Như vậy, ta có thể hiểu người bào chữa là người tham gia tố tụng được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầ
Trang 1MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……… 3
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……… ……….3
I.Khái quát chung về người bào chữa trong TTHS……… ……… 3
1 Khái niệm về người bào chữa trong TTHS……….………… ………….3
2 Phân loại người bào chữa……… …….… ……… 4
3 Ý nghĩa việc quy định về sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự………6
II Địa vị pháp lý của người bào chữa……… ……… 7
1 Khái niệm……… ………7
2 Địa vị pháp lý của người bào chữa theo BLTT 2003……… … 7
2.1 Quy định của BLTTHS năm 2003 về quyền của người bào chữa trong TTHS……… 7
2.2 Quy định của BLTTHS năm 2003 về nghĩa vụ của người bào chữa trong TTHS……… ……….12
III Thực tiễn thực hiện những quy định của BLTTHS năm 2003 về địa vị pháp lý của người bào chữa và những giải pháp nhằm nâng cao đại vị pháp lý của người bào chữa………15
1 Thực tiễn thực hiện những quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của người bào chữa………15
2 Những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa……….17
C KẾT THÚC VẤN ĐỀ……… 19
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….………19
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ.
Kể từ khi giành được độc lập và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng hình sự (TTHS) Để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp, pháp luật cho phép họ có quyền mời người khác bào chữa hoặc tự bào chữa Những quy định về quyền bào chữa đã hình thành một chế định pháp lý về người bào chữa và địa vị pháp lý của người bào chữa Trong TTHS địa vị pháp lý của người bào chữa rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và hiệu quả của công việc bào chữa Hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này, em xin được giải quyết
đề bài “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong Tố tụng hình sự”.
Trang 3B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I Khái quát chung về người bào chữa trong TTHS.
1 Khái niệm về người bào chữa trong TTHS.
Người bào chữa có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có nguy cơ bị buộc tội Theo Điều 56 BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa có thể là: luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viện nhân dân Như vậy, ta có thể hiểu người bào chữa là người tham gia tố tụng được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu chỉ định và cấp giấy chứng nhận, tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm chứng minh người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
2 Phân loại người bào chữa.
Người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa cho mình nếu họ có kiến thức, có sự hiểu biết nhất định về pháp luật, sử dụng các quyền mà pháp luật quy định để bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Tuy nhiên, không phải bất kì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nào cũng có khả năng tự thực hiện quyền này Do trong nhiều trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế về kiến thức pháp luật, do tâm lý lo lắng, căng thẳng về hậu quả mình có thể gánh chịu của người bị buộc tội khi tham gia tố tụng mà không thể thực hiện quyền bào chữa cho mình có hiệu quả Vì vậy, để đảm bảo quyền bào chữa cho người bị buộc tội, bên cạnh việc quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 56 BLTTHS năm 2003, người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân
Luật sư:
Trang 4Khái niệm luật sư được quy định tại Điều 2 Luật luật sư năm 2006 như sau:
“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.
Muốn trở thành người bào chữa trong TTHS với tư cách là luật sư thì theo quy định của Luật luật sư năm 2006 và BLTTHS, người đó phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của Luật luật sư và được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn, hoặc được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu chỉ định Muốn trở thành người bào chữa trong vụ án hình sự, luật sư phải được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật
Luật luật sư năm 2006 quy định về tiêu chuẩn luật sư và điều kiện hành nghề luật sư là như sau: Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe đảm bảo hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư, phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và phải gia nhập một Đoàn luật sư
Luật sư chỉ trở thành người bào chữa khi họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Luật sư là người bào chữa được đào tạo để hoạt động một cách chuyên nghiệp, tham gia tố tụng bbaor vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Thực tiễn hoạt động TTHS ở nước ta cũng cho thấy sự hiện diện của luật sư với tư cách là người bào chữa trong các vụ án hình sự ngày càng phổ biến Luật luật sư năm 2006 ra đời là cơ
sở pháp lý trong hoạt động nghề nghiệp luật sư, góp phần nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ luật sư, giúp cho việc thực hiện tốt hơn công tác bào chữa và các dịch
vụ pháp lý khác
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Tại điểm c, Khoản 1, Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa
có thể là : “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Trên
tinh thần của Nghị quyết số 05/2005/ NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng
Trang 5thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của BLTTHS
năm 2003 quy định tại Điểm 1.1 Mục 1 có hướng dẫn là: “Bị cáo, người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo là người chưa thành niên, có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định
sơ thẩm” Và căn cứ theo Điều 144 Bộ luật dân sự 2005 thì người đại diện hợp pháp
của người bị tạm giữ, bị can, bị cá gồm cha, mẹ, người giám hộ đương nhiên và người giám hộ được cử
Theo quy định của BLTTHS thì người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần Do đó, sẽ không có người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đã thành niên nếu người này không có nhược điểm về tâm than hoặc thể chất
Như vậy, theo các quy định về người đại diện hợp pháp trong TTHS, người đại diện hợp pháp của người bị tạm gữ, bị can, bị cáo trong TTHS có vai trò rất quan trọng Họ là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người mà họ đại diện, góp phần vào việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án Người đại diện hợp pháp còn là người giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về kiến thức pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án
Bào chữa viên nhân dân.
Theo quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 56 BLTTHS năm 2003, bên cạnh luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì bào chữa viên nhân dân cũng có thể tham gia bào chữ trong tố tụng hình sự Theo Khoản 2, Khoản 3 BLTTHS năm 2003 có thể hiểu: Bào chữa viên nhân dân là người được Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam , các tổ chức thành viên của mặt trận cử ra để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình
Theo quy định trên có thể hiểu rằng những người không phải là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cá tổ chức thành viên của mặt trận thì không được làm người bào chữa và những người này tuy là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Trang 6Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận không được cử làm bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng thì cũng không được làm người bào chữa
3 Ý nghĩa việc quy định về sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự.
3.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội.
* Ý nghĩa chính trị.
Thứ nhất, việc pháp luật quy định sự tham gia của người bào trong TTHS thể
hiện bản chất dân chủ của nhà nước trong TTHS
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bởi vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và nêu cao việc bảo vệ quyền công dân nói chung và quyền bào chữa nói riêng Nguyên tắc đảm bảo quyền bào cữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được ghi nhận tại Điều 11 BLTTHS thể hiện quan điểm của Nhà nước ta nhằm tôn trọng và đề cao quyền con người hơn nữa, quy định này nhằm đảm bảo cho những người trình bày quan điểm của mình đối với việc buộc tội, đảm bảo cho quyền lợi của công dân không bị xâm phạm do hành vi trái pháp luật hoặc bị hạn chế do những hành vi vi phạm từ cơ quan tiến hành tố tụn, đó cũng là điều kiện cần cho việc giải quyết vụ án
Thứ hai, việc tham gia của người bào chữa góp phần quan trọng trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người, được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm Người bào chữa tham gia TTHS giúp cơ quan nhà nước đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả, góp phần xây dựng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay
Người bào chữa tham gia tố tụng thể hiện quyền năng của mình trên cơ sở những quy định của pháp luật để quyền công dân được đảm bảo, đó cũng là yếu tố quan trọng để Nhà nước được phát triển vững mạnh
* Ý nghĩa xã hội.
Trang 7Pháp luật quy định việc tham gia tố tụng hình sự cho người bào chữa thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Nhà nước Pháp luật quy đinh trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, người phạm tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình các cơ quan tiến hành tố rụng có trách nhiệm phải đảm bảo người bào chữa trong trường họp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, để đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của họ
Việc tham gia tố tụng hình sự của người bào chữa giúp việc nâng caao ý thức pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật trong cộng đồng góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của công dân
3.2 Ý nghĩa pháp lý.
Thứ nhất, người bào chữa tham gia quá trình giải quyết vụ án đảm bảo thực hiện nguyên tắc cơ bản “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Thứ hai, người bào chữa tham gia quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng góp phần giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và xử lý công minh, khách quan mọi hành vi phạm tội
II Địa vị pháp lý của người bào chữa.
Theo từ điển luật học thì: “Địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của các chủ thể trong các hoạt động của mình” Thông qua địa vị
pháp lý có thể phân biệt chủ thể này với chủ thể pháp luật khác đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật
Như vậy, có thể hiểu địa vị pháp lý của của người bào chữa là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người bào chữa khi tham gia quá trình
Trang 8tố tụng vụ án hình sụ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo
2
Địa vị pháp lý của người bào chữa theo BLTT 2003.
2.1 Quy định của BLTTHS năm 2003 về quyền của người bào chữa trong
TTHS.
Quyền của người bào chữa được quy định tại Khoản 2, Điều 58 BLTTHS năm 2003 Cụ thể, người bào chữa có các quyền sau đây:
- Quyền tham gia tố tụng hình sự của người bào chữa từ khi có quyết định tạm giữ.
Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì luật sư bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng kể từ khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang truy nã hay trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81, 82 BLTTHS năm 2003) Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc giai điều tra Quy định này thể hiện sự dân chủ và tiến bộ trong tố tụng hình sự, đảm bảo cho việc tạm giữ của cơ quan điều tra là đúng pháp luật và có căn
cứ, tránh sự lạm quyền từ phía cơ quan điều tra bắt tạm giam, tạm giữ không cần thiêt, việc thực hiện quyền này cũng giúp cho người bào chữa được tiếp xúc với vụ việc ngay từ đầu, tạo thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can ở các giai đoạn sau
Đối chiếu với BLTTHS 1988 thì BLTTHS 2003 có nhiều sửa đổi, bổ sung về quyền của người bào chữa thể hiện sự tiến bộ và dân chủ trong tố tụng hình sự trước hết thể hiện ở quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa: Trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Việc tham gia tố tụng của người bào chữa từ giai đoạn này là rất cần thiết, bởi một công dân tham gia vào quá trình tố tụng trở thành đối tượng của các hoạt động tố tụng bắt đầu từ giai đoạn này thì họ cũng có quyền được bào chữa, bảo vệ từ khi đó Đặc biệt trong giai đoạn này, tâm lý
Trang 9của nguoiwd bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hoang mang, chưa ổn định nên rất cần những ngường hiểu biết pháp luật giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
- Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can
và nếu điều tra viên cho phép thì được hỏi cung người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có mặt trong các hoạt động điều tra khác, xem xét về các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mình bào chữa.
Đây là một quy định mới của BLTTHS 2003 so với BLTTHS năm 1988, là sự
mở rộng thêm quyền cho người bào chữa Việc người bào chữa có quyền được có mặt trong các hoạt động điều tra sẽ giúp cho họ theo dõi được quá trình điều tra và tình hình thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra, từ đó phát hiện ra những tình tiết
có lợi và cần thiết cho việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng tại phiên tòa
Sự có mặt của người bào chữa sẽ giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ổn định hơn về mặt tâm lý và đồng thời cũng góp phần ngăn ngừa được vi phạm pháp luật có thể xuất hiện từ phía các cán bộ điều tra như hạn chế các quyền của họ, có hành vi bức cung, dung nhục hình
Người bào chữa còn có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và có mặt trong các hoạt động điều tra khác, xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng có liên quan đến người mà mình bào chữa
- Quyền đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can.
Đây là một quy định mới của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988 Quy định mới này giúp cho người bào chữa chủ động về thời gian có thể tham dự cuộc hỏi cung, kịp thời nắm bắt nội dung vụ án ngay từ đầu Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc bào chữa
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng người giám định, người phiên dịch
Trang 10Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ theo luật địn và xét thấy việc những người này tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định mở rộng quyền cho người bào chữa, trước đây khi BLTTHS năm 2003 chưa có hiệu lực thi hành, người bào chữa chỉ có quyền yêu cầu thay đổi thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… chứ không có quyền đề nghị thay đổi Điều tra viên Việc mở rộng quyền này làm cho người bào chữa góp phần đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được
vô tư, khách quan, đảm bảo cho những quyết định có liên quan đến lợi ích của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo được công bằng, chính xác
- Quyền thu thập tài liệu đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ
cơ quan, tổ chức cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.
Người bào chữa là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bị can bị cáo Vì vậy, việc người bào chữa thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa không phải là hoạt động tố tụng, không có giá trị bắt buộc những người, tổ chức, cơ quan được yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật, hay những tình tiết liên quan đến việc bào chữa Các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa là hoàn toàn tự nguyện Đây là biện pháp nghiệp vụ cần thiết để người bào chữa có tài liệu, chứng cứ để thực hiện nhiệm vụ bào chữa có hiệu quả Những tài liệu, đồ vật, tình tiết mà người bào chữa thu thập sẽ được Cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm chứng cứ để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, giúp cho việc đánh giá các tình tiết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhằm xử
lý đúng người, đúng tội
- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.
Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, giúp cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa