của một số quốc gia như sau: Pháp luật Singapore cho phép phân phối sản phẩm bảo hiểm trực tuyến, nhưng chỉ giới hạn ở dòng sản phẩm tử kỳ và yêu cầu DNBH phải tuân thủ quy định bảo vệ đời tư Pháp luật Thái Lan đã có quy định khá cụ thể về việc thực hiện bán bảo hiểm bằng điện thoại Theo đó, pháp luật chấp nhận bản ghi âm như là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên, nhân viên bán bảo hiểm phải thông báo rõ ràng
và được khách hàng chấp nhận về việc ghi âm để bằng chứng này có thể được sử dụng hợp pháp Cơ quan quản lý của Thái Lan cũng chỉ ưu tiên chấp thuận một số sản phẩm đơn giản được phép triển khai thông qua kênh này Pháp luật Canada cũng cho phép bán hàng dưới hình thức này, với điều kiện là mệnh giá bảo hiểm không được vượt quá
1 triệu USD, khách hàng vẫn sẽ phải tự kê khai và ký xác nhận Đơn yêu cầu bảo hiểm
để gửi cho DNBH Trong đó, chữ ký của các bên phải được làm chứng bởi một bên thứ ba không có liên quan đến người yêu cầu bảo hiểm và chủ hợp đồng Loại hình bảo hiểm này sẽ không có tính năng về bảo hiểm tạm thời để hạn chế các rủi ro về trục lợi bảo hiểm Pháp luật Philipines yêu cầu nội dung cuộc gọi chào bán bảo hiểm phải được lưu trữ trong thời hạn của hợp đồng cùng với bản in của nội dung cuộc gọi, đây
sẽ được xem là tài liệu thay thế cho đơn yêu cầu bảo hiểm Những sản phẩm được phân phối qua hình thức này phải là những sản phẩm đơn giản như tai nạn cá nhân hoặc tử
kỳ hằng năm, hoặc chủ yếu là những sản phẩm không có giá trị hoàn lại
Như vậy có thể thấy, kênh phân phối trực tuyến là kênh phân phối hiện đại của DNBH, là cách thức phân phối mới mẻ tuy nhiên còn nhiều hạn chế do với ĐLBH Đặc
Trang 2416
biệt, đối với khách hàng, niềm tin đối với kênh phân phối này có phần mỏng manh Nếu giao kết hợp đồng với ĐLBH, là người thay mặt DNBH tạo được sự an tâm cho khách hàng, thì kênh trực tuyến không làm được điều đó khi mà những quy định về nó chưa chặt chẽ Ngành tài chính là ngành kinh tế hoạt động dựa trên yếu tố niềm tin và
an toàn, nên ĐLBH vẫn là sự lựa chọn tối ưu của DNBH lẫn khách hàng
Trên đây là những kênh phân phối chủ yếu, điển hình của các DNBH Ngoài ra DNBH còn phân phối thông qua bưu cục của Bưu điện ( tiêu biểu như Previor), phân phối thông qua cộng tác viên, phân phối thông qua ATM, thông qua các cơ sở hội phụ
nữ, hội khuyến nông, thông qua các đại lý bất động sản, đại lý du lịch… Trên thực tế, các kênh bảo hiểm được sử dụng đa dạng, kết hợp, hỗ trợ nhau nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Sản phẩm bảo hiểm đến được tay khách hàng bằng nhiều cách và ngày càng đa dạng Tuy nhiên, có thể khẳng định: ĐLBH vẫn là kênh đóng vai trò truyền thống và không thể thay thế của các DNBH
1.3.2 So sánh đại lý bảo hiểm với đại lý thương mại
Đại lý thương mại (ĐLTM) là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao6 Trong đó, Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại
lý cung ứng dịch vụ; Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ
Có thể thấy ĐLTM là hoạt động thương mại, có nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi Điểm khác biệt đầu tiên có thể thấy giữa ĐLBH và ĐLTM là tư cách khi tham gia vào các mối quan hệ thương mại Theo đó, nếu ĐLTM được nhân danh chính mình thì ĐLBH hoạt động dựa trên sự uỷ quyền, tức ĐLBH hoạt động thay mặt DNBH trên cơ sở thỏa thuận ủy quyền được thiết lập thông qua HĐĐL Xuất phát từ hoạt động của ĐLBH là xúc tiến việc tiêu thụ các sản phẩm bảo hiểm, do đó, công việc không tách rời trong mối quan hệ với DNBH Còn ĐLTM thực hiện các công việc bằng danh nghĩa của chính mình Quan hệ đại lý chỉ được điều chỉnh riêng giữa bên giao đại lý với ĐLTM mà không ảnh hưởng đến bên thứ ba
Về mục đích và nội dung hoạt động, ĐLTM hoạt động nhằm mục đích hưởng thù lao từ bên giao đại lý Nội dung hoạt động bao gồm mua, bán hàng hóa hoặc cung ứng
6 Điều 166 Luật Thương mại 2005
Trang 2517
dịch vụ theo yêu cầu của bên giao đại lý Hoạt động của ĐLTM nhìn chung rộng hơn, tuy nhiên về tính chất công việc không quá phức tạp so với ĐLBH ĐLBH là một công việc thường xuyên và có tính chất ổn định nhằm nhận được hoa hồng từ việc chào bán sản phẩm, chi phí hỗ trợ và các chi phí khác
Xét về sự độc lập trong hoạt động có thể thấy, ĐLTM phần nào được chủ động trong hoạt động kinh doanh hơn ĐLTM đơn giản chỉ là hành vi đại lý buôn bán lẻ để được hưởng thù lao Còn hoạt động của ĐLBH gắn chặt với DNBH Tính chất phức tạp trong công việc của hai chủ thể trên là khác nhau, do đó, pháp luật có những quy định chặt chẽ hơn đối với ĐLBH Đối tượng tác động của ĐLBH là các sản phẩm bảo hiểm, để thực hiện chào bán này phải có sự hiểu biết về các nghiệp vụ bảo hiểm, cho nên, ĐLBH có mối quan hệ chặt chẽ từ việc thành lập, huấn luyện, đào tạo và cả quản
lý sau khi đã đi vào hoạt động Mối quan hệ giữa ĐLBH với DNBH được điều chỉnh bằng một loại hợp đồng riêng biệt: HĐĐLBH với những quy định cụ thể, chặt chẽ Kinh doanh bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính tiền tệ nhạy cảm với những thay đổi của kinh tế - xã hội, do đó xét về tư cách chủ thể, ĐLBH có những yêu cầu và quy định chặt chẽ hơn so với ĐLTM
Từ những phân tích trên, có thể thấy đây là hai chủ thể riêng biệt, có hoạt động độc lập, hoạt động theo những quy chế riêng Bắt nguồn từ tính chất công việc cũng như nội dung hoạt động mà ĐLBH có những đặc thù so với ĐLTM
1.3.3 So sánh đại lý bảo hiểm với đại lý thuế
Đại lý thuế (ĐLT) là doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ
có điều kiện được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp làm thủ tục về thuế theo sự thỏa thuận với người nộp thuế7 Trong đó, dịch vụ làm thủ tục về thuế là dịch vụ thực hiện các thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục hành chính thuế khác thay người nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và hợp đồng dịch vụ đã ký kết
Xét về tư cách chủ thể, ĐLT chỉ có thể là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện,
có nghĩa là chỉ khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì mới được thành lập và hoạt động Chủ thể là cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này là nhân viên ĐLT, hoạt động cho ĐLT chứ không có tư cách độc lập như các ĐLBH Đây
là điểm khác biệt đầu tiên và cơ bản nhất trong tư cách chủ thể giữa ĐLBH và ĐLT,
7 Thông tư 117/2012/TT-BTC
Trang 2618
theo đó, ĐLBH bao gồm cả pháp nhân và cá nhân còn ĐLT chỉ bao gồm doanh nghiệp Lĩnh vực thuế và bảo hiểm là hai lĩnh vực riêng biệt được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành Tuy nhiên ĐLT cũng như ĐLBH pháp nhân phải tuân thủ theo quy định
về thành lập Doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp Còn ĐLBH với tư cách cá nhân chỉ đáp ứng các điều kiện theo LKDBH và quy định của riêng doanh nghiệp đó Trong quan hệ dịch vụ về thuế tồn tại giữa hai chủ thể là ĐLT và người có nghĩa vụ nộp thuế, trong đó, ĐLT sẽ làm thay thủ tục về thuế cho người nộp thuế để được hưởng thù lao Còn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm có DNBH có tư cách pháp nhân
và ĐLBH hoạt động nhằm xúc tiến việc bán sản phẩm bảo hiểm đến tay khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng
Về nội dung hoạt động, ĐLT hoạt động kinh doanh dịch vụ về Thuế để sinh lợi, thông qua việc tiến hành một công việc thay người nộp thuế để được hưởng thù lao, tức làm thay người khác một công việc mà đáng ra công việc đó họ phải tự làm Còn ĐLBH là một nhà kinh doanh độc lập, mục đích hoạt động chính của họ là chào bán các sản phẩm bảo hiểm đến khách hàng để được hưởng hoa hồng, cả hai bên đều có lợi Hoạt động của ĐLT với khách hàng là mối quan hệ song vụ, việc thực hiện nghĩa
vụ của bên này đối trừ nghĩa vụ của bên kia theo quy định đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ Còn công việc ĐLBH còn là công việc nghề nghiệp có tính chất lâu dài,
ổn định và mang những đặc thù riêng, do đó được quy định riêng bằng một loại hợp đồng đặc thù Trong đó có xác định rõ ĐLBH là nhà kinh doanh độc lập được DNBH
ủy quyền Mối quan hệ giữa ĐLBH và DNBH gắn kết chặt chẽ kể từ khi thành lập, đào tạo, huấn luyện cũng như mọi hoạt động về sau với thời gian ổn định, kéo dài thay vì công việc có tính chất ngắn hạn như hoạt động dịch vụ về thuế
ĐLT không phải là tổ chức đại diện cho cơ quan thuế, mà là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hoạt động độc lập, do đó cũng chịu trách nhiệm độc lập trên cơ sở đã thỏa thuận với người nộp thuế Cũng như ĐLTM, ĐLT hoạt động độc lập hơn so với ĐLBH, nó có một ưu điểm rất lớn và khác biệt với các dịch vụ kế toán kiểm toán thông thường đó là sẽ chịu trách nhiệm trong việc kê khai tình hình nộp thuế và các vấn đề liên quan của doanh nghiệp trước cơ quan thuế Mối quan hệ giữa ĐLT và người nộp thuế phụ thuộc vào thỏa thuận dân sự giữa hai bên còn ĐLBH và DNBH phải tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật Do đó, trách nhiệm của hai chủ thể này gắn liền với nhau trong mối quan hệ với khách hàng Cụ thể, pháp luật có quy định: Trong trường hợp ĐLBH vi phạm HĐĐLBH, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì DNBH vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do ĐLBH
Trang 2719
thu xếp giao kết; ĐLBH có trách nhiệm bồi hoàn cho DNBH các khoản tiền mà DNBH
đã bồi thường cho người được bảo hiểm8
Có thể thấy, trách nhiệm của ĐLT bao quát
và độc lập hơn xuất phát từ tư cách của nó khi thành lập và tham gia vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ về thuế, so với trách nhiệm của ĐLBH không độc lập và có giới hạn
ĐLT và ĐLBH là hai chủ thể riêng biệt Qua những điểm phân tích ở trên, có thể thấy, ĐLBH là một chế định đặc thù chỉ tồn tại ở ngành bảo hiểm, đặc biệt là mối quan
hệ chặt chẽ với DNBH mà nó làm đại lý
1.3.4 So sánh đại lý bảo hiểm với đại lý hải quan
Đại lý làm thủ tục hải quan (gọi tắt là đại lý hải quan - ĐLHQ) là thương nhân thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (gọi chung là chủ hàng) thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan; nộp, xuất trình bộ hồ sơ hải quan có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định hoặc thực hiện toàn bộ hoặc một phần các công việc liên quan đến thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng ký với chủ hàng và các công việc khác đã thỏa thuận Đại lý làm thủ tục hải quan (giám đốc hoặc người được giám đốc ủy quyền theo quy định của pháp luật) phải ký hợp đồng đại lý với chủ hàng; người được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện việc khai và làm thủ tục hải quan trên cơ sở hợp đồng đại lý đã ký với chủ hàng
Như vậy, ĐLHQ phải là thương nhân Thương nhân được định nghĩa như sau: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh9
Theo khái niệm trên, ĐLHQ có thể mang tư cách là tổ chức kinh tế hoặc cá nhân hoạt động một cách độc lập, thường xuyên Có thể thấy rằng, quy định về chủ thể cá nhân làm ĐLHQ bắt buộc tính chuyên nghiệp, hoạt động thường xuyên hơn so với ĐLBH Chủ thể là ĐLHQ phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật khi đáp ứng được các điều kiện nhất định Đối với pháp luật kinh doanh bảo hiểm có yêu cầu ĐLBH tổ chức đăng
ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp còn ĐLBH cá nhân chỉ phải đáp ứng các điều kiện chứng chỉ hoạt động đại lý
Về nội dung hoạt động, ĐLHQ đứng tên đại lý trên tờ khai hải quan, ký tên và đóng dấu vào ô người khai hải quan, hoặc dùng chữ ký số của mình để truyền tờ khai Đại lý hoạt động dựa trên hợp đồng ủy quyền với chủ hàng xuất nhập khẩu, và phải chịu trách nhiệm trong phạm vi được ủy quyền Tư cách hoạt động của ĐLHQ và
8
Điều 88 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
9 Điều 6 Luật Thương mại 2005
Trang 2820
ĐLBH có điểm khác biệt lớn ở chỗ, ĐLHQ là một chủ thể thành lập và hoạt động độc lập nhằm thực hiện dịch vụ, công việc nhất định để được hưởng thù lao ĐLBH hoạt động trực thuộc các DNBH, quyền lợi, nghĩa vụ gắn chặt và chịu sự quản lý trực tiếp từ DNBH Nói cách khác, ĐLBH là chủ thể trung gian để đưa hàng hóa, dịch vụ từ nơi cung cấp đến khách hàng, còn ĐLHQ độc lập trong việc cung cấp dịch vụ một cách trực tiếp tới khách hàng Mối quan hệ giữa ĐLBH và DNBH chặt chẽ, gắn bó hơn so với ĐLHQ chỉ mang tính chất tạm thời ĐLHQ thay mặt khách hàng thực hiện những công việc là nghĩa vụ của khách hàng đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi đáp ứng được những điều kiện để tiến hành kinh doanh, ĐLBH là một nhà kinh doanh độc lập trên cơ sở Hợp đồng Đại lý đã ký kết với DNBH nhằm thực hiện vai trò là một kênh phân phối đến thị trường
Do tính chất hoạt động độc lập như trên nên ĐLHQ tự mình chịu trách nhiệm về các nội dung khai trên tờ khai hải quan trên cơ sở bộ chứng từ, tài liệu liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu do chủ hàng cung cấp ĐLBH là một dạng ủy quyền đặc biệt thực hiện thay DNBH phân phối sản phẩm, còn những nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan đến việc ký kết, thực hiện hay giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến sản phẩm bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm vẫn do DNBH chịu trách nhiệm ĐLBH chỉ chịu trách nhiệm và nghĩa vụ với DNBH khi vi phạm những quy định trong hợp đồng đại lý Nếu trong lúc thực hiện công việc, ĐLHQ vẫn tiến hành với tư cách của chính mình thì ĐLBH mặc dù vẫn độc lập nhất định nhưng mục đích hướng đến là thay mặt các DNBH trong giới hạn uỷ quyền đã ký kết Do đó, phía khách hàng thường xem hình ảnh của ĐLBH như hình ảnh của cả DNBH Còn mối quan hệ giữa ĐLHQ và chủ hàng là quan hệ dân sự, chủ hàng có những quyền và nghĩa vụ nhất định khi giao kết hợp tác như: quyền giám sát, khiếu nại việc thực hiện các nghĩa vụ của ĐLHQ trong phạm vi được ủy quyền và chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định xử lý của cơ quan hải quan trong trường hợp ĐLHQ vi phạm các quy định của pháp luật về hải quan, thuế Chủ hàng cũng được đề nghị cơ quan hải quan chấm dứt làm thủ tục với lô hàng xuất nhập khẩu trong trường hợp phát hiện ĐLHQ không thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng Chủ hàng phải cung cấp đầy đủ, chính xác các chứng từ, thông tin cần thiết để làm thủ tục hải quan lô hàng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các chứng
từ, thông tin đó10
10 Thông tư số 12/2015/TT-BTC
Trang 2921
Hai điểm khác biệt lớn trong địa vị pháp lý của ĐLBH và ĐLHQ đó là tư cách chủ thể khi thành lập và tính độc lập trong hoạt động cũng như chịu trách nhiệm Có nhiều lĩnh vực, ngành nghề tồn tại sự hoạt động của Đại lý, như ĐLT, ĐLHQ, ĐLTM,… tuy nhiên mỗi lĩnh vực lại có những điểm đặc thù riêng căn cứ vào mục đích thành lập và nội dung hoạt động của mỗi dạng đại lý Do đó, cần có những quy định pháp lý riêng phù hợp với từng ngành nghề cụ thể để ngày càng phát huy vai trò một cách hiệu quả nhất, góp phần đưa nền kinh tế của đất nước phát triển
1.3.5 So sánh đại lý bảo hiểm với đại diện cho thương nhân
Đại diện cho thương nhân (ĐDCTN) là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi
là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện ĐDCTN có bản chất và đặc điểm tương tự như đại diện trong pháp luật dân sự, cụ thể, trường hợp cử người của chính thương nhân làm đại diện thì được xem như đại diện dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Còn trường hợp một thương nhân dại diện cho thương nhân khác có những đặc thù riêng nên được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại Theo đó, đại diện trước hết là hành vi của một chủ thể nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác để xác lập, thực hiện một giao dịch cụ thể trên cơ sở ủy nhiệm để được hưởng thù lao So với ĐLBH, thực hiện công việc thay mặt DNBH, là cánh tay nối dài cho DNBH để xúc tiến thương mại nhằm nhận được hoa hồng dựa trên doanh thu đã đạt được có thể thấy: ĐLBH với DNBH là mối quan hệ hữu cơ, thống nhất trong việc cùng nhau phát triển sản phẩm cùng có lợi còn ĐDCTN đơn thuần chỉ là một dịch vụ mang tính chất song vụ, đền bù giữa hai bên
Về chủ thể, cũng như ĐLTM, ĐDCTN bắt buộc hai chủ thể đều phải là thương nhân, tức có thể là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh như đã đề cập tại mục 1.1.3 Đây là điểm khác biệt trong tư cách chủ thể so với ĐLBH Theo đó, ĐLBH có thể là pháp nhân hoặc cá nhân, chứ không bắt buộc phải là thương nhân ĐDCTN là hoạt động mang tính thương mại nhằm mục đích sinh lợi, là chủ thể đặc thù trong lĩnh vực thương mại ĐLBH là một chủ thể riêng biệt của lĩnh vực bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện nhất định trên cơ sở ủy quyền của DNBH
Xét về tính độc lập trong quá trình hoạt động, thương nhân đại diện tự tổ chức thực hiện công việc và quản lý thời gian của mình trên cơ sở nhận ủy nhiệm một cách độc lập hơn so với ĐLBH Hoạt động của thương nhân đại diện chỉ bị bó buộc bởi
Trang 3022
phạm vi ủy nhiệm của thương nhân giao đại diện, còn lại trong mối quan hệ với bên thứ ba và các đối tác khác họ vẫn được độc lập, tự chủ với tư cách một thương nhân kinh doanh Ngược lại, công việc của ĐLBH mang tính đặc thù nghề nghiệp hơn, do
đó, hoạt động của nó gắn liền với DNBH, hình ảnh của đại lý cũng là hình ảnh của DNBH Do đó, trong quá trình thành lập và hoạt động, ĐLBH gắn bó chặt chẽ với DNBH
Bản chất của hành vi đại diện, bao gồm cả ĐDCTN, đại diện thương mại là việc người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch với danh nghĩa và vì lợi ích của người được đại diện Do đó, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch thuộc về người được đại diện Trong phạm vi ủy nhiệm, bên đại diện chỉ thực hiện thay công việc cho bên giao đại diện, nếu không vượt quá phạm vi đó, những nghĩa vụ, trách nhiệm phát sinh người được đại diện phải gánh chịu Đối với ĐLBH, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đã được quy định rõ trong hợp đồng đại lý và quy chế của HHBHVN, do đó có cơ sở xác định
rõ trách nhiệm phát sinh thuộc về ĐLBH hay DNBH
Từ những phân tích trên, có thể thấy, xuất phát từ cơ sở nhận ủy quyền, ủy nhiệm của một chủ thể khác nhưng về tư cách của hai chủ thể này là hoàn toàn khác nhau từ hoạt động, trách nhiệm cho đến sự độc lập trong hoạt động
1.3.6 So sánh đại lý bảo hiểm với uỷ thác mua bán hàng hóa
Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác Bên nhận uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác Bên
uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân hoặc không phải là thương nhân giao cho bên nhận uỷ thác thực hiện mua bán hàng hoá theo yêu cầu của mình và phải trả thù lao
uỷ thác Xét về bản chất, Uỷ thác mua bán hàng hóa được xem là một giao dịch dân sự đặc thù trong lĩnh vực thương mại
Về chủ thể, đây là hoạt động thương mại, tức là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, do đó, bên uỷ thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân, còn bên nhận uỷ thác bắt buộc phải là thương nhân Điểm khác biệt về tư cách chủ thể so với ĐLBH đã được phân tích trong phần so sảnh với ĐLTM và ĐDCTN, do đó không đề cập ở phần này
Trang 3123
Về hoạt động, bên nhận uỷ thác được nhân danh chính mình trong việc thực hiện công việc Có thể thấy, mối quan hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác là giao dịch thoả thuận nhỏ lẻ, một công việc nhất định Công việc của bên nhận ủy thác bao gồm mua hoặc bán hàng hóa hoặc cả hai tùy theo thỏa thuận để được hưởng thù lao Chủ thể
ủy thác mua bán hàng hóa có sự độc lập nhất định trong hoạt động của chính mình, cụ thể, trên cơ sở đã thỏa thuận, họ thực hiện việc mua bán với danh nghĩa của chính mình So sánh với ĐLBH, trên cơ sở tuân thủ hợp đồng ĐLBH, trong quá trình từ lúc thành lập đến khi hoạt động, ĐLBH vẫn phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ DNBH
Trên cơ sở so sánh địa vị pháp lý của ĐLBH với các chủ thể khác, có thể khẳng định ĐLBH là một chủ thể độc lập, đặc thù của ngành bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm
Do đó, cần có những quy định cụ thể và phù hợp hơn nữa để nâng cao địa vị pháp lý và hiệu quả hoạt động của kênh phân phối này trong tương lai
1.3.7 So sánh ủy quyền trong đại lý bảo hiểm với ủy quyền trong dân sự
Tại Bộ luật dân sự 2005 không có đưa ra định nghĩa riêng biệt về ủy quyền, tuy nhiên có định nghĩa về hợp đồng ủy quyền như sau: “Hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” Như vậy có thể hiểu, ủy quyền là sự thỏa thuận trên tinh thần tự nguyện, thiện chí hợp tác giữa các bên, điều này cũng tương tự trong ĐLBH Nguyên tắc tự do thỏa thuận là nguyên tắc đặc thù của ngành luật Dân sự, do đó các quy định cũng có phần cơ bản, tạo điều kiện cho các bên nâng cao tinh thần tự giác Giữa hai chủ thể này phụ thuộc với nhau ở chỗ: Bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền để được nhận thù lao Nhìn chung, ủy quyền trong ĐLBH
có phần quy định chặt chẽ và cụ thể hơn Hoạt động ĐLBH sẽ được nhận hoa hồng, các khoản hỗ trợ được pháp luật quy định chứ không phải hưởng thù lao Trong các hợp đồng đại lý, tại các công ty đều nêu rõ rằng ĐLBH là nhà kinh doanh độc lập chứ không phải là nhân viên của DNBH
Trong quy định dân sự thì bên được ủy quyền chỉ có thể cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật Điều này được giải thích bởi tính chất của công việc ủy quyền là một công việc nhất định, chỉ có cá nhân mới trực tiếp thực hiện hành vi, pháp nhân mặc dù có tư cách pháp luật kể từ khi thành lập tuy nhiên chỉ thực hiện được một hành vi cụ thể thông qua người đại diện Còn hoạt động đại lý, như đã đề cập là một
Trang 3224
hoạt động kinh doanh độc lập, do đó có thể hoạt động với tư cách tổ chức hoặc cá nhân
Nếu như trong ủy quyền dân sự có thể ủy quyền lại cho bên thứ ba nếu được bên
ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định thì trong kinh doanh bảo hiểm, người làm đại lý phải trực tiếp thực hiện công việc, nếu không thể thực hiện hai bên có thể đi đến chấm dứt hợp đồng chứ không thể ủy quyền lại Điều này xuất phát từ tính chất phức tạp của lĩnh vực bảo hiểm, tính chất tác động lớn đối với xã hội, người làm đại lý phải
có hiểu biết, có nghiệp vụ thì mới được giao kết hợp đồng Chứng chỉ đào tạo ĐLBH là minh chứng về trình độ và khả năng nghiệp vụ của riêng mỗi cá nhân không thể chuyển giao Trong Dân sự, chủ yếu là ủy quyền những công việc đơn giản nên pháp luật quy định về ủy quyền lại nhằm tạo điều kiện cho việc tiếp tục hợp đồng trong một
số điều kiện bất thuận lợi
Thời hạn hợp đồng trong pháp luật dân sự do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền Trong các hợp đồng đại
lý của các doanh nghiệp thường không quy định thời điểm kết thúc hợp đồng mà thường quy định được gia hạn sau khi hết thời hạn nếu không bên nào có yêu cầu chấm dứt hợp đồng Do tính chất công việc đại lý thường là công việc dài hạn, tạo nê nghề nghiệp ổn định, khác với sự uỷ quyền thường chỉ thực hiện một công việc cụ thể không cần kéo dài thời hạn kết thúc hợp đồng
Bên cạnh đó, BLDS còn quy định đại diện theo ủy quyền là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Đây không phải là công việc kinh doanh mà thực hiện công việc một cách tự nguyện vì lợi ích của người khác, hoạt động nhân danh người khác Do dó, người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân
sự do người đại diện xác lập vì suy cho cùng bản chất của đại diện theo ủy quyền là vì lợi ích của người khác Ngược lại, công việc ĐLBH là hoạt động độc lập, vì mục đích thu nhập Trách nhiệm và nghĩa vụ được phân định rõ ràng giữa DNBH và ĐLBH
Về hình thức ủy quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản Đối với ĐLBH phải lập thành HĐĐLBH Yêu cầu này xuất phát từ hoạt động của các chủ thể trên, theo đó, ủy quyền trong dân
sự là công việc đơn giản, các bên có thể tự thỏa thuận với nhau vì phạm vi ảnh hưởng