1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài học kỳ tố tụng hình sự địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự (8 điểm)

17 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 167 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trong các quy định tại các văn bản pháp luật TTHS và theo cách giải thích hiện nay thì ta có thể hiểu: người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp p

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Xuất phát từ sự nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò của người bào chữa và với chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà cũng như nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước ta đã chủ trương tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa phát huy vai trò của mình và được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 Để có thể đưa ra nhận xét, đánh giá về giá trị thực tiễn của các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về người bào chữa, từ đó đưa ra các ý kiến đóng góp vào quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng thì nhất thiết phải có sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng những vấn đề lý luận chung về người bào chữa, thực tiễn hoạt động của người bào chữa cũng như các quy định của pháp luật tố tụng liên quan đến người bào chữa Bài viết

dưới đây sẽ đi sâu phân tích và làm rõ vấn đề “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong

tố tụng hình sự”.

NỘI DUNG

I Khái quát chung về người bào chữa trong tố tụng hình sự

1 Khái niệm địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự

1.1- Khái niệm về người bào chữa

Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cũng như không nêu khái niệm thế nào là người bào chữa trong tố tụng hình sự (TTHS), nhưng dựa vào khái niệm chung về người bào chữa, về luật sư trong các quy định tại các văn bản pháp luật TTHS và theo cách giải thích hiện nay thì ta có thể hiểu: người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, những người khác được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ủy quyền mời hay được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư hoặc đề nghị Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhằm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý

1.2 - Khái niệm địa vị pháp lý của người bào chữa

Địa vị pháp lý là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

Hệ thống quy định của BLTTHS năm 2003 chỉ tập trung quy định về chủ thể, quyền và nghĩa vụ, lựa chọn và thay đổi người bào chữa trong tố tụng hình sự Theo đó, Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định, người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân

- Luật sư bào chữa: Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp

luật tham gia tố tụng hình sự theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật Theo quy định của pháp

Trang 2

luật TTHS và theo Luật Luật sư năm 2006, một người muốn trở thành luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự phải đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư 2006 và được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay người đại diện hợp pháp yêu cầu hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Luật sư có thể tham gia tố tụng với tư cách người bào

chữa trong những trường hợp: Thứ nhất, theo hợp đồng dịch vụ pháp lý (Điều 26 Luật Luật sư) Thứ hai, theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (Khoản 2, Điều 57 BLTTHS năm

2003)

- Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: BLTTHS năm 2003

không quy định rõ khái niệm “người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” mà quy định tại Điều 305, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, hoặc tâm thần có thể tự mình bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc lựa chọn người bào chữa Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần, có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch, hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài

- Bào chữa viên nhân dân: Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 57 BLTTHS năm

2003 có thể hiểu bào chữa viên nhân dân là người được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình Bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng để bào chữa cho người bị

tạm giữ, bị can, bị cáo trong hai trường hợp: Một là, theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (Khoản 2, Điều 57 BLTTHS năm 2003) Hai là, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận tự cử bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng hình sự (Khoản 3 Điều 57 BLTTHS) Người bào chữa tham gia tố tụng cần có sự đồng ý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hoặc người đại diện hợp pháp của họ Tuy nhiên khi

đã tham gia tố tụng hình sự, họ có địa vị pháp lý độc lập, có quyền và nghĩa vụ riêng biệt không phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Tóm lại, từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm địa vị pháp lý của người bào

chữa là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa mà pháp luật quy định cho người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự

2 Vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự:

Trước hết, người bào chữa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào

chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Pháp luật quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa, thông qua việc tự bào chữa hoặc lựa chọn người bào chữa cho mình Tuy nhiên nếu nhìn từ tính phức tạp của vụ án hình sự thì vấn đề tự bào chữa là việc

Trang 3

hết sức khó khăn Sự hỗ trợ từ phía người bào chữa – thường là những người có kiến thức pháp lý chuyên sâu – sẽ góp phần tích cực đảm bảo thực hiện quyền bào chữa của người bị

tạm giữ, bị can, bị cáo trên thực tế Bên cạnh đó, sự tham gia của người bào chữa trong tố

tụng hình sự còn góp phần giải quyết vụ án một cách khách quan, tăng cường tính dân chủ

trong hoạt động tư pháp, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Như vậy, xét về bản chất, vị

trí, vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự được quyết định bởi nguyên tắc tôn trọng quyền bào chữa của người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) Với vai trò

đó, vị trí của người bào chữa được xác định là người tham gia tố tụng, thực hiện chức năng trợ giúp pháp lý cho người bị buộc tội và góp phần làm cho quá trình giải quyết vụ án hình

sự được khách quan, toàn diện

II Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự

1 Quyền của người bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2003

- Quyền tham gia tố tụng hình sự: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định người

bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người quy định tại Điều 81, 82 Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra Theo đó, người bào chữa có thể tham gia tố tụng vào một trong ba thời điểm: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 80 BLTTHS), bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 82 BLTTHS); Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát Theo quy định tại BLTTHS 1988 thì người bào chữa chỉ được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Như vậy, quy định này

là một bước tiến của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988, thể hiện sự dân chủ

và tiến bộ trong tố tụng hình sự, đảm bảo cho việc tạm giữ của cơ quan điều tra là đúng pháp luật và có căn cứ, tránh sự lạm quyền từ phía các cơ quan điều tra bắt tạm giam, tạm giữ không cần thiết, việc thực hiện quyền này cũng giúp cho luật sư bào chữa được tiếp xúc với vụ việc ngay từ đầu, sẽ thuận lợi hơn trong việc thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can để có thể bào chữa cho bị can ở các giai đoạn sau

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 dành khoản 2 Điều 58 để quy định về quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự:

- Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và có mặt trong các hoạt

Trang 4

động điều tra khác, xem xét các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình

và các quyết định tố tụng liên quan đến người mình bào chữa: Đây là quy định mở rộng

sự tham gia của người bào chữa trong các hoạt động điều tra, việc tham gia này có ý nghĩa trợ giúp ban đầu đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như giúp họ ổn định tâm lý khi điều tra viên hỏi cung, giúp họ nhìn ra những điểm sơ hở, thiếu chặt chẽ trong biên bản lời khai, giúp họ khai lại, giải thích lại đúng với sự thật vụ án, đồng thời đảm bảo cho những hoạt động này được thực hiện đầy đủ, tuân thủ đúng pháp luật hơn Người bào chữa còn có thể hỏi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu được sự đồng ý của điều tra viên, đây là quy định thể hiện sự công bằng của pháp luật Bên cạnh đó, người bào chữa có thể tham gia vào các hoạt động điều tra khác như: hoạt động đối chất; nhận dạng; hoạt động khám nghiệm, thực nghiệm hiện trường; khám xét, thu giữ tài sản Khi tham gia các hoạt động

điều tra, người bào chữa có quyền “xem xét các biên bản về các hoạt động tố tụng có sự

tham gia của mình và các quyết định tố tụng có liên quan đến người mà mình bào chữa” -Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch: Để

đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và chính xác góp phần bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch Quyền này xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo sự vô tư khách quan của những người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng (Điều 14 BLTTHS) Đối với người tiến hành tố tụng, những căn cứ này được quy định tại Điều 42 BLTTHS Với người giám định, họ phải

từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 60 BLTTHS năm 2003 Ngoài ra, nếu người giám định không đủ khả năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu giám định học cũng có thể bị thay đổi Việc thay đổi người giám định do cơ quan trưng cầu quyết định Đây cũng là những căn cứ tương tự

để thay đổi người phiên dịch quy định tại Điều 61 BLTTHS

- Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can đề

có mặt hỏi cung bị can: Quy định đã tạo điều kiện cho người bào chữa có thể chủ động

thời gian thực hiện quyền có mặt trong các hoạt động điều tra mà mình thấy cần thiết, đặc biệt là quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can và tham gia hỏi cung khi được Điều tra viên đồng ý BLTTHS năm 2003 đã khắc phục thiếu sót của BLTTHS năm 1988 khi quy định thêm quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can đề có mặt hỏi cung bị can của người bào chữa Đây cũng là một điểm mới tiến bộ và hợp lý của BLTTHS năm 2003 Sự có mặt của người bào chữa trong các buổi hỏi cung bị can sẽ khắc phục hiện tượng bức cung, ép cung, đồng thời tránh được tình trạng khi ra Toà bị cáo phản cung và đổ lỗi cho Điều tra viên đã bức cung, ép cung bị cáo trong giai đoạn điều tra

Trang 5

- Quyền thu thập tài liệu đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác: Quy định này tạo điều kiện cho người bào chữa tiếp xúc với vụ án

ở mức độ khái quát hơn, chuyên sâu hơn, để người bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần đảm bảo tính khách quan, chính xác, đúng pháp luật của hoạt động tố tụng Người bào chữa được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa một cách hợp pháp; sau đó, người bào chữa sử dụng những

gì thu thập được để thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hiệu quả hơn Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án xem xét những đồ vật, tài liệu này, nếu nó đảm bảo tính khách quan và hợp lý thì có thể sử dụng như là chứng cứ để giải quyết vụ án

- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Những tài liệu, đồ vật này thường là theo hướng

có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bào chữa có thể đưa ra những yêu cầu trong các giai đoạn tố tụng khác nhau như: yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu giám định hoặc giám định lại nếu có căn cứ cho rằng kết quả giám định trước đó không đúng sự thật, yêu cầu hoãn phiên tòa, người bào chữa phải xem xét tính hợp lý và quan trọng là phải có lợi cho người được bào chữa để đưa ra những đồ vật, tài liệu, yêu cầu Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền đưa

ra những đồ vật tài liệu, yêu cầu của người bào chữa (Điều 122 BLTTHS)

- Quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị giam giữ: Trao cho người bào chữa

quyền này là hết sức cần thiết, bởi lẽ, để đảm bảo cho việc bào chữa được hiệu quả thì người bào chữa phải có những thông tin chính xác về vụ án và cần thiết phải tiếp xúc trực tiếp với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để trao đổi, tìm hiểu thêm những thông tin đó Qua gặp gỡ, trao đổi, người bào chữa giải thích những vấn đề về pháp luật và cũng có thể tác động đến người được bào chữa, làm cho họ có thái độ khai báo tốt hơn để có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

-Quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bàochữa theo quy định của pháp luật: người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu

trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, nhưng không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa, không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Nếu người bào chữa làm trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

- Quyền tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa: Vai trò của người bào chữa được thể

hiện rõ nét nhất tại phiên tòa xét xử Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người

Trang 6

khác về những vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo Tại phiên tòa, người bào chữa phải tập trung phân tích những ý kiến, câu trả lời trong quá trình xét hỏi Khi tranh luận với bên buộc tội, người bào chữa phải tìm ra những lý lẽ thích hợp để đối đáp, bảo vệ cho bị cáo, và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo Không chỉ trao quyền cho người bào chữa, pháp luật còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng để họ thực hiện quyền này trên thực tế (Điều 19, Điều 217, 218, 245, 280 BLTTHS năm 2003)

- Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Khi tham gia tố tụng dù ở giai đoạn nào, người bào chữa nếu phát hiện thấy

quyết định hoặc hành vi của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có những điểm bất hợp lý, vi phạm pháp luật họ có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của

cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các quy định về khiếu nại được ghi nhận trong Chương XXXV BLTTHS Quy định quyền này nhằm bảo đảm các quyết định, hành

vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng luôn được đặt trong sự kiểm tra, giám sát, tránh oan sai, đảm bảo tính khách quan, toàn diện

- Quyền xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận: Theo quy định của pháp luật TTHS, sau khi Toà tuyên án thì

người bào chữa được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận Đây là một quyền rất quan trọng, giúp cho người bào chữa có điều kiện kiểm tra biên bản phiên toà, qua đó có thể phát hiện ra những điểm biên bản phiên toà phản ánh không đúng diễn biến của phiên toà để kịp thời yêu cầu Toà án sửa chữa, bổ sung Trong trường hợp Toà án không chấp nhận yêu cầu sửa chữa, bổ sung vào biên bản phiên toà thì người bào chữa ghi rõ các yêu cầu của mình gửi cho Toà

án để vào hồ sơ vụ án

- Quyền kháng cáo bản bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của BLTTHS năm 2003: Đây là một quyền rất quan trọng của người bào chữa, nó

độc lập mà không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo cũng như người đại diện hợp pháp của

họ Giới hạn của quyền này chính là người bào chữa chỉ được Pháp luật tố tụng hình sự quy định khi bản án đã tuyên mà chưa có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy sai sót hoặc không đồng ý với bản án, quyết định của tòa nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Kháng cáo của người bào chữa phải theo hướng có lợi cho bị cáo

Tóm lại, BLTTHS năm 2003 đã quy định khá đầy đủ về quyền của người bào chữa

trong tố tụng hình sự Không chỉ tập trung quy định tại khoản 2 Điều 58 bộ luật còn có những quy định cụ thể quyền của người bào chữa trong các giai đoạn khác nhau của quá

Trang 7

trình giải quyết vụ án Điều này góp phần đảm bảo quyền của người bào chữa không chỉ được quy định trong luật mà còn được thực thi trên thực tế

2 Nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2003

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về nghĩa vụ của người bào chữa tại khoản 3 Điều 58, theo đó, người bào chữa có những nghĩa vụ sau:

- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo: Người bào chữa phải thực hiện chức năng của mình, những quyền mà

pháp luật quy định trao cho họ chính là những biện pháp mà pháp luật cho phép họ sử dụng

và người bào chữa có trách nhiệm sử dụng chúng để làm sáng tỏ những tình tiết có lợi cho người được bào chữa Quy định này nhằm hạn chế tình trạng người bào chữa không có trách nhiệm với công việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa qua loa, không đem lại sự trợ giúp đáng kể nào cho người được bào chữa Người bào chữa phải ý thức được nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định, chuyên tâm, tích cực tìm hiểu vụ án, làm sáng tỏ những tình tiết liên quan để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

- Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này: Căn cứ vào quy định

nêu trên thì việc thu thập chứng cứ của người bào chữa được thực hiện ở cả ba giai đoạn của tố tụng hình sự, đó là: giai đoạn điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử vụ án hình sự Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 9 Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an Người bào chữa có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thu thập được (tài liệu, đồ vật và tình tiết có liên quan) cho cơ quan tiến hành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng lập biên bản tiếp nhận và đưa vào hồ sơ vụ án

- Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ: Đây là nghĩa vụ đương nhiên của người bào chữa đối với người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo Người bào chữa có nghĩa vụ giải thích cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

về các quyền của mình, quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc thực hiện các yêu cầu, mong muốn của người được bào chữa, giúp họ cung cấp thêm những tình tiết liên quan đến vụ án có lợi cho họ Quy định này là rất cần thiết đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ

- Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng: Quy định này được hiểu là khi đã đảm

nhận công việc bào chữa theo lời mời của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại

Trang 8

diện hợp pháp của họ hoặc được cử theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì người bào chữa không được từ chối bào chữa, trừ trường hợp có lý chính đáng (Khoản 2 Điều 56 BLTTHS) Quy định thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của người bào chữa đối vói người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo., góp phần aảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật: Người bào chữa có nghĩa vụ không

được làm sai lệch sự thật vụ án để đạt được mục đích, không được mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; như vậy là làm sai lệch

sự thật khách quan của vụ án Người bào chữa là những người am hiểu pháp luật, bởi vậy, người bào chữa càng phải tôn trọng sự thật của vụ án và pháp luật, không được vi phạm pháp luật để đạt được mục đích

- Có mặt theo giấy triệu tập của Toà án: Giấy triệu tập người bào chữa tham dự phiên tòa

là một văn bản tố tụng, do tòa án (thẩm phán phụ trách vụ án) ban hành, nhằm mục đích

“triệu” người bào chữa đến tham dự phiên tòa Việc người bào chữa phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa mang ý nghĩa bắt buộc Điều 190 BLTTH quy định người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên toà Nếu người bào chữa vắng mặt, nhưng có gửi trước bản bào chữa thì Toà án vẫn mở phiên toà xét xử Trong trường hợp người bào chữa quy định tại khoản 2 Điều 57 luật mới Bộ luật tố tụng hình sự vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà Quy định này nhằm phát huy tinh thần cải cách tư pháp, buộc người bào chữa phải có trách nhiệm với công việc bào chữa

- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân:

Trong quá trình thực hiện việc bào chữa, người bào chữa có nghĩa vụ bảo đảm bí mật điều tra, không được sử dụng những tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục

đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá

nhân Quy định này không những góp phần bảo đảm bí mật quốc gia và lợi ích chung của

xã hội mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đưc nghề nghiệp của người bào chữa Người bào chữa làm trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách

nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Như vậy,

nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự đã được pháp luật quy định một cách khá toàn diện và hợp lý Việc thực hiện tốt các nghĩa vụ này sẽ giúp cho người bào chữa thể hiện rõ vai trò và nâng cao địa vị pháp lý của mình trong TTHS

III Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật và một số kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự

Trang 9

1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của người bào chữa

Có thể khẳng định, với việc xác định quyền bào chữa là quyền Hiến định, phù hợp với các

Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế mà Việt Nam

đã tham gia và ký kết, quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm đúng mức thông qua việc ban hành BLTTHS 2003, Luật Luật sư 2006, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Thông tư hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an Vị trí, vai trò và chức năng xã hội của người bào chữa đã có bước chuyển mạnh mẽ, tạo được chỗ đứng trong xã hội, có được

sự tin cậy nhất định từ phía các thiết chế quyền lực, quản lý, các chủ thể xã hội và công dân Trong một chừng mực nhất định, hoạt động của người bào chữa đã góp một phần quan trọng trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đóng vai trò ngày càng đậm nét trong quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng, từng bước bảo đảm quyền con

người trong đời sống tư pháp Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của

người bào chữa cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần khắc phục:

1.1 – Về tỷ lệ người bào chữa tham gia tố tụng hình sự ở Việt Nam

Trong thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay, người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự chủ yếu là luật sư Sự tham gia của người đại diện hợp pháp là rất ít và đặc biệt là rất hiếm đối với bào chữa viên nhân dân Hiện nay, hoạt động bào chữa của luật sư trong tố tụng hình sự đã có những thay đổi rõ rệt: số lượng luật sư và Đoàn luật sư tăng lên nhanh chóng, luật sư tham gia nhiều hơn trong các cấp tòa án, đầy đủ hơn trong các vụ án

mà theo quy định của pháp luật bắt buộc phải có người bào chữa, tham gia giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án hình sự đúng người, đúng tối, đúng pháp luật, hạn chế oan sai Theo số liệu thống kê thì trong những năm qua, số lượng vụ án có người bào chữa nói chung luôn có xu hướng tăng lên, tuy nhiên, tốc độ tăng không cao Tỷ lệ luật

sư tham gia bào chữa trong những năm qua chỉ chiếm khoảng 10% - 11% số vụ án đã được xét xử, trong đó có đến 50% số luật sư tham gia bào chữa là do cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định [1] Tuy nhiên, về chất lượng người bào chữa vẫn còn nhiều hạn chế

1.2 - Một số hạn chế vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

- Về địa vị pháp lý của người bào chữa: Liên quan đến địa vị pháp lý là người tham gia tố

tụng, có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 BLTTHS, cho thấy tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa không bình đẳng với người tiến hành tố tụng, là quyền năng phái sinh của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không của cơ quan THTT Người bào chữa không được bình đẳng trong việc điều tra, thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị tình nghi phạm tội

- Về diện chủ thể người bào chữa: Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS, người

Trang 10

bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân.Tuy nhiên, diện chủ thể người bào chữa hiện hành quá rộng, một

số đối tượng chưa quy định tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng yêu cầu của việc tham gia bào chữa, hiệu quả tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế

- Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa: Mặc dù Điều 27 Luật Luật sư quy

định rất rõ các thủ tục cần thiết, và mới đây, Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết, nhưng thực tế phần lớn thời hạn cấp Giấy chứng nhận người bào chữa (GCNNBC) không được bảo đảm trong vòng 3 ngày Các vấn

đề về hiệu lực giá trị GCNNBC qua các giai đoạn TTHS, thủ tục cấp và thu hồi GCN người bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong TTHS cũng chưa được làm rõ trong BLTTHS năm 2003

- Về sự tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn điều tra: Việc tham gia tố

tụng của luật sư trong giai đoạn điều tra gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn và mang nặng tính hình thức:

+ Thứ nhất, BLTTHS không quy định cách thức thông báo, giải thích quyền tự bào chữa

và nhờ người khác bào chữa, cung cấp danh sách người bào chữa trên địa hạt tố tụng để cho người bị tạm giữ, bị can lựa chọn và thực hiện quyền của mình [2]

+ Thứ hai, BLTTHS không có quy định cho phép người bào chữa được tiếp xúc riêng tư

với người bị tạm giữ, bị can trong Trại tạm giam trong giai đoạn điều tra, nên hoàn toàn tùy thuộc vào lịch làm việc hoặc sự chấp thuận hay không của Điều tra viên Quy định về quyền gặp mặt người bị tạm giữ, bị can của người bào chữa trong Thông tư 70/2011/TT-BCA chưa rõ ràng, gặp nhiều khó khăn trong thực tế

+ Thứ ba, trừ trường hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 BLTTHS, hiện nay, chưa có

quy định thống nhất về giá trị pháp lý sự hiện diện và chữ ký của luật sư trên các biên bản hỏi cung người bị tạm giữ, bị can là bắt buộc[3]

+ Thứ tư, việc quy định luật sư chỉ được phép hỏi khi điều tra viên đồng ý đã hạn chế

quyền của người bào chữa và đặt vị thế của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng rất bị động, hạn chế việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ

+ Thứ năm, thời gian tiếp xúc của luật sư với người bị tạm giữ, bị can bị hạn chế trong

vòng 01 giờ đồng hồ do vướng quy định tại Nghị định số 89/ 1998/NĐ-CP của Chính phủ

+ Thứ sáu, BLTTHS chưa quy định cụ thể quyền điều tra, thu thập chứng cứ của người bào

chữa, cũng như cơ chế bảo đảm Một số hoạt động tố tụng thiếu vắng sự tham gia hoặc chứng kiến của người bào chữa như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, thu giữ vật chứng, bán đấu giá tài sản

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w