1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

107 20 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Mạnh Thắng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Huyên
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 26,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua các quy định về quyền bào chữa, người bào chữa sử dụng nó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội đồng thời làmcho các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN MẠNH THẮNG

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHŨ A THEO PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM (trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Hà Nam)

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tổ tụng hình sự

Mã số: 8380101.03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYÊN VÃN HUYÊN

HÀ NỘI ■ 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết luận khoa học của Luận văn chưa được công

hổ trong hất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu và trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đế tôi có thê bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm cm!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Mạnh Thắng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHƯNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA 7

1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Người bào chữa 7

1.1.1 Người bào chữa 7

1.1.2 Địa vị pháp lý của người bào chừa 10

1.2 Vai trò, vị trí và địa vị pháp lý của người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự 13

1.2.1 VỊ trí của người bào chữa 13

1.2.2 Vai trò của người bào chữa 18

1.2.3 Đặc điểm địa vị pháp lý của người bào chừa trong pháp luật tố tụng hình sự 20

1.3 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong một số mô hình tố tụng hình sự trên thế giói 23

r 1.3.1 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong mô hình tô tụng tranh tụng 23

1.3.2 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong mô hình tố tụng xét hỏi 26

1.3.3 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong mô hình tố tụng đan xen 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHU ƠNG 2: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TÓ TỤNG HÌNH sụ VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHƯA VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH HÀ NAM 30

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến trước khi bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành 30

Trang 4

2.2 Quy định của luật tố tụng hình sự 2015 về địa vị pháp lý của

người bào chữa 35

2.2.1 Quyền của người bào chữa 35

2.2.2 Nghĩa vụ của người bào chữa 52

2.2.3 Mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và trong bối cảnh hiện nay 59

2.3 Thực tiễn thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của người bào chữa tại tỉnh Hà Nam 61

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 61

2.3.2 Những hạn chế, thiếu sót 70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3: MỘT SÓ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỤC HIỆN ĐÚNG CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮ A 76

3.1 Yêu cầu bảo đảm thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của ngưòi bào chữa 76

3.1.1 Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa của người bị buộc tội 76

3.1.2 Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 77

3.1.3 Nâng cao vai trò của người bào chữa trong việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội 79

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao chất lượng thực hiện địa vị pháp lý cùa người bào chữa 80

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, văn bản về địa vị pháp lý của người bào chữa 80

3.2.2 Một số giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa 89

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

KÉT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 5

DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT: Cơ quan điều tra

CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụngNBC: Người bào chữa

NBBT: Người bị buộc tội

NBTG: Người bị tạm giữ

TTHS: Tố tụng hình sự

THTT: Tiến hành tố tụng

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

r

Bảng 2.1 Thống kê số vụ án khởi tố theo nhóm tội trên địa bàn

tỉnh Hà Nam từ năm 2016 đến năm 2020 63

Bảng 2.2 Thống kê số bị can khởi tố theo nhóm tội trên địa bàn

tỉnh Hà Nam từ năm 2016 đến năm 2020 63

Bảng 2.3 Số lượng Luật sư và tổ chức hành nghề Luật sư của

tỉnh Hà Nam từ năm 2016 đến năm 2020 65

Bảng 2.4 Số lượng người bị buộc tội được trợ giúp pháp lý tại

tỉnh Hà Nam từ năm 2016 đến năm 2017 65

Bảng 2.5 SỐ lượng người bị buộc tội được trợ giúp pháp lý tại

tỉnh Hà Nam từ năm 2018 đến năm 2020 66Bảng 2.6 số liệu thống kê bị can có người bào chừa tại tỉnh Hà

Trang 7

MỞ ĐÀU

I Tính cap thiêt cua đê tai nghiên cứurwi F _1 -A. _4_1_ • Ạ J V _ -* A A y • _1 • A F _

Công cuộc cải cách toàn diện về tư pháp hình sự theo tinh thần Nghịquyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính Trị; Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị vềviệc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Bộ luật tốtụng hình sự năm 2015 đã mở rộng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xửhình sự và mở rộng hơn nữa địa vị pháp lý của người bào chữa Đây là cơ sờvững chắc để nâng cao hiệu quả đảm bảo tính công bằng của pháp luật, tínhdân chủ, công khai của quá trình giải quyết vụ án hình sự bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền và lợi ích của công dân

Thông qua các quy định về quyền bào chữa, người bào chữa sử dụng

nó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội đồng thời làmcho các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử được diễn ra một cáchkhách quan, toàn diện, triệt để và chính xác, đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng làm tránh việc xảy ra tình trạng làm oan người vô tội Chính

vì vậy, địa vị pháp lý của người bào chữa trong hoạt động tố tụng là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược cải cách tư pháp, nhằm đạt đượcmục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Xác định được tàm quan trọng của người bào chữa trong các hoạt động

tố tụng, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một

số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “Các cơquan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện đế luật sư tham gia vào quá trình tốtụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại

Trang 8

phiên toà ” [4, tr.3] Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về địa vị pháp lý của người bào chữa thể hiện

ở chế định bổ trợ tư pháp bằng việc phát triến đội ngũ Luật sư, lực lượng chính là chủ thế của người bào chữa, Nghị quyết nêu rõ:

Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chínhtrị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế bảo đảm đểluật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định

rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp

lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệmcủa các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình [5, tr.6]

Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc buộc tội bị can, bị cáo luôn xuyênsuốt quá trình tố tụng do đó một quyết định có chính xác, khách quan và đúng quy định của pháp luật hay không, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộctội có được đảm bảo hay không, có để xay ra oan sai hay không phụ thuộc nhiều vào hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, địa vị pháp lý củangười bào chữa trong các hoạt động tố tụng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế những quyết định sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phầnbảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội Trong Hiển pháp, pháp luật của nước ta nói chung và pháp luật TTHS nói riêng đã có quy định về việc thể chế hóa địa vị pháp lý của NBC BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên quy định chính thức về khái niệm NBC, quy định thêm chủ thể NBC, mở rộng đốitượng bào chừa, tăng quyền hạn NBC Tuy nhiên, một số quy định về địa vịpháp lý của NBC trong pháp luật TTHS cũng còn nhiều bất cập, vướng mắc khi

áp dụng như việc BLTTHS năm 2015 chỉ qui định cho phép NBC có quyền gặp

và hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, mà chưa quy định rõ về trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan khác như gặp riêng hay

có sự giám sát, việc bào đảm bí mật thông tin trao đổi giữa hai bên Hay như

2

Trang 9

qui định vê việc NBC được báo trước vê thời gian, địa điêm lây lời khai, hỏicung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định, BLTTHS năm 2015 lại không qui định về thời hạn và cách thức thông báo Vìvậy có một số trường hợp CQĐT chỉ thông báo bằng điện thoại cho NBC sát giờtiến hành lấy lời khai, hỏi cung, tiến hành hoạt động điều tra khác dẫn đến NBCkhông kịp đến để tham gia các hoạt động trên Bên cạnh đó, trên thực tế, còn nhiều trường họp người THTT chưa thực sự coi trọng quyền bào chừa của NBBT cũng như vai trò của NBC trong TTHS, dẫn đến có những hành vi cản trở

sự tham gia tố tụng của NBC như không cấp thông báo bào chữa, không cho NBC gặp mặt bị can đang bị tạm giam, Thấm phán hạn chế thời gian tranh luận,không cho NBC tham gia việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa

Mặc dù có nhiều công trình đã nghiên cứu về NBC trong TTHS, tuy nhiênchưa có một công trình nào đi sâu và toàn diện về địa vị pháp lý của NBC, nhất

là từ thực tiễn tỉnh Hà Nam Chính vì lẽ đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Địa vị pháp lý của người hào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Hà Nam) ” làm đề• • Z tài luận• văn thạc • sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Địa vị pháp lý của NBC là chế định rất quan trọng và cần thiết trong TTHS do xuất phát từ vai trò của NBC trong hoạt động tố tụng Tác giả đãnghiên cứu, tham khảo các tài liệu liên quan đến địa vị pháp lý của NBCtrong hoạt động tố tụng và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Nam nhận thấy cómột số công trình nghiên cứu liên quan như:

- Phạm Hồng Hải, “Bảo đảm quyền bào chữa cùa người bị buộc tội’’,

NXB Công an nhân dân 1999; “ Địa vị pháp lý của Luật sư trong hoạt động tranh tụng”, Nghiên cứu lập pháp 2003

- Trần Văn Bảy, “Người bào chữa trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoahọc pháp lý 1/2000

- Nguyễn Ngọc Chí, “Việc lựa chọn mô hình tố tụng trong quá trình

3

Trang 10

cải cách tư pháp ở Việt Nam”,Tạp chí Nhà nước và pháp luật 2010; “Bào chữa cho các nhóm dề bị tôn thương theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam ”,

NXB Đại học quốc gia 2011

- Đinh Văn Quế, “về chế định người bào chừa”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 2/2004

- Lê Cảm, “Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống trong hệ thông nguyên tắc cơ bản của Luật tổ tụng hình sự”, Tạp chí Luật học số 6/2004

- Nguyễn Ngọc Chí, “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tổ tụng hình sự Việt Nam ” Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2011

- Nguyễn Văn Tuân, “Địa vị pháp lý và mối quan hệ của bị can, bị cáo trong tố tụng hĩnh sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2008

- Nguyễn Ngọc Chí, “Quyền con người trong lình vực tư pháp hình sự”, NXB Hồng Đức 2015

Mồi bài viết khoa học, công trình nghiên cứu đều có những cách tiếpcận trên những khía cạnh khác nhau về NBC trong TTHS Có tác giả thì đisâu vào khía cạnh bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo; Tác giả khác đisâu vào nghiên cứu quyền bào chừa của bị can, bị cáo; Lại có tác giả nghiêncứu về địa vị pháp lý của NBC những lại chỉ nghiên cứu về khía cạnh quyền, nghĩa vụ của NBC trong hoạt động xét xử Chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của NBC theo pháp luật TTHS vàthực tiễn áp dụng Chính vì vậy, việc tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “£>/«

vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tổ tụng hình sự Việt Nam (trên

cơ sở thực tiễn tại tỉnh Hà Nam) ” là không có sự trùng lặp

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật về địa

vị pháp lý của NBC trong hoạt động TTHS, cũng như phân tích thực tiễn về địa vị pháp lý trong các hoạt động TTHS trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong giai

4

Trang 11

đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 để đưa ra được một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hơn nữa địa vị pháp lý của NBC.

Để đạt• được• mục • tiêu nghiên cứu C2 ấy,J 7 nhiệm vụ của • • luận văn được đặt

ra nhàm làm rõ các vấn đề là:

- Nghiên cứu, phân tích các vân đê lý luận vê khái niệm NBC, vị trí, vai trò, địa vị pháp lý của NBC, những đặc điểm trong địa vị pháp lý của NBC vàđịa vị pháp lý của NBC trong một số mô hình TTHS trên thể giới

- Nghiên cứu, đánh giá, phân tích nội dung những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về địa vị pháp lý của NBC

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, qua đó chỉ ra được những vấn

đề còn hạn chế, vướng mắc về địa vị pháp lý của NBC, tìm ra nguyên nhân

của những hạn chế, vướng mắc đó trong quá trình thực hiện

y

- Đưa ra những giải pháp nhăm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hơnnữa địa vị pháp lý của NBC trong pháp luật TTHS Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về địa vị pháp lý củaNBC theo pháp luật TTHS Việt Nam, quy định của pháp luật TTHS liên quan cũng như thực tiễn địa vị pháp lý của NBC trong hoạt động tố tụng của các cơquan tiến hành tổ tụng trên địa bàn tỉnh Hà Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

về nội dung: Luận văn nghiên cứu về địa vị pháp lý của NBC theo cácquy định của pháp luật TTHS Việt Nam qua các thời kỳ và quy định về địa vịpháp lý của NBC trong BLTTHS năm 2015

về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định TTHS về địa vị pháp của NBC trên địa bàn tỉnh Hà Nam giaiđoạn từ năm 2016 đến năm 2020

5

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trong luận văn của mình, tác giả nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điềm của Đảng và Nhà nước

về cải cách tư pháp Ngoài ra, luận vãn còn kế thừa các thành tựu nghiên cứukhoa học của chuyên ngành pháp lý, luận điểm nghiên cứu của các nhà luật học, các công trình nghiên cứu, các bài viết pháp lý được đăng trên các trangđiện tử, báo, tạp chí về địa vị pháp lý của NBC theo pháp luật TTHS

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với nộidung, cụ thể như: Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, đối chiếu, diễn dịch, quy nạp và phương pháp tổng hợp, kết hợp với việc phân tích thực tiễn

áp dụng các quy định về địa vị pháp lý của NBC trong các hoạt động TTHS

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận vănCT • • •

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện, bố sung lý luận

về địa vị pháp lý của NBC theo pháp luật TTHS Việt Nam, nâng cao chất lượng, vị thế của NBC, góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội”

Bên cạnh đó, luận văn có thể được sừ dụng làm tài liệu tham khảo, tài liệunghiên cúu trong quá tành học tập và giảng dạy Luận văn cũng là nguồn tài liệu thamkhảo hữu ích đối với NBC, người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng khác trongcác vụ án hình sự, vận dụng trong giải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tế

7 Bô cục của luận văn

Bố cục của luận văn gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Phần nội dung của luận văn bao gồm bachương với kết cấu như sau:

Chương r. Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của người bào chữa

Chương 2\ Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về địa vị pháp lýcủa người bào chữa và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Hà Nam

Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định củapháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa

6

Trang 13

Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Người bào chữa

1.1.1 Người bào chữa

NBC là một chế định pháp luật quan trọng của pháp luật TTHS Việt Nam nhằm thể chế hóa, góp phần đảm bảo cho Quyền con người được quiđịnh trong Hiến pháp Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm cónhững đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hộitương ứng [35, tr.402] Như vậy, có thể hiểu rằng chế định NBC là tổng thể những quy định của pháp luật TTHS có đặc điểm chung giống nhau nhằmđiều chỉnh nhóm quan hệ xã hội liên quan đến NBC.Để làm rõ được vấn đềđịa vị pháp lý của NBC, trước hết chúng ta cần hiểu rõ khái niệm NBC

Theo từ điển tiếng Việt, bào chữa là việc “một người dùng lý lẽ, chứng

cứ đê bệnh vực cho ai đó đang bị coi là phạm pháp hoặc bị lên án ”[41] hoặc

là “gạt bỏ lý lẽ khác đê chữa tội mình hoặc chữa cho người khác” [40] Nhưvậy có thể hiểu NBC là việc một người dùng lý lẽ, chứng cứ để bênh vực chongười khác đang bị coi là phạm pháp

Đối với khái niệm NBC, trước khi có BLTTHS năm 2015, trong khoa họcpháp lý cũng như trong các quy định của pháp luật TTHS chưa có quan điểmthống nhất nào về khái niệm NBC Trên cơ sở nghiên cứu chế định NBC trongluật TTHS Việt Nam và thực tiễn việc áp dụng pháp luật, tù’ các góc độ khác nhaucũng có những quan điểm khác nhau về khái niệm NBC cỏ quan điểm cho rằng:

NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tở nhữngtình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết [12, tr 153]

7

Trang 14

Có quan điêm khác lại cho răng:

NBC trong TTHS là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội,giúp Người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hộichủ nghĩa [ 1 ]

Hay như có quan điểm cho rằng:

NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tở nhữngtình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bịcan, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết [42, tr 128-129]

Mỗi quan điểm trên xuất phát từ nhũng góc độ khác nhau, tuy nhiên đều

có điểm chung là nhấn mạnh vào trách nhiệm, mục đích của NBC trong việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBBT, mà chưa đưa ra được các qui định của pháp luật TTHS về điều kiện, tiêu chuẩn, cũng như vị trí, vai trò của NBC khitham gia TTHS NBC được người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, gọichung là NBBT nhờ bào chữa hoặc được các CQTHTT chỉ định tham gia TTHSvới nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích cho NBBT NBC có thể là Luật sư, Bàochữa viên nhân dân, Trợ giúp viên pháp lý hoặc Người đại diện của NBBT

Để thống nhất về mặt nhận thức pháp luật, BLTTHS năm 2015 lần đầutiên đã đưa ra khái niệm về NBC được quy định tại khoản 1 Điều 72 BLTTHS:

“NBC là người được Người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thâm quyền tiến hành tổ tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành to tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa’’'' [30],

Tác già hoàn toàn nhất trí với khái niệm mà BLTTHS năm 2015 đưa ra

Nó đã khắc phục được những hạn chế của nhũng khái niệm NBC trong khoa học pháp lý, đưa ra định nghĩa một cách khái quát và đầy đủ về NBC Từ khái niệm trên có thể rút ra đặc điểm của NBC và phạm vi bào chữa như sau:

8

Trang 15

Thứ nhât, NBC là người được Người bị buộc tội bao gôm “Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo" [30] nhờ bào chữa hoặc các cơ quan cóthẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

án chỉ định trong trường hợp Người bị buộc tội thuộc diện được chỉ định NBC

Thứ hai, NBC phải được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng tiếp nhận việc đăng ký bào chừa cho người bị buộc tội, tức là NBC phải

có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn thì mới được các cơ quan tiến hành tố tụngtiếp nhận việc đăng ký bào chữa Theo qui định cua pháp luật, các tiêu chuẩn,điều kiện trên bao gồm:

- Phải không thuộc một trong các trường hợp không được bào chữa theo qui định tại BLTTHS năm 2015:

a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người

đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, ngườigiám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án

mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lýhành chính đưa vào cơ sờ cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bat buộc [30, Điều 72, Khoản 4]

- Phải đáp ứng các điều kiện do các văn bán pháp luật khác qui định Ví

dụ như đối với NBC là Luật sư thì phải đáp ứng các điều kiện do Luật Luật sư

và các văn bản hướng dẫn, đối với NBC là Trợ giúp viên pháp lý thì phải đápứng các điều kiện do Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn

Từ khái niệm NBC có thể thấy được sự khác nhau giữa NBC với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố Theo quy định tại khoản 1 Điều 83 BLTTHS năm 2015 “Người bào

vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố

9

Trang 16

là người được người bị tô giác, người bị kiên nghị khởi tô nhờ bảo vệ quyên

và lợi ích hợp pháp ” [30] Quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố là giai đoạn các cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, xácminh giải quyết nguồn tin tổ giác về tội phạm Trong giai đoạn này, người bị

tố giác, bị kiến nghị khởi tố chưa bị coi là người bị buộc tội, bởi vậy người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong giai đoạn này không thể gọi là NBC Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tổ giác, người bị kiến nghị khởi tố là một chủ thế tham gia tố tụng mới được quy định trong BLTTHS năm 2015 nên các quy định về chủ thể này chưa được hoàn thiện như các quy định về NBC như: chưa quy định về trường họp nào bắt buộc phải chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, thủ tục đăng ký để tham gia trong giai đoạn này cũng chưađược quy định, trong trường hợp nào thì không được tham gia bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, kiến nghị khởi tố

NBC cũng khác với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,đương sự Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 BLTTHS 2015, “Người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương

sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” [30], Quyền và lợi ích hợp pháp của NBBT mà NBC bảo vệ bao giờ cũng xung đột với quyền và lợi ích hợppháp của bị hại Trong BLTTHS 2015 cũng không quy định trường hợp nào thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hai, đương sự không đượctham gia tố tụng và việc đăng ký tham gia như thế nào cũng không được quiđịnh cụ thể như NBC

1.1.2 Địa vị pháp lý của người bào chữa

Theo quan điếm của chủ nghĩa Mác - Lê nin cho rằng con người là mộtthực thể thống nhất giữa cái tâm sinh lý và cái xã hội Sự tồn tại của con người không tách được khởi môi trường xã hội và xét về mặt bãn chất thì con

10

Trang 17

người là tông hòa của các môi quan hệ xã hội Tính đa dạng trong quan hệ xãhội của mồi • người tạo• nên địa< •vị xã hội của • họ.• Xét ở một khía • cạnh• nào đó địa vị pháp lý cũng là một bộ phận nằm trong địa vị xã hội của con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ với những người khác.

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “địa vị” là:

Vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực

mà có, về mặt được coi trọng nhiều hay ít [39, tr.321]

Còn “địa vị pháp lý” được định nghĩa trong cuốn từ điến Luật học củaViện khoa học pháp lý trực thuộc Bộ tư pháp là:

Vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thểpháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa vị pháp lýcủa chú thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa

vụ pháp lý của chủ thề, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năngcủa chủ thể trong các hoạt động của mình Ví dụ: địa vị pháp lý cơbản của công dân được thể hiện thành tống thể các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân được hiến pháp và pháp luật quy định Một

sự kiện pháp lý như chết, thương tích do tai nạn , một hành vi pháp

lý như mua, bán, tặng, cho để lại thừa kế tạo ra một loạt quyền, nghĩa

vụ, trách nhiệm cho một chủ thề nhất định Thông qua địa vị pháp

lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chú thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [38]

Như vậy, địa vị pháp lý luôn gắn liền với chủ thể quan hệ pháp luật.Khi đề cập đến địa vị pháp lý là nói về quyền và nghĩa vụ của một chủ thế quan hệ pháp luật cụ thể

Đời sống xã hội phức tạp làm nảy sinh vô vàn các quan hệ chồng chéo,phức tạp, muôn hình muôn vẻ Tham gia vào các quan hệ xã hội trên, mồi cá

11

Trang 18

nhân, tô chức đêu có lợi ích riêng, nó có thê cùng chiêu, thông nhât với nhau nhưng cũng có thể mâu thuẫn, xung đột Để sự mẫu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích không làm mất đi sự ổn định của xã hội, các quan hệ xã hội phải đượcđiều chỉnh bàng nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạođức, tôn giáo, quy phạm của các tố chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội vàquy phạm pháp luật.

Các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của quy phạm pháp luật đượcgọi là quy phạm pháp luật và các bên tham gia vào quan hệ pháp luật được gọi là chủ thể quan hệ pháp luật Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức Vị trí của cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ pháp luật trong mối quan

hệ với các cá nhân, tổ chức khác được gọi là địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức đó Địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức không tách rời khỏi cá nhân, tổchức khi tham gia các quan hệ pháp luật, ngược lại chính qua địa vị pháp lýcủa cá nhân, tổ chức thì cá nhân, tổ chức mới tồn tại với tư cách là chù thể của quan hệ pháp luật Hay nói cách khác, địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức cóđược là do pháp luật trao cho họ, đây là điểm khác biệt quan trọng giữa địa vịpháp lý nói riêng và địa vị xã hội nói chung

Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua việc thiết lập nên các quy tắc, hành vi chuẩn mực, pháp luật đưa ra các quy tắc xử sự chung buộc mọi người phải tuân theo Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể pháp luật, toàn bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý đó tạo thành tạo thành địa vị pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà quy phạm pháp luật điều chỉnh Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là do Nhà nước, qua việc ban hành các quy phạm pháp luật tạo nên thể hiện ở tổng thể cácquyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho các chủ thể đó Trongquan hệ pháp luật, tương ứng với quyền pháp lý của chủ thể pháp luật này là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật khác Lý luận nhà nước và pháp luật

12

Trang 19

cũng xác định nghĩa vụ pháp lý của chủ thê quan hệ pháp luật là hành vi xử sự bắt buộc mà quy phạm pháp luật quy định trước mà một bên cùa quan hệpháp luật đó phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của các chủ thể khác Khônggiống với quyền pháp lý, nghĩa vụ pháp lý không phải là khả năng xử sự mà

là sự cần thiết phải xử sự của chủ thể quan hệ pháp luật

NBC là người được Người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyềntiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng kỷ bào chữa Theo quy định của phápluật • thì NBC làm nhiệm vụ < • • • •bào chữa cho người bị buộc tội Khi thực hiệnnhiệm vụ bào chữa cho người bị buộc tội, NBC có những quyền hạn và nghĩa

vụ nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và những văn bảnpháp luật có liên quan Thực chất, địa vị pháp lý của NBC là quyền pháp lý vànghĩa vụ pháp lý của NBC khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự và do pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh Trong quan hệ pháp luật TTHS, tương ứng với quyền pháp lý của NBC là nghĩa vụ pháp lý của chủ thế khác, buộccác chủ thể này phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của NBC Pháp luật traocho NBC càng nhiều quyền năng pháp lý thì địa vị của NBC càng được nângcao và ngược lại

Từ đó, có thể định nghĩa khái niệm địa vị pháp lý của NBC là ‘"Địa vị pháp lý của NBC trong tố tụng hình sự là tong thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của NBC trong mối quan hệ với người tiến hành tổ tụng, người tham gia tố tụng khác đế góp phần giải quyết vụ án hình sự, nhằm bào chữa và bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội".

1.2 Vai trò, vị trí và địa vị pháp lý của người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự

1.2.1 Vị trí của người bào chữa

Khoán 2 Điều 72 BLTTHS năm 2015 qui định, NBC có thể là:

13

Trang 20

Thứnhât, Luật sư

Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo qui định của pháp luật, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức [27, Điều 2] nhằm bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tố chức đó theo qui định của pháp luật Hoạt động bào chữa của Luật sư là hoạt động có tính chất chuyên nghiệp [36, tr.137]

Đe trở thành Luật sư, công dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo qui định tạiĐiều 10 Luật Luật sư năm 2006, có chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư [27, Điều 11] Luật sư có thể tham gia TTHS khi được mời theo một hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc được CQTHTT chỉ định

Thứ hai, Người đại diện của NBBT

Hiện nay, trong khoa học pháp lý TTHS ở nước ta chưa có khái niệmthế nào là người đại diện của NBBT, cũng như không qui định cụ thể người đại diện của NBBT bao gồm những ai, dẫn đến trên thực tế có những cách hiểu và áp dụng khác nhau về qui định này Có quan điểm cho rằng người đại diện của NBBT là người đại diện theo pháp luật, có quan điểm lại cho rằng người đại diện của NBBT có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Theo tác giả, Người đại diện của NBBT là người từ đủ 18tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các Điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ ba, Bào chữa viên nhân dân

Theo qui định của BLTTHS năm 2015, Bào chữa viên nhân dân là côngdân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tồ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao, được ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên củaMặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình Trong thực tiễn, Bào chữa viên nhân dân không được tổ chức thành

14

Trang 21

một hệ thông cô định Ta có thê hiêu Bào chữa viên nhân dân là thành viên của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận,

và chỉ tham gia bào chừa cho NBBT là thành viên của Mặt trận

Thứ tư, Trợ giúp viên pháp lý

Trợ giúp viên pháp lý là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhànước có đủ tiêu chuẩn qui định tại Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017,được Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm theo đề nghị của Giám đốc

Sở tư pháp [31, Điều 21] Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng khi NBBTthuộc một trong các trường họp được qui định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp

lý năm 2017 Qui định này thể hiện sự ưu việt, nhân văn của nhà nước ta đốivới những người nghèo, đối tượng chính sách, những người yếu thế trong xãhội được quyền bình đẳng trong việc thực hiện quyền bào chừa của mình

Theo quy định của BLTTHS từ trước đến nay ở nước ta, NBC đượcquy định là người tham gia tố tụng Theo khoa học Luật TTHS, có quan điểmcho rằng “NBC được xếp vào nhỏm người hảo vệ công lý” [12, tr 131-133], cũng có quan điểm cho rằng “nhóm người tham gia tố tụng đê giúp đỡ người

có quyền và lợi ích liên quan bao gồm NBC và người bảo vệ quyền lợi của đương sự” [22], Cá nhân tôi đồng ý với quan điểm rằng NBC là người thamgia tố tụng để bảo vệ công lý, bởi lẽ quan điểm trên đã thể hiện được đầy đủ

vị trí của NBC trong TTHS NBC không chỉ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBBT mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnhành tố tụng làm sáng tỏ những tình tiết có liên quan đến vụ án, góp phần giảiquyết vụ án triệt đề, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm

Khi tham gia vào quá trình tố tụng, NBC có phải là một chủ thể độc lập hay không, hay phải phụ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnhành tố tụng hay người tham gia tố tụng khác Đây là vấn đề còn có nhiềuquan điểm trái chiều

15

Trang 22

Quan điêm thứ nhât cho răng NBC là người tham gia tô tụng với tư cáchđộc lập Vị trí độc lập của NBC trong TTHS được xác định bằng các quy phạmpháp luật TTHS, trong đó quy định cụ thể quyền và nghía vụ của họ Một số tácgiả đã dựa vào quy định của pháp luật TTHS thực định cho rằng NBC đượcquyền tự mình kháng cáo theo hướng có lợi cho bị cáo trong trường họp bị cáo

là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; quyềnthu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; có quyền trình bày quan điểmcủa mình mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bị can, bị cáo từ đó coi NBC là người tham gia tố tụng với vị trí độc lập [17, tr.27]

Quan điểm thứ hai không coi NBC là người tham gia tố tụng độc lập.Bời lẽ, mối quan hệ giữa NBC và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ đượcthiết lập khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện họp pháp, người thân của họ mời NBC hoặc được CQTHTT chỉ định và chấp nhậnthông qua việc cấp Giấy chứng nhận bào chữa Do đó, có thể khẳng định ý chí của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo luôn là yếu tố quyết định có hay không sự tham gia tổ tụng của NBC Xuất phát từ ý chí chủ quan từ chính bản thân, họ

có thể từ chối NBC ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng nếu nhận thấy

sự tham gia của NBC là không càn thiết, không giúp đỡ gì cho họ hoặc làm xấu hơn tình trạng của họ [37, tr 13]

Các quan điểm trên xét trên một phương diện, khía cạnh nào đó đều cótính thuyết phục, bởi các tác giả đều dựa trên thực tiễn và cơ sở pháp lý cácquy định về NBC được quy định trong pháp luật TTHS Tuy nhiên, để làm rõ

vị trí của NBC trong TTHS cần đặt NBC trong mối quan hệ tương quan giữa các CQTHTT, người tiến hành tố tụng, Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác

Trong mối quan hệ với các CQTHTT và người tiến hành tố tụng: Theoquy định của BLTTHS hiện hành cũng như các BLTTHS thời kỳ trước, tư

16

Trang 23

cách tham gia tô tụng của NBC không bình đăng với người tiên hành tô tụng NBC chỉ là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của Người bị buộc tội còn người tiến hành tố tụng là chủ thể sử dụng quyền lực, nhân danhquyền lực nhà nước để ra những phán quyết đối với người tham gia tổtụng.Tuy nhiên, đến BLTTHS 2015 thì vị trí của NBC so với các cơ quan tiếnhành tố tụng và người tiến hành tố tụng được qui định ngày càng bình đẳng hơn NBC có thể trực tiếp gặp, hỏi người bị buộc tội; Tham gia trong các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói; Thu thập, đưa ra chứng cứ, tàiliệu, đồ vật; Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá [30, Điều 73, Khoản 1] Vị trí ngồi của NBC khi tham gia phiên tòa cũng đã bình đẳng hơn khi quy định “phòng xử án phải được bố trí thể hiện sựtrang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyềncông tố và luật sư, NBC khác” [30, Điều 257, Khoản 1], Nếu trước đây, đại diện Viện kiếm sát - Cơ quan thực hành quyền công tổ với chức năng buộc tội ngồi phía trên, ngang hàng với Hội đồng xét xử thì hiện nay NBC ngồi đối diện, ngang hàng với đại diện Viện kiểm sát, cùng phía dưới Hội đồng xét xử Đây là những quy định mới so với BLTTHS thời kỳ trước, thể hiện vị trí ngày càng bình đẳng hơn của NBC với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Tuy vậy, NBC là người tham gia tố tụng nên vị trí của họ không thể nào bình đẳng được so với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Trong mối quan hệ với Người bị buộc tội: Trên cơ sở quy định củaBLTTHS hiện hành có thể thấy NBC và Người bị buộc tội đều là nhữngngười tham gia tố tụng, tuy có vị trí khác nhau nhưng lại có mối quan hệ rấtchặt chẽ, mật thiết với nhau NBC tham gia tố tụng với mục đích bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của Người bị buộc tội, và ngược lại Người bị buộctội muốn được quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ tốt nhất trước

17

Trang 24

pháp luật thì phải cân đê sự trợ giúp của NBC Môi quan hệ trên chỉ xuât hiện khi Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của Người bịbuộc tội mời NBC và được CQTHTT tiếp nhận việc đăng ký bào chừa hoặc

do CQTHTT cử NBC cho Người bị buộc tội và được Người bị buộc tội chấpnhận Khi đó NBC sẽ có quyền tham gia tố tụng và là người đại diện cho Người bị buộc tội nên quyền của Người bị buộc tội cũng là quyền của NBC,trừ một số quyền riêng biệt của Người bị buộc tội mà NBC không thểthay thế được như trình bày lời khai, quyền được nói lời sau cùng trước khinghị án và NBC cũng có những quyền riêng mà Người bị buộc tội không

có như: thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật; Kiểm tra, đánh giá về chứng cứ, tàiliệu, đồ vật liên quan Có thể thấy, khi tham gia hoạt động tố tụng, NBCcũng có sự độc lập tương đối, họ có những quyền riêng biệt mà Người bị buộc tội không có, không bị bắt buộc phải làm những việc mà Người bị buộc tộiyêu cầu khi những việc đó là trái với quy định của pháp luật

1.2.2 Vai trò của người bào chũ’a

Trong TTHS nếu chỉ có chức năng buộc tội mà không ghi nhận chứcnăng gỡ tội thì sẽ không có sự kìm chế và đối trọng với bên buộc tội, dễ dẫnđến chủ quan duy ý chí, sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án, không làm sáng tỏ được sự thật khách quan của vụ án, làm oan người vô tội Có thể thấy,vai trò của NBC được thể hiện qua những khía cạnh sau:

Thứ nhất, việc tham gia của NBC trong TTHS không chỉ thể hiện sự đảm bảo dân chủ của quá trình tố tụng mà còn là cơ sở cho việc thực hiện quyền con người trong hoạt động tư pháp [18, tr 18] Bởi lẽ, nội dung cơ bản của dân chủ là quyền con người và quyền công dân, và việc NBC tham gia vào quá trình TTHS với mục đích chính là để bào vệ quyền con người, quyềncông dân đó Thực tiễn khẳng định, không có NBC và cơ chế đảm bảo quyềnbào chữa của công dân thì khó nói đến dân chủ trong hoạt động tư pháp

18

Trang 25

Thứ hai, việc NBC được tham gia quá trình TTHS đê bào chữa cho Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là điều kiện để NBC kiểm tra, giám sát đốivới hoạt động của các CQTHTT NBC thông qua công việc bào chữa củamình góp phần loại bỏ được phần nào sự chuyên quyền của các cơ quan tiếnhành tố tụng, giúp cho các CQTHTT, người tiến hành tố tụng phát hiện, sửachữa những thiếu sót nếu có, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người,đúng tội, đúng pháp luật, qua đó giúp các CQTHTT ra được một bản án côngminh, chính xác.

Những năm trước đây, người dân, đôi khi cả CQTHTT thường quan niệmrằng việc tham gia TTHS của NBC chỉ là hình thức, “cho đủ thành phần” vì họ cho rằng mọi việc đã được CQTHTT quyết định từ trước khi vụ án được đưa

ra xét xử Nếu có người biết đến NBC thì lại sợ tốn kém nên không mời NBC, hoặc không tin tưởng NBC, sợ NBC chịu sự chi phối của hoàn cảnh mà tìmchứng cứ bất lợi đối với họ Do vậy, vai trò của NBC luôn bị xem nhẹ Tuynhiên, những năm gàn đây, sự tham gia của NBC trong các vụ án hình sự đãchứng minh vai trò của NBC có những ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động khởi tổ, điều tra, truy tố, xét xử của các CQTHTT Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của người dân từng bước được nângcao, vai trò của NBC ngày càng được coi trọng hơn, người dân tìm đến NBC

để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình ngày càng nhiều thay vì tự mình bào chữa như trước đây Có thể thấy, NBC đã từng bước tạo ra thế “kìmchế, đối trọng” đối với CQTHTT, Người tiến hành tố tụng trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự

Thứ ba, bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, sự tham gia của NBC trong TTHS còn có vai trò trong việc đảm bảo công lý, tôn trọng pháp luật Mặc dù, NBC có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đồng thời

19

Trang 26

giúp đỡ, tư vân cho Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vê những vân đê pháp lý cần thiết, nhưng NBC cũng có trách nhiệm bảo vệ pháp chế xã hội chù nghĩa, bảo vệ sự thật khách quan của vụ án NBC không thể vì bảo vệ cho thân chủcủa mình mà có những hành vi làm sai lệch hồ sơ, không tôn trọng sự thậtkhách quan của vụ án Bên cạnh đó, việc có những ý kiến phản biện lại các ý kiến sai lầm của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng, giúp cho cácCQTHTT, người tiến hành tố tụng đưa ra được các quyết định chính xác cũng

là cách NBC đảm bảo cho công lý được thi hành trên thực tiễn

1.2.3 Đặc điếm địa vị pháp lý của người bào chữa trong pháp luật tố

tụng hình sự

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, mục đích của những người THTT cũng như NBC đều là xác định sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo việc thu thập các chứng cứ được thực hiện một cách khách quan và chính xác,đảm bảo cho bị can được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Việc NBCtham gia vào TTHS không những không cản trở đến hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử, mà trái lại, còn thúc đẩy, bổ sung cho các CQTHTT Sự có mặt củaNBC trong quá trình giải quyết vụ án giúp hạn chế việc bức cung, dùng nhụchình của người THTT đối với NBBT, góp phần nâng cao tính khách quan của quá trình giải quyết vụ án Thông qua việc tham gia vào quá trình điều tra, truy tố, xét xử, NBC phát hiện được những tình tiết mâu thuẫn cùa vụ án, các tình tiết giảm nhẹ TNHS hoặc các tình tiết có ý nghĩa minh oan cho bị can, bịcáo, từ đó thực hiện quyền kiến nghị, khiếu nại, yêu cầu để không làm oan người vô tội, nhằm đảm bảo sự công bằng, dân chủ trong TTHS cũng như đâm bảo công lý được thực thi

Qua những phân tích về vị trí và vai trò của NBC ở phần trên, có thể thấy địa vị pháp lí của NBC trong TTHS ngày càng được pháp luật ghi nhận

và bão vệ Điều đó thể hiện tính dân chủ, khách quan của Nhà nước ta trong hoạt động TTHS, cũng như tính văn minh, nhân đạo của pháp luật TTHS

20

Trang 27

Vê mặt pháp lý, việc quy định quyên và nghĩa vụ của NBC có một ý nghĩa rất quan trọng NBC tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự đểbảo vệ lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, bị can bị cáo; tìm các chứng cứ,chứng minh nhàm gỡ tội, giảm tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, không

để bị can, bị cáo bị buộc tội oan sai; góp phần vào việc xác định sự thật của

vụ án Bên cạnh đó, sự có mặt của NBC đảm bảo cho các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và các chú thể khác buộc phải thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quy định của pháp luật, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của của quá trình giải quyết vụ án

về mặt chính trị xã hội, quy định về NBC là cách đảm bảo tốt nhất quyền bào chữa của công dân, phù hợp với các nguyên tắc Hiến định Nó thể hiện tính dân chủ của Luật TTHS và tạo điều kiện cho TTHS đạt được mục đích đặt ra đó là bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việc tham gia củaNBC sẽ làm cho các CQTHTT không lạm dụng quyền lực của mình, cùng vớiCQTHTT giải quyết vụ án đúng pháp luật, đúng người đúng tội, tạo lòng tintrong dân chúng vào Đảng và Nhà nước

Việc quy định địa vị pháp lý của NBC còn thể hiện tính nhân đạo củachế độ xã hội Pháp luật quy định quyền bào chữa tạo điều kiện tối đa cho bịcan, bị cáo bảo vệ mình trước pháp luật NBC bảo vệ quyền và lợi ích chínhđáng của bị can, bị cáo chính là đảm bảo cho trạng thái xã hội - nhà nước cânbằng, củng cố nền pháp chế dân chủ

Địa vị pháp lý của NBC trong tố tụng hình sự là tổng thể các quyền vànghĩa vụ pháp lý của NBC trong mối quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác để cùng giải quyết vụ án hình sự, nhằm bào chừa

và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội Từ khái niệm trên,

ta có thể rút ra các đặc điểm về địa vị pháp lý của NBC như sau:

Thứ nhất, địa vị pháp lý của NBC là do Nhà nước, thông qua việc ban

21

Trang 28

hành các quy phạm pháp luật tạo nên, thê hiện ở tông thê các quyên và nghĩa

vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho NBC Những quyền và nghĩa vụ này được qui định cụ thể trong BLTTHS và các văn bản liên quan, nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của CQTHTT, người tiến hành tố tụng hay nhữngngười tham gia tố tụng khác Neu như quyền của NBC là những xử sự đượcpháp luật cho phép của NBC thì nghĩa vụ của NBC là hành vi xử sự bắt buộc

mà pháp luật TTHS quy định cho NBC phải thực hiện nhằm đáp ứng quyềncủa các chủ thể khác Không giống với quyền pháp lý, nghĩa vụ pháp lýkhông phải là khả năng xử sự mà là sự cần thiết phải xử sự của NBC

Thứ hai, địa vị pháp lý của NBC không tách rời mà đật trong tồng thể mối quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác để cùng giải quyết vụ án hình sự Pháp luật TTHS điều chỉnh các quan hệ trong quátrình giãi quyết vụ án hình sự thông qua việc thiết lập nên các quy tắc, hành vichuẩn mực, đưa ra các quy tắc xử sự chung buộc mọi người phải tuân theo.Khi tham gia vào quá trình tổ tụng, tương ứng với quyền pháp lý của chù thểpháp luật này là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật khác Vì vậy, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác cần tôn trọng quyềncủa NBC, cũng như việc NBC thực hiện nghĩa vụ của mình cũng chính là đápứng quyền của các chủ thể khác trong quá trình TTHS

Thứ ba, khi tham gia vào việc giải quyết vụ án hình sự, NBC cónhiệm vụ bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộctội Khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho người bị buộc tội, NBC có những quyền hạn và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng hình

sự và những văn bản pháp luật có liên quan Đây là cơ sở pháp lý quan trọng đế NBC thực hiện công việc của mình Việc thực hiện quyền của NBC phải đi đôi với việc thực hiện nghĩa vụ, đỏ là hai mặt không thể tách rời nhau tạo nên địa vị pháp lý của NBC

22

Trang 29

1.3 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong một sô mô hình tô tụng hình sự trên thế giới

Trên cơ sở các kết quả đã được nghiên cứu cho thấy chế định NBC xuất hiện từ rất sớm Sự xuất hiện đầu tiên của chế định này được ghi nhận ở thời

kỳ Trung cổ và phát triển mạnh mẽ ờ những nước theo hệ thống thông luật(Common Law), sau đó là các nước châu Âu lục địa NBC xuất hiện trên cơ

sở nhu cầu khách quan về sự công bằng trong chính sách xử lý đối với người phạm tội, sự tham gia của NBC nhằm phản kháng lại sự hà khắc của thủ tục xét xử đối với người bị buộc tội [33] Chế định NBC đã từng xuất hiện trong các kiểu mô hình TTHS trên thế giới ở những thời đại khác nhau, có thể kểđến ba loại mô hình tổ tụng sau: mô hình tố tụng tranh tụng; mô hình tố tụng

thẩm vấn và mô hình tố tụng đan xen (kết hợp thẩm vấn và tranh tụng)

F 1.3.1 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong mô hình tó tụng tranh tụng

Tô tụng tranh tụng là mô hình tô tụng xuât hiện vào những năm đâu thê

kỉ X đên thê kì XIII ờ Anh và phát triên mạnh mẽ vào thê kỉ XVI-XVII, được

sử dụng rộng rãi ở những quốc gia thuộc hệ thống thông luật Common Law như Anh, Mỹ, úc, Canada, Ấn Độ Ở những quốc gia theo truyền thốngthông luật, không có các Bộ luật tô tụng do Quôc hội thông qua, mà chỉ có bộ quy tắc về tố tụng do Tòa án tối cao ban hành Trên cơ sở quy định của bộ quy tắc này, các Tòa án cấp dưới có thể có những quy định bổ sung phù họp với điều kiện hoạt động của Tòa án mình Điều đó cho thấy, tố tụng tranh tụng là một mô hình tô tụng rât linh hoạt

Khi một người phạm tội quả tang, hay bị tố cáo là có hành vi phạm tội,cảnh sát sẽ bắt giữ nghi phạm Ngay sau khi bị bắt giữ, nghi phạm sẽ được đưa ra Tòa một cách nhanh chóng, tại đây, họ sẽ được thông báo về lời buộctội đối với họ, về quyền có Luật sư (được quyền thuê Luật sư hoặc có Luật sư chi định), có quyền im lặng Neu sau khi nghe lời buộc tội (nghe đọc bản cáo

23

Trang 30

trạng), nêu nghi phạm nhận tội, thì Thâm phán sẽ đê Công tô viên và Luật sư bào chừa thỏa thuận với nhau Thấm phán sẽ mở phiên tòa tiếp theo để kết tội

bị cáo trên cơ sở thỏa thuận đó Nếu nghi phạm không nhận tội, Tòa án sẽ mở phiên tòa tiếp theo với sự tham gia của Đại bồi thẩm đoàn (Đại bồi thẩm đoàn chì làm nhiệm vụ điều tra) Tại phiên tòa này, Công tố viên và Luật sư sẽ đưa

ra và tranh luận về các chứng cứ của vụ án Thẩm phán và Đại bồi thẩm đoàn

sẽ quyết định chấp nhận hay loại bở những chứng cứ nào Đại bồi thẩm đoàn

có thể triệu tập nhân chứng riêng của mình hoặc yêu cầu tiếp tục điều tra Sau

đó, Đại bồi thấm đoàn quyết định xem đã đủ chứng cứ để buộc tội bị cáo hay chưa Trong quá trình này, Công tố viên có nghĩa vụ phải chuyển giao tất cảnhững chứng cứ có lợi cho Luật sư bào chữa

Sau khi kết thúc quá trình nêu trên, Tòa án sẽ tiến hành xét xử Tại phiên tòa này, Thẩm phán và đoàn bồi thẩm sẽ nghe trinh bày của Công tốviên và Luật sư Công tố viên phải chứng minh ở mức độ “không còn sự nghi ngờ hợp lý” gì nữa về việc phạm tội của bị cáo Bồi thấm đoàn sẽ quyết định

bị cáo có tội hay không có tội Nếu bồi thẩm đoàn không thống nhất được để

ra quyết định, Thẩm phán sẽ tuyên bố phiên tòa bất thành, đoàn bồi thẩmđược giải tán Công tố viên sẽ quyết định vụ án được xét xử lại hay bị đình chỉ Nếu đoàn bồi thẩm thống nhất là bị cáo có tội, phiên tòa xét xử sẽ kết thúc, Thẩm phán ấn định ngày mở phiên tòa tuyên án Đen phiên tòa tuyên ánkhông còn sự có mặt của bồi thẩm đoàn nữa, chỉ có sự tham gia của Thẩmphán, Công tố viên, Luật sư và bị cáo Thấm phán sẽ quyết định hình phạt thích hợp cho bị cáo trên cơ sở xem xét các yếu tố như mức độ nghiêm trọngcủa tội phạm,nhân thân kẻ phạm tội, mức độ hối lỗi của bị cáo

Mô hình này dựa trên nguyên tắc “các bên trình bày” Điều đó có nghĩa là,hai bên trong vụ án hình sự sẽ quyết định phạm vi những vấn đề đưa ra choThẩm phán xem xét, quyết định Công tố viên và luật sư phải gửi cho Thẩm

24

Trang 31

phán danh sách nhân chứng mà mình mời đên phiên tòa, danh sách các tài liệu (biên bản khám xét, bản ảnh ) và danh sách các án lệ mà họ sẽ sử dụng để buộctội, bào chữa Thẩm phán chỉ thực hiện việc xét xử, đóng vai trò là người trọng tài trung lập xem xét các vẩn đề các bên trình bày và bảo đảm cho hai bên thựchiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong việc làm sáng tỏ vụ án.

Có thể thấy, trong mô hình tố tụng này, địa vị pháp lý của NBC được

đề cao và ngang hàng với bên buộc tội NBC có quyền và nghĩa vụ pháp lýbình đẳng với Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ Tố tụng tranh tụng không buộc NBC phải khách quan, công khai trong quá trình thu thập chứng cứ mà có thể tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau để đạt được mục đích gỡ tội cho người được bào chữa Họ được pháp luật trao quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập

và thu thập chứng cứ phục vụ cho hoạt động của mình

Tại phiên tòa, sự có mặt của NBC là bắt buộc, tranh luận giữa NBC vớiCông tố viên là chủ yếu Khi tiến hành tranh tụng, các bên phải đưa ra chứng

cứ, lý lẽ và tranh luận với nhau, các bên có quyền đặt câu hởi trực tiếp chobên đối tượng hoặc cho những người tham gia tố tụng khác, trong một số trường hợp họ có quyền ngắt lời bên đổi tụng, phản bác lại ý kiến mà bên đốitụng đưa ra NBC phải chứng minh được hành vi của bị cáo là không có lồi,không vi phạm pháp luật hoặc chưa đến mức bị truy cứu Trách nhiệm hình sự hay có căn cứ đề giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự cho bị cáo Việc xem xét,đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp tại phiên tòa dựa trên qui định củapháp luật và phụ thuộc vào niềm tin nội tâm của Thẩm phán Do thủ tục tranhtụng không có giai đoạn điều tra nên các chứng cứ đều do bên buộc tội và bên

gỡ tội trực tiếp đưa ra phiên tòa Thẩm phán có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận chứng cứ các bên đưa ra Thẩm phán không được nghiên cứu hồ sơ

vụ án • •từ trước để tránh có một thái độ • 1 phiến diện • về các tình tiết cùa vụ án.•

25

Trang 32

Cuôi cùng, Thâm phán sẽ ra phán quyêt trên cơ sở chứng cứ và lí lẽ mà cácbên đưa ra tại phiên tòa [11, tr.65-66].

1.3.2 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong mô hình tố tụng xét hỏi

Tố tụng xét hỏi hay tố tụng thấm vấn được hình thành từ thời kì chiếm hữu nô lệ, phát triển chủ yếu trong chế độ quân chủ và được sử dụng rộng rãi

ở những quốc gia theo hệ thống Civil Law Trong mô hình này, Thẩm phán vàcông tố viên có vị trí trung tâm trong việc chứng minh vụ án, luật sư chỉ đóng vai trò thứ yếu.Thủ tục tố tụng được quy định cụ thể trong các Bộ luật tố tụng

do Quốc hội thông qua Thẩm phán phải nghiêm chỉnh tuân theo các quy địnhcủa luật, và có thẩm quyền hạn chế trong việc giải thích các quy định này

Trong mô hình tố tụng này, Công tố viên và Thẩm phán có vai trò tích cực trong việc chứng minh vụ án, NBC chỉ có vai trò thứ yếu Công tố viên vàThẩm phán điều tra sẽ xem xét tất cả các chứng cứ của vụ án, nếu thấy đủ bằng chứng đề kết tội thì mới truy tố và đưa vụ án ra xét xử Điều này chothấy việc điều tra trước khi vụ án được đưa ra phiên tòa là thủ tục rất quantrọng Tất cả các vụ án đều phải đưa ra phiên tòa để xét xử, không chấp nhậnnguyên tắc “mặc cả nhận tội”

Trên cơ sở nguyên cứu hồ sơ vụ án, Công tổ viên và Thấm phán sẽ xác định những nhân chứng của vụ án, Thẩm phán xét xử sẽ triệu tập nhữngngười tham gia tố tụng đến phiên tòa Tòa án vẫn có thể mở phiên tòa nếu luật

sư bào chữa, bị cáo hoặc nhân chứng vắng mặt, điều này hoàn toàn khác vớitrong mô hình tố tụng tranh tụng Tại phiên tòa, không có bên nào có thế đưathêm hoặc phản đối các tài liệu có trong hồ sơ, vì vậy, phiên tòa chỉ là nhắclại và kiểm tra các chứng cứ đã thu thập ở giai đoạn điều tra có trong hồ sơ vụ

án (“án tại hồ sơ”)

Ta có thể thấy, đặc trưng của mô hình tố tụng xét hởi là đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán Thẩm phán là người đưa ra quyết định điều tra khi xảy ra

26

Trang 33

một vụ án nào đó, là người có trách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ sở các sự việc, chứng cứ và là người chỉ đạo toàn bộ quá trình tố tụng, kể cả giai đoạn điều tra Trong quá trình điều tra, Thẩm phán cũng góp phần tích cực trong việc tìm ra sự thật với tư cách là người thấm tra Thẩm phán không chỉ thực hiện chức năng xét

xử, mà còn thực hiện cả chức năng điều tra, buộc tội và một phần nào đó củachức năng bào chữa [20], Phiên tòa theo mô hình tố tụng xét hởi không phải là

sự tranh luận dân chủ giữa bên buộc tội và bên gỡ tội mà thực chất vẫn là sự tiếptục điều tra, thẩm định, đánh giá, tìm chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ

án Bên buộc tội và bên gỡ tội có trách nhiệm đưa ra chứng cứ, Thẩm phán thựchiện thấm vấn người làm chứng chứ không phải Công tố viên và NBC Tại phiêntòa, việc xét hởi nhân chứng và các bên liên quan chủ yếu do Thẩm phán thựchiện Mọi hành vi của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển của Thẩm phán, các bên muốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặccho những người tham gia tố tụng khác thì phải được sự đồng ý của Thẩm phán Nhiệm vụ của Thẩm phán là thẩm vấn để bổ sung, làm rõ, đánh giá chứng cứcủa vụ án, dựa trên kết quả điều tra xét hỏi đó để Thẩm phán đưa ra quyết định cuối cùng về việc giãi quyết vụ án, chứ không phải dựa trên những chứng cứ do NBC đưa ra NBC tranh luận chỉ để giải thích các chứng cứ liên quan đến vụ án

mà có thể những chứng cứ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra phánquyết của Thẩm phán mà thôi

Trong mô hình tố tụng xét hỏi, vai trò của NBC không được đề cao, thụđộng và không bình đẳng với CQTHTT Qui định về tranh luận tại phiên tòacũng không thực sự dân chủ và bình đẳng như mô hình tố tụng tranh tụng, quyềncủa NBC thường không được tôn trọng đầy đủ vì họ không có trách nhiệmchứng minh, trách nhiệm này thuộc về CQTHTT mà chủ yếu là Thẩm phán

1.3.3 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong mô hình tố tụng đan xen

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, pháp luật của các quốc gia có xu hướng giảm bớt những yếu tố đặc thù, “xích lại gần nhau” hơn và trong đó pháp

27

Trang 34

luật tô tụng hình sự không phải là ngoại lệ Nghiên cứu các mô hình tô tụng hình

sự cho thấy, đến nay không tồn tại mô hình tố tụng hình sự thuần túy là thẩm vấn hay tranh tụng Trong quá trình tồn tại, các mô hình tố tụng hình sự đã có sự giao thoa, tiếp nhận những yểu tố tiến bộ, tích cực của nhau để đáp úng ngày càngcao yêu cầu phòng, chống tội phạm và bảo đảm các quyền con nguời trong tố tụng hình sự Chính về thế, mô hình tố tụng đan xen ra đời, đó là sự đan xen, kếthọp của mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng xét hởi

Hình thức này được xuất hiện lần đầu tiên trong pháp luật hồi giáo, tuynhiên, nội dung của tố tụng thẩm vấn vẫn chiếm phần cơ bản, vì ở đây hầunhư không có sự tách biệt giữa Thẩm phán và Điều tra viên Một số quy định cùa tố tụng tranh tụng cũng được áp dụng như quyền phản đối lời buộc tội,quyền giữ im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội

Cũng như một số hình thức khác, hình thức tố tụng đan xen đã có nhữngđổi mới theo hướng dân chủ, tích cực và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia Ở giai đoạn trước xét xử, các hoạt động tố tụng hầu như được tiến hành bí mật, hạn chế

sự tham gia của những người liên quan Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử thì phiêntòa được diễn ra công khai, quyền bình đẳng trước tòa và quyền bào chữa cho bịcan, bị cáo được ghi nhận, các bên buộc tội và bào chữa có quyền và nghĩa vụ nhưnhau trong việc đưa ra các chứng cứ hoặc các yêu cầu Tòa án đóng vai trò là trọng tài đảm bảo các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Mặc dù đã có những đối mới theo hướng dân chủ và tích cực, tuynhiên, trong mô hình tố tụng này, nhiệm vụ xác định sự thật khách quan, trách nhiệm chứng minh tội phạm được giao cho các CQTHTT đảm nhiệm Việc thu thập chứng cứ - yếu tố quan trọng nhất liên quan đến việc định tội - hoàn toàn do cơ quan nhà nước thực hiện, nên hồ sơ vụ án có xu hướng thiên vềchứng cứ buộc tội mà yếu về chứng cứ gỡ tội, dễ dẫn đến quyền suy đoán vô tội của bị cáo khó được tôn trọng một cách thực sự Do vậy,• J ' vị trí của NBCcòn khá thụ động và trong nhiều trường hợp lệ thuộc vào các CQTHTT

28

Trang 35

KÊT LUẬN CHUÔNG 1

NBC là một trong những chê định quan trọng và phức tạp trong TTHSViệt Nam, vừa mang tính lí luận, vừa mang tính thực tiễn cao Từ trước đến nay, địa vị pháp lý của NBC đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu, tuynhiên xung quanh khái niệm, vị trí, vai trò và địa vị pháp lý của NBC còn có nhiều ý kiến khác nhau.Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận những quanđiểm về khái niệm NBC được đề cập trong các sách chuyên khảo, giáo trình

và các bài báo, tạp chí về TTHS cũng như khái niệm được BLTTHS năm

2015 đưa ra, tác giả đã phân tích và làm sáng tỏ vai trò, vị trí và địa vị pháp lýcủa NBC trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Đồng thời nghiên cứu địa

vị pháp lý của NBC trong một số mô hình tố tụng hình sự trên thế giới là môhình tố tụng tranh tụng, mô hình tố tụng xét hỏi và mô hình tố tụng đan xen

để có sự đối chiếu và so sánh để làm rõ hơn qui định của pháp luật TTHS Việt Nam về chế định NBC

29

Trang 36

Chương 2 QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sụ VIỆT NAM VÈ

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHŨA VÀ THỤC TIẺN

THỤC HIỆN TẠI TỈNH HÀ NAM• • •

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự tù' năm 1945 đến trước khi bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành

Khi xem xét các qui định về địa vị pháp lý của NBC ở nước ta từ năm

1945 đến trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, dựa trên hoàn cảnh lịch sử và sự phát triển của pháp luật TTHS có thể chia làm 03 giai đoạn:giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988, từ năm 1989 đến năm 2003 và từ năm

2004 đến trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành

Giai đoạn thứ nhất từ năm 1945 đến năm 1988: Giai đoạn này, đất nước ta chưa ban hành BLTTHS

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đe bảo đảm cho việc xử lí tội phạm được kịp thời, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 33C ngày13/9/1945 quy định việc thành lập toà án quân sự, trong đó cỏ quy định: "Bị cáo có the tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho" [13, Điều V],Theo đó,sắc lệnh đã ghi nhận quyền bào chừa của bị cáo, bị cáo có thế tự mình bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho mình, tuy nhiên điều luật sử dụng cụm từ “một người khác bênh vực” chứ không phái NBC, đồngthời cũng không qui định cụ thể người bênh vực cho bị cáo có thể là những ai,

có quyền và nghĩa vụ như thế nào

Ngày 10/10/1945, sắc lệnh số 46 về tổ chức đoàn thể luật sư được banhành, quy định việc duy trì tổ chức luật sư, trong đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về luật sư nhưng không trái vớinguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà [14] Đến ngày 14/02/1946,

30

Trang 37

Chủ tịch Hô Chí Minh ban hành săc lệnh sô 21 bô sung săc lệnh sô 33C ngày 13/9/1945 Điều 5 của sắc lệnh 21 qui định: “Bị cáo có quyền tự bênh vực lẩy hay nhờ luật sư hoặc một người khác bênh vực cho ”. sắc lệnh 21 đã bổ sungthêm Luật sư là người có quyền bào chữa cho bị cáo, bên cạnh một người khác bênh vực như qui định của sắc lệnh 33C, tuy nhiên sắc lệnh cũng không làm rõ người khác bênh vực cho bị cáo có thể là nhũng ai, có quyền và nghĩa

vụ như thế nào [15],

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được ban hành năm 1946 đã khắngđịnh quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân tại Điều67: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư’’. Tuynhiên do điều kiện lúc bấy giờ số lượng luật sư ở nước ta còn rất ít, mặt khác

do hoàn cảnh kháng chiến, một số luật sư đã tham gia cách mạng, còn một sốluật sư thi chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác Vì vậy, vào thời kỳ nàyhầu như các Văn phòng luật sư đều ngừng hoạt động Để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, trong khi số lượng luật sư còn ít, sắc lệnh số 69/SLngày 18/6/1949 qui định bị can có thề nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho trước Tòa án Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được Chánh án thừa nhận [16, Điều 1], Neu bị can không có ai bào chừa,Chánh án cỏ quyền cừ một người ra bào chừa cho bị can Quy định về sự chỉđịnh NBC cho bị can trong vụ án như trên được coi như sự nhân đôi bảo đảm quyền bào chữa cho họ, là quy định mang tính nhân đạo của Luật Tố tụnghình sự nước ta Bên cạnh việc qui định về quyền tham gia bào chừa trongTTHS, Sắc lệnh 69 cũng qui định hai nghĩa vụ của người bào chừa Đó là việc NBC không được “nhận tiền thù lao của bị can hay của thân nhân bị can Người nào phạm vào điều này sẽ bị truy tố và trừng phạt như tội lừa đáo’’ [16, Điều 3] và việc NBC phải bảo mật những thông tin có trong hồ sơ

vụ án: “Người nào để lộ những điều bí mật đã biết trong khi xem hồ sơ, hoặc

31

Trang 38

trong cuộc thâm vân tại phiên toà mà công chúng không được dự thính, sẽ bị phạt từ ỉ đến 5 năm tù và từ ỉ.000 đồng đến 10.000 đồng’’ [16, Điều 4].

Giai đoạn này miền Bắc nước ta mới giành được độc lập và khởi đầu xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, hoàn cảnh về kinh tế và chính trị hết sứckhó khăn, miền Nam vẫn còn trong điều kiện chiến tranh, tuy nhiên Nhà nước vẫn hết sức quan tâm đến quyền của NBBT, thể hiện ở việc đã ghi nhận cho

họ có quyền tự bào chữa cũng như quyền mời NBC cho mình, đồng thờikhông ngừng sửa đổi, bổ sung thêm những qui định để đảm bảo hơn nữa choquyền bào chữa của NBBT cũng như đảm bảo địa vị pháp lý của NBC khitham gia vào TTHS

Giai đoạn thứ hai từ năm 1989 năm 2003: BLTTHS đầu tiên năm

1988 được ban hành

Đề bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời thống nhất trình tự, thủ tục giải quyết vụ ánhình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự nhằm xử lí công minh, kịp thời tội phạm và người phạm tội, ngày 28/6/1988,tại kì họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoáVIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989

BLTTHS năm 1988 qui định việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,

bị cáo là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS:

Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

Cơ quan điều tra, Viện kiếm sát và Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ [25, Điều 12],

Quyền bào chữa của bị can bị cáo còn được đảm bảo bởi nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án qui định tại Điều 20:

Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn

32

Trang 39

dân sự, bị đơn dân sự, người có quyên và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của họ đều có quyềnbình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án.

Địa vị pháp lý của NBC được qui định tại 3 Điều: Điều 35 - Người bàochữa, Điều 36 - Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và Điều 37 - Lựachọn và thay đổi người bào chữa

NBC được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để NBC tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra [25, Điều 36]

NBC có thể do bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựachọn Trong những trường hợp được qui định tại Khoản 2 Điều 37 BLTTHS năm 1988, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp cùa họ không mời NBC thì các CQTHTT phải yêu cầu Đoàn luật sư cử NBC cho họ; bị can, bị cáo và người đại diện họp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối NBC được chỉ định này

Lần đầu tiên, quyền và nghĩa vụ của NBC được ghi nhận cụ thể trongmột văn bản pháp lý TTHS Điều này cỏ ý nghĩa vô cùng to lớn, nó tạo điều kiện cho NBC thực hiện chức năng của mình khi tham gia vào quá trình tốtụng Mặc dù vậy, quyền của NBC khi tham gia vào TTHS vẫn còn hết sứchạn chế, chưa thế hiện hết được vị trí và vai trò của NBC khi thực hiện chứcnăng bào chữa của mình

Giai đoạn thứ ba từ năm 2004 đến trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành '. BLTTHS năm 2003 được ban hành

Cũng giống như BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 cũng quiđịnh ba điều về địa vị pháp lý của NBC: Điều 56 - Người bào chữa, Điều 57 -

33

Trang 40

Lựa chọn và thay đôi người bào chữa và Điêu 58 - Quyên và nghĩa vụ của người bào chữa.

Đối với qui định về NBC, so với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm

2003 không có sự thay đổi về qui định những người có thể là NBC và nhữngtrường hợp không được bào chữa, tuy nhiên BLTTHS năm 2003 đã qui định

cụ thể hơn về thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chừa cho NBC để tham gia tốtụng Việc qui định như vậy đã tạo điều kiện cho NBC có thể thuận lợi thamgia vào quá trình tố tụng

về việc chỉ định NBC cho bị can, bị cáo, BLTTHS năm 2003 qui định thêm trường hợp nếu thuộc trường hợp qui định tại Khoản 2 Điều 57 thìCQTHTT ngoài việc yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cửNBC thì CQTHTT có thể đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tồ chức mình.Đồng thời qui định việc ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chừa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình

Quyền của NBC cũng được mở rộng hơn so với BLTTHS năm 1988 Thời điểm NBC bắt đầu tham gia tố tụng là từ khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp thân chủ của họ bị bắt theo quy định tại Điều 81 và Điều 82BLTTHS năm 2003, chứ không phải từ khi khởi tố bị can như qui định củaBLTTHS năm 1988 Ngoài những quyền như qui định của BLTTHS năm

1988, NBC còn có thêm những quyền sau:

- Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ;

- Xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình vàcác quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

- Đe nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điếm hỏi cung

bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

34

Ngày đăng: 18/10/2022, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bảy (2000), “Người bào chữa trong tố tụng hình sự” , Tạp chí khoa học pháp lý, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bào chữa trong tố tụng hình sự”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Trần Văn Bảy
Năm: 2000
2. BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC (2018), Thông tư liên tịch số 01/2018/ TTLT- BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 qui định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thâm quyền tiến hành tố tụng và Viện kiêm sát có thâm quyền kiêm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2018/ TTLT- BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 qui định vềquan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thâm quyền tiếnhành tố tụng và Viện kiêm sát có thâm quyền kiêm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam
Tác giả: BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
Năm: 2018
3. BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP (2018), Thông tư liên tịch sổ 03/2018/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 hướng dẫn về trìnhtự, thù tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trìnhđiều tra, truy tố, xét xử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch sổ 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 hướng dẫn về trình"tự, thù tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
Tác giả: BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP
Năm: 2018
4. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
5. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
6. Bộ Công an (2011), Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 qui định chi tiết thi hành các qui định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến việc hảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 qui định chi tiết thi hành các qui định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến việc hảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
35. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trĩnh Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trĩnh Lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
36. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an
Năm: 2008
37. Nguyễn Văn Tuân (2004), Vai trò của luật sư trong tố tụng hĩnh sự;Nxb, Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của luật sư trong tố tụng hĩnh sự
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Năm: 2004
38. Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từ điển Báchkhoa và NXB Tư pháp
Năm: 2006
39. Viện ngôn ngữ học (2000), Từ điên Tiếng Việt, Nxb Đà Nang - Trung tâm từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điên Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nang - Trungtâm từ điển học
Năm: 2000
40. Viện ngôn ngữ Việt Nam (2012), Từ điển tiếng 'Việt, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng 'Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
41. Viện ngôn ngữ Việt Nam (2012), Từ điển tiếng 'Việt, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng 'Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2012
42. Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tổ tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tổ tụng hình sự
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
43. VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP (2017), Thông tư liên tịch số 02/2017/ TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 qui định việc phổi họp giữa các CQTHTT trong việc thực hiện một số qui định của BLTTHS năm 2015 về trả hồ sơ đê điều tra bô sung, Hà Nội.II. Tài liệu Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 02/2017/ TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quiđịnh việc phổi họp giữa các CQTHTT trong việc thực hiện một số quiđịnh của BLTTHS năm 2015 về trả hồ sơ đê điều tra bô sung
Tác giả: VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP
Năm: 2017
44. Dương Tấn Thanh (2018), Một số bất cập cùa Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 trong thực tiễn, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập cùa Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 trong thực tiễn
Tác giả: Dương Tấn Thanh
Năm: 2018
45. Dương Tấn Thanh (2019), Chế định người đại diện của người bị buộc tội dưới 18 tuổi, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2453 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định người đại diện của người bị buộc tội dưới 18 tuổi
Tác giả: Dương Tấn Thanh
Năm: 2019
46. Tôn Thiện Phương (2016), Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, https://kiemsat.vn/quyen-bao-chua-cua-nguoi-bi-buoc-toi-trong-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-46006.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Tôn Thiện Phương
Năm: 2016
47. Tổng cục thống kê, https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Thống kê số vụ  án khởi tố  theo nhóm tội  trên địa bàn - Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.1 Thống kê số vụ án khởi tố theo nhóm tội trên địa bàn (Trang 6)
Bảng 2.1: Thống  kê  số  vụ án khởi  tố  theo  nhóm tội  trên  địa bàn - Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.1 Thống kê số vụ án khởi tố theo nhóm tội trên địa bàn (Trang 69)
Bảng 2.2:  Thông  kê  sô  bị  can khởi tô  theo nhóm  tội trên  địa bàn - Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.2 Thông kê sô bị can khởi tô theo nhóm tội trên địa bàn (Trang 69)
Bảng 2.3:  sổ lượng Luật  sư  và  tể  chức hành nghề  Luật sư của - Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.3 sổ lượng Luật sư và tể chức hành nghề Luật sư của (Trang 71)
Bảng 2.4:  số lượng người  bị  buộc  tội  được trợ giúp  pháp  lý  tại - Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.4 số lượng người bị buộc tội được trợ giúp pháp lý tại (Trang 71)
Bảng  2.6:  Sô liệu  thông  kê  bị  can có người bào chữa  tại - Địa vị pháp lý của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sỹ luật)
ng 2.6: Sô liệu thông kê bị can có người bào chữa tại (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w