Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu phát triển TTCK với xuất phát điểm thấp, pháp luật qui định nhiệm vụ và chức năng của TTLK cho TTGDCK thực hiện các chức năng đăng ký, lưu ký, bù trừ, than
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
Hồ Văn Chương
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Luật Kinh Tế
Mã Số: 60.38.50
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Tiến sỹ:LÊ VŨ NAM
TP.HỒ CHÍ MINH
2007
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận văn
HỒ VĂN CHƯƠNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn với đề tài nghiên cứu “Địa vị pháp lý của TTLK chứng khoán theo pháp luật Việt nam”, tôi đã cố gắng nghiên cứu các qui định pháp luật liên quan về đề tài và tham khảo các công trình nghiên cứu về lĩnh vực CK và TTCK của nhiều tác giả có uy tín
Với hiểu biết và khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm thực tế không nhiều, do vậy trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Do vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành từ các Thầy, Cô, Nhà nghiên cứu, và các bạn đồng nghiệp với sự trân trọng
Để hoàn thành Luận văn này, tôi trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn nghiên cứu khoa học Tiến Sỹ Lê Vũ Nam –Đại học Quốc gia Tp HCM, và các Thầy, Cô Trường Đại học Luật Tp.HCM, và Viện Nhà nước và Pháp luật, cùng tất cả người thân, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho tôi hoàn thành Luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 11/2007
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 TTCK : Thị Trường Chứng Khoán
2 TTLK : Trung Tâm Lưu Ký
3 SGDCK : Sở Giao Dịch Chứng Khoán
4 TTGDCK : Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán
5 HTĐKLKBTTT : Hệ Thống Đăng Ký, Lưu Ký, Bù Trừ và Thanh Toán
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Trang
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG
KHOÁN
1 Cơ sở lý luận chung về Trung tâm lưu ký chứng khoán
1.1.Khái niệm TTLK 01
1.2.Vị trí, vai trò 02
1.3.Chức năng, nhiệm vụ của TTLK 05
1.4.Lịch sử hình thành và phát triển 07
2 Mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm lưu ký chứng khoán ở một số nước 2.1.Mô hình, tổ chức và hoạt động của TTLK Thái lan (Thailand Securities Depositoy - TSD) 09
2.2.Mô hình, tổ chức và hoạt động của TTLK Hàn Quốc (Korea Securities Depository – KSD) 11
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 2.1.Sự cần thiết thành lập TTLK tại Việt Nam 16
2.2.Cơ sở pháp lý cho việc thành lập TTLK tại Việt Nam
Trang 62.2.1 Mô hình tổ chức và họat động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng
khoán trước Quyết định 189 19
2.2.2 Mô hình tổ chức và họat động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán sau Quyết định 189 21
2.2.3 Mô hình tổ chức và họat động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán theo Luật chứng khoán 2006 29
2.2.4.Thực trạng hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán tại Việt Nam 2.2.4.1 Hoạt động đăng ký 35
2.2.4.2 Hoạt động lưu ký 39
2.2.4.3 Hoạt động bù trừ, thanh toán chứng khoán và Qũy hỗ trợ thanh toán 43
2.2.4.4 Các hoạt động khác 2.2.3.4.1.Thực hiện quyền 49
2.2.3.4.2 Quản lý Sổ cổ đông 52
2.2.5 Một số vấn đề pháp lý khác trong hoạt động của TTLK 2.5.1 Thời điểm xác lập quyền sở hữu trong giao dịch chứng khoán 53
2.5.2 Bảo hiểm trong hoạt động lưu ký chứng khoán 58
2.5.3 Giám sát hoạt động, và bồi thường thiệt hại 60
2.5.4 Một số vấn đề pháp lý khác trong hoạt động của TTLK 64
2.2.6 Giải thể, phá sản 70
2.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của TTLK 2.3.1.Đánh giá chung Pháp luật về tổ chức và hoạt động của TTLK tại Việt Nam 74
Trang 72.3.2.Kiến nghị và Giải pháp Pháp luật vể tổ chức và hoạt động của TTLK tại Việt Nam 77
KẾT LUẬN:
DANH SÁCH CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do của việc chọn đề tài nghiên cứu:
TTCK Việt nam ra đời từ tháng 7 năm 2000, đến nay được vận hành và hoạt động hơn 7 năm và đã đạt được nhiều thành công, kết quả tích cực, tạo đà cho sự phát triển đi lên của TTCK trong thời gian tới Đến nay trong cả nước có khoảng trên 200 doanh nghiệp tham gia niêm và đăng ký giao dịch trên TTCK với chất lượng và qui mô ngày càng lớn Cùng với sự tham gia vào TTCK của các doanh nghiệp, thì số lượng nhà đầu tư gồm tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài cũng tham gia đầu tư và giao dịch chứng khoán ngày càng tăng về qui mô và số lượng
Bên cạnh sự tích cực tham gia TTCK của các công ty cổ phần, và các nhà đầu
tư, thì sự hoạt động hiệu quả của các TTGDCK trong những năm qua đã thực sự đem lại sự thành công của TTCK Việt nam Trong thời gian đầu, TTGDCK tổ chức
và giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán trên TTCK và thực hiện nhiều hoạt động rất quan trọng, trong đó có hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Các hoạt động của TTGDCK bước đầu đã tạo dựng được lòng tin cho nhà đầu tư, công ty niêm yết và các chủ thể khác, đã bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư và các chủ thể khác trên thị trường, bảo đảm hoạt động trên
cơ sở công bằng, công khai và minh bạch Đây là một nét rất đặc thù trong điều kiện hình thành và phát triển TTCK Việt nam Về nguyên tắc, chức năng tổ chức và giám sát hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ do Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLK) đảm trách Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu phát triển TTCK với xuất phát điểm thấp, pháp luật qui định nhiệm vụ và chức năng của TTLK cho TTGDCK thực hiện các chức năng đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ liên quan, nghĩa là TTLK chưa được thành lập và hoạt động độc lập với TTGDCK Trên TTCK, các
Trang 9hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán được coi là nghiệp vụ
hỗ trợ giao dịch
Xét về gốc độ quản lý, nhiệm vụ quan trọng này được giao cho TTGDCK đảm nhiệm rất phù hợp với qui mô thị trường nhỏ và trong giai đoạn chưa ổn định Về cơ bản, trong thời gian qua TTGDCK đã hoàn thành tốt nhiệm vụ này, đã đảm bảo an toàn trong hỗ trợ giao dịch, tạo tiền đề vững chắc cho một TTLK chuyên nhiệp và hiện hại ra đời Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, TTCK đã phát triển mạnh mẽ, tăng về qui mô giao dịch, số lượng nhà đầu tư, số lượng công ty niêm yết và đăng ký chứng khoán trên TTCK, hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán của TTGDCK đã bộc lộ nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng sự phát triển đồng bộ cho TTCK và an toàn cho quyền và lợi ích của các trên TTCK; theo đó, lượng công việc ngày càng tăng đã ảnh hưởng đến vai trò nhiệm vụ chính của TTGDCK là tổ chức và giám sát giao dịch trên TTCK
Với nhận thức tích cực và quyết tâm đổi mới cao của các cơ quan quản lý thị trường về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán, đồng thời đứng trước sự phát triển nhanh chóng của thị trường và nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư ngày càng cao, xuất phát từ tầm quan trọng, yêu cầu của thực tiễn và những bất cập của hoạt động nêu trên, TTCK đòi hỏi phải hình thành TTLK được tổ chức
và hoạt động độc lập và chuyên nghiệp có khả năng phù hợp với thực tiễn và hoàn thành tốt nhiệm vụ của một TTLK Trước thực tế đó, TTLK Việt nam đã chính thức được thành lập và hoạt động trong gần 2 năm theo quyết định 189/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/07/2005 Trong thời gian qua, TTLK đã góp phần tạo nên
cơ sở hạ tầng của TTCK và thể hiện tốt vai trò của một TTLK: Thứ nhất, TTLK đã thực hiện tốt vai trò hỗ trợ cho việc hoàn tất giao dịch chứng khoán, đã góp phần nâng cao tính chuyên môn hóa đối với các hoạt động nghiệp đăng ký, lưu ký, bù trừ
và thanh toán chứng khoán, đồng thời nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro liên quan tới từng nghiệp vụ có tính chất khác nhau Thứ hai, TTLK đã đảm bảo được tính đồng bộ trong việc vận hành hệ thống thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng khoán
Trang 10chung cho Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ chí Minh và trung giao dịch chứng khoán Hà nội (SGD và HASTC), tránh được lãng phí về tài chính cũng như nhân lực phát sinh từ việc đầu tư riêng biệt cho từng thị trường và giảm thiểu chi phí và rủi ro liên quan đến việc thanh toán các giao dịch chứng khoán Thứ ba, TTLK đã thực hiện vai trò của mình trong việc đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán giúp cho việc quản lý thị trường thêm hiệu quả thông qua việc tập trung hoá và phi vật chất hoá toàn bộ chứng khoán mới phát hành và quản lý phát đồng thời nâng cao được tính chính xác trong việc quản lý thông tin người sở hữu chứng khoán Thứ tư, với vai trò là đầu mối quản lý đăng ký và lưu ký chứng khoán tập trung, cơ quan quản lý có thể giám sát hiệu quả hơn toàn bộ hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường, cũng như kiểm soát việc lưu chuyển vốn thông qua sự thay đổi sở hữu chứng khoán của người đầu tư và kịp thời có các biện pháp điều chỉnh và ngăn chặn các hành vi giao dịch không hợp lệ, góp phần đảm bảo cho các nguyên tắc quản lý thị trường được tuân thủ triệt để Hoạt động của TTGDCK và của TTLK ngay từ khi TTCK ra đời được thực hiện dựa trên nhiều văn bản pháp luật gồm: Nghị định 48/1999/ND-CP của Chính phủ qui định về chứng khoán và TTCK (sau đây gọi là
NĐ 48); Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và TTCK (sau đây gọi là NĐ 144) thay thế NĐ 48; và một số văn bản hướng dẫn khác liên quan Mới đây nhất, quyết định số 87/2007/QĐ-BTC (sau đây gọi là Quy chế 87) ngày 22/10/2007 của Bộ tài chính về quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán thay thế quyết định số 60/2004/QĐ-BTC (sau đây gọi là Quy chế 60) ngày 15/07/2004 của Bộ tài chính về quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Quy chế 87 được coi là văn bản mới nhất được ban hành hướng dẫn một số qui định tại Luật chứng khoán (LCK) 2006 về hoạt động của TTLK
Bên cạnh những kết quả đạt được, TTLK đã bộc lộ một số hạn chế nhất định: Thứ nhất, đối chiếu quyết định 163/2003/QĐ-TTg ngày 05/08/2003 về phê duyệt chiến lược phát triển TTCK đến năm 2010, ta có thể thấy, yêu cầu đặt ra là mở rộng quy mô của TTCK tập trung, phấn đấu đưa tổng giá trị thị trường đến năm 2005 đạt mức 2 - 3% GDP và đến năm 2010 đạt mức 10 - 15% GDP Tuy nhiên, chúng ta đều
Trang 11biết, thực tế cho thấy năm 2006 qui mô thị trường đạt khoảng 15% GDP (tính theo giá trị vốn hoá của thị trường), qua đó thị trường phát triển nhanh chóng về qui mô
và số lượng, ngày càn nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia ngày càng tăng Do vậy, hoạt động của TTLK đã bộc lộ những hạn chế đến sự phát triển chung của thị trường, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư, người sở hữu chứng khoán Tác giả cho rằng những TTLK có những hạn chế chủ yếu sau: Thứ nhất, mô hình TTLK là một đơn vị hành chính sự nghiệp có thu thuộc UBCK-Bộ tài chính (UBCK) không còn phù hợp trước sự phát triển nhanh của thị trường, đòi hỏi phải có một mô hình tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty trên cơ sở của LCK
và Luật doanh nghiệp (LDN) Thứ hai, các hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán và dịch vụ của TTLK còn nhiều hạn chế và rủi ro như: quan
hệ uỷ quyền, quan hệ cầm cố chứng khoán… chưa qui định cụ thể, và nhiều nghiệp
vụ của TTLK còn thao tác bằng thủ công dễ gây ra sai sót và thiệt hại cho thị trường
và nhà đầu tư Trước nhu cầu đổi mới và nâng cấp hệ thống công nghệ hiện còn lạc hậu bằng một hệ thống mới hiện đại và trước ngân sách Nhà nước phải đầu tư cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội lớn khác, thì TTLK hoạt động bằng ngân sách nhà nước là không hợp lý Thứ ba, một số rủi ro về khung pháp lý liên quan về tổ chức và hoạt động của TTLK còn nhiều bất cập, cần phải hoàn thiện như thời điểm xác lập quyền sở hữu chứng khoán, văn bản hướng dẫn thực hiện lộ trình cam kết quốc tế của Việt Nam về lĩnh vực dịch vụ chứng khoán chưa được ban hành kịp thời…
Để TTLK hoạt động ngày càng ổn định, phát triển, thực sự có hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế, thì việc nghiên cứu pháp luật về TTLK một cách đầy đủ,
có hệ thống, toàn diện và khách quan, đồng thời có tính đến nhu cầu phát triển của TTCK cũng như điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong xu thế hội nhập đầy đủ với kinh tế trong khu vực và thế giới là đòi hỏi cấp thiết Do đó, công
trình nghiên cứu về Địa vị pháp lý của Trung tâm lưu ký chứng khoán theo pháp
luật Việt Nam được tác giả lựa chọn cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Thạc sỹ Luật học của mình
Trang 122.Tình hình nghiên cứu:
TTCK là một lĩnh vực mới mẻ trong khoa học pháp lý Kể từ khi TTCK chính thức đi vào hoạt động, đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này trong đó
có một số công trình nghiên cứu như: Một số vấn đề về Pháp luật chứng khoán và
TTCK ở Việt nam của TS.Phạm Thị Giang Thu; Quy chế pháp lý của TTGDCK TP.HCM của học viên cao học Nguyễn Thị Lý; Địa vị pháp lý của Công ty chứng khoán của học viên cao học Nguyễn Thị Kim Quyên; Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán của học viên cao học Nguyễn Thanh Long; Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên TTCK của học viên cao học Trần
Quốc Hoài; Thời điểm chuyển quyền sở hữu trong giao dịch chứng khoán của Ts.Lê
Nết đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý và một số công trình khác
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số bài viết về vị trí vai trò, cơ chế tổ chức và hoạt động của TTLK, nhưng nhìn chung chỉ dừng lại ở tầm nghiên cứu vĩ
mô Tác giả có thể khẳng định đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về Địa vị pháp lý của TTLK
3 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TTCK, pháp luật về tổ chức và hoạt động của TTLK theo pháp luật Việt Nam, đồng thời có tham khảo và so sánh với pháp luật của một số nước có TTCK phát triển trong khu vực và trên thế giới, công trình nghiên cứu này nhằm đánh giá một số mặt tích cực và hạn chế của TTLK theo pháp luật hiện hành, qua đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về tổ chức và hoạt động của TTLK trong thời gian sắp tới
4 Đối Tượng và Phạm Vi Nghiên Cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu toàn diện pháp luật về CK và TTCK và các văn bản pháp luật có liên quan Trong đó chủ yếu nghiên cứu các qui định về tổ chức và hoạt động của TTLK, đồng thời đối chiếu pháp luật về tổ chức và hoạt động của TTLK được ban hành trước khi Luật chứng khoán bắt đầu có hiệu lực Qua đó, công
Trang 13trình nghiên cứu phân tích và đánh giá các quyền và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật và Điều lệ của TTLK Ngoài ra, tác giả có nghiên cứu pháp luật liên quan đến hoạt động của TTLK: Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự, luật phá sản, Bộ luật hình
sự, Luật kinh doanh bảo hiểm…Bên cạnh nghiên cứu pháp luật trong nước, tác giả nghiên cứu qui chế pháp lý của TTLK của một số nước như Nhật, Joc-đa-ni, Mac-xê-đô-nia, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc…
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm chính sách và Nghị Quyết của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp phân tích, so sánh, suy luận và tổng hợp
6 Kết cấu Luận văn gồm:
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG
KHOÁN
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
KẾT LUẬN
Trang 14CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN
1.1 Cơ sở lý luận chung về Trung tâm lưu ký chứng khoán
1.1.1.Khái niệm TTLK
TTLK ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của TTCK Cùng với quá trình phát triển của TTCK, các nhà kinh tế học cũng như các nhà khoa học pháp lý giải thích thuật ngữ TTLK dưới nhiều gốc độ khác nhau (tạm gọi là khái niệm về TTLK)
Dưới gốc nhìn của kinh tế học, TTLK được hiểu là một tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ phục vụ cho quá trình tập trung, lưu giữ và chuyển đổi chứng khoán tham gia giao dịch trên TTCK sang dạng số dư trong các tài khoản lưu ký, quản lý tài khoản lưu ký đó và thanh toán các giao dịch của chứng khoán lưu ký bằng hệ thống bút toán ghi sổ và giúp chủ sở hữu chứng khoán lưu ký thực hiện các quyền lợi do chứng khoán mang lại1
Xét theo mô hình hoạt động, theo Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan, TTLK hoạt động dựa trên hệ thống lưu ký chứng khoán được vi tính hoá do công ty TNHH LKCK Thái Lan quản lý, thực hiện các nhiệm vụ lưu ký, rút và chuyển giao chứng khoán Hệ thống này giúp TTLK Thái lan cung cấp các dịch vụ nhanh chóng và tiện ích đến các thành viên, các tổ chức lưu ký, các nhà đầu tư và nâng cao đáng kể hiệu quả hoạt động bù trừ và thanh toán2
Theo từ điển tài chính Investorwords của Công ty quản trị mạng chuyên tài chính trụ sở Hoa kỳ, thì TTLK là nơi lưu giữ trung tâm ở đó các thành viên chuyển giao chứng chỉ cổ phiếu và trái phiếu qua hệ thống điện tử (trung tâm thanh toán bù trừ)
Trang 15Theo khái niệm đươc đăng trên Tạp chí Chứng khoán số 1+2, năm 2006, TTLK là một tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các giao dịch mua, bán trên TTCK như lưu ký chứng khoán, thanh toán ghi sổ giao dịch chứng khoán thực hiện quyền của người sở hữu chứng khoán…thông qua đó giúp cho các hoạt động của thị trường được vận hành hiệu quả, ổn định và liên tục1
Từ những quan điểm trên, tác giả có thể khái quát về TTLK như sau: TTLK là một tổ chức thực hiện việc đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán và cung cấp dịch vụ hỗ trợ khác liên quan trên TTCK…thông qua đó giúp cho các hoạt động của thị trường được vận hành an toàn, chính xác, hiệu quả, ổn định và liên tục Nhìn chung, về mặt pháp lý, các khái niệm trên về TTLK thể hiện vị trí vai trò
và chức năng nhiệm vụ của TTLK và tầm quan trọng của nó trong việc hoàn thiện
hạ tầng cơ sở cho hoạt động của TTCK và không thể thiếu trong bộ phận cấu thành pháp luật về chứng khoán và TTCK thông qua việc tạo nền tảng cho các giao dịch chứng khoán đạt hiệu quả và ít xảy ra rủi ro cho toàn TTCK
1.1.2.Vị trí, vai trò
TTCK là tổng thể các qui trình và các mối quan hệ hết sức phức tạp, nhưng cũng rất khoa học Để khẳng định được vị trí và vai trò của TTLK, chúng ta có thể khái quát về quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại TTGDCK bước sau: Trước tiên, nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công ty chứng khoán (CTCK) Bước hai, CTCK chuyển lệnh mua hoặc bán chứng khoán cho đại diện của CTCK tại TTGDCK Người đại diện này sẽ nhập lệnh vào hệ thống của TTGDCK Bước 3, TTGDCK thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho CTCK Bước 4, CTCK thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư Bước 5, Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại CTCK sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán Nhà đầu tư chỉ có thể giao dịch mua bán chứng khoán thông qua trung
1
Ủy ban chứng khoán, Tạp chí chứng khoán Việt nam, số 1+2, tr.54, 2006
Trang 16gian – CTCK, chứ không được giao dịch trực tiếp tại TTGDCK hoặc trực tiếp với nhau
Các qui trình và các mối quan hệ này là những mắt xích rất quan trọng và hỗ cho nhau mà nếu thiếu một trong các qui trình đó sẽ dẫn đến sự đình trệ của toàn bộ thị trường Để đạt được mục tiêu hoạt động an toàn và hiệu quả thì có thể khẳng định vai trò của TTLK mà cụ thể là hoạt động đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình hoạt động của TTCK hay nói một cách
ví von là “xương sống” của TTCK Nếu TTGDCK là nơi tổ chức các giao dịch chứng khoán, TTLK là tổ chức hỗ trợ các hoạt động sau giao dịch, thì hệ thống đăng
ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán (HTĐK-LK-BT-TT) chứng khoán được coi là công
cụ quan trọng không thể thiếu cho hoạt động hiệu quả của TTLK Hệ thống này có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của TTCK Nhờ có hệ thống này, hoạt động hoàn tất các giao dịch chứng khoán mới được thực hiện thông suốt, an toàn, cụ thể là:
Thứ nhất, Thanh toán các giao dịch chứng khoán, đảm bảo các giao dịch được hoàn tất Theo đó, khi các giao dịch được thực hiện, cần phải có sự thanh toán thì mới thực sự chuyển giao được các chứng khoán và thanh toán được tiền giữa các bên tham gia giao dịch, đảm bảo bên mua chứng khoán được nhận chứng khoán và bên bán nhận được tiền Sau khi các giao dịch được thực hiện thì nhiệm vụ của HTĐK-LK-BT-TT chứng khoán là thực hiện bù trừ để xác định được bên đối tác nào sẽ phải giao chứng khoán và bên đối tác nào được nhận tiền Do đó, nếu thời gian thanh toán của hệ thống được rút ngắn thì các đối tượng tham gia thị trường càng có cơ hội kiếm lời, chớp được thời cơ kinh doanh
Thứ hai, giúp quản lý TTCK Vai trò của tiêu chí này thể hiện thông qua việc quản lý thông tin về người sở hữu chứng khoán, hệ thống giúp các nhà quản lý biết được tỷ lệ nắm giữ của người sở hữu chứng khoán, kịp thời đưa ra các quyết định xử
lý khi các tỷ lệ sở hữu của một số đối tượng vượt quá qui định Hệ thống cung cấp thông tin về các chứng khoán bị mất trộm, mất cắp, các chứng khoán không còn giá
Trang 17trị lưu hành và thông báo cho các đối tượng tham gia trên thị trường, qua đó giúp các nhà đầu tư không bị thiệt hại khi mua phải chứng khoán giả hoặc chứng khoán
bị mất cắp…
Thứ ba, giảm chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường Vì khi hệ thống được phát triển đến mức độ nhất định thì việc quản lý chứng khoán được thực hiện qua hệ thống cơ sở dữ liệu dưới hình thức bút toán ghi sổ, giúp tiết kiệm chi phí cho các bên tham gia trong việc in ấn chứng chỉ chứng khoán, bảo quản chứng chỉ chứng khoán, giảm chi phí, tránh được sự trùng lặp trong khâu nhận, kiểm đếm chứng khoán khi thanh toán cho các đối tượng tham gia khi chưa có hệ thống Theo đó, các hoạt động đăng ký chứng khoán, thực hiện quyền của người sở hữu chứng khoán đều được thực hiện thông qua hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu, giúp hoạt động đăng
ký chứng khoán được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, giảm được chi phí cho cơ quan thực hiện việc đăng ký chứng khoán
Thứ tư, giảm rủi ro cho hoạt động của TTCK Kinh nghiệm các nước cho thấy thời gian thanh toán càng được rút ngắn bao nhiêu sẽ càng giảm được rủi ro cho các bên tham gia thị trường bấy nhiêu Thời gian thanh toán là khoảng thời gian tính từ khi giao dịch được thực hiện đến khi việc thanh toán hoàn tất Các rủi ro thường gặp như rủi ro do lỗi máy tính, rủi ro do lỗi của con người gây ra, rủi ro trong trường hợp
có bên đối tác mất khả năng thanh toán do không có đủ chứng khoán hoặc tiền để giao Các rủi ro này sẽ càng được giảm nếu như thời gian thanh toán được rút ngắn Thứ năm, thực hiện việc thanh toán nhanh góp phần giúp các đối tượng của hệ thống tăng vòng quay vốn HTĐK-LK-BT-TT chứng khoán thực hiện việc thanh toán bù trừ và chuyển quyền sở hữu một cách nhanh chóng do loại bỏ chuyển giao vật chất chứng khoán bằng các bút toán ghi sổ Qua đó, các bên có thể tiết kiệm được nhiều chi phí, thời gian để kiểm đếm, kiểm tra tính thật giả của các chứng chỉ vật chất, đặc biệt khi khối lượng giao dịch lớn, đồng thời tránh trường hợp trùng lắp giữa các đối tượng giao và nhận, rút ngắn thời gian thanh toán Nhờ đó, nguồn vốn của các bên tham gia thị trường sẽ được sử dụng hiệu quả hơn
Trang 181.1.3.Chức năng, nhiệm vụ của TTLK
Cùng với sự ra đời và phát triển của TTCK, TTLK cũng dần được hình thành
và phát triển TTLK đã được khẳng định là tổ chức không thể thiếu trong hoàn thiện hoạt động giao dịch chứng khoán Với vị trí và vai trò đã được khằng định, TTLK được pháp luật qui định cho nó một số chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động sau giao dịch trên TTCK gồm:
- Đăng ký, lưu ký chứng khoán phát hành ra công chúng, chứng khoán niêm yết, chứng khoán đăng ký giao dịch tại SGD, TTGDCK
Đề chứng khoán niêm yết hay đăng ký giao dịch được giao dịch trên TTCK, chúng phải được đăng ký đầy đủ thông tin để TTLK có thể nhận lưu ký Thông tin đăng ký có thể gồm: tên chứng khoán, loại chứng khoán, số lượng đang lưu hành, tên và địa chỉ của người sở hữu chứng khoán đó…Sau khi hoàn toàn tất thủ tục đăng
ký, chứng khoán phải được lưu ký Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng gồm chứng khoán vật chất và ghi sổ trên hệ thống điện
tử, đồng thời thực hiện các dịch vụ liên quan như mở tài khoản, nhận gửi, rút, chuyển khoản chứng khoán lưu ký
- Bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán tại SGD, TTGDCK
Bù trừ và thanh toán chứng khoán là hoạt động hỗ trợ sau giao dịch Hoạt động này thực hiện việc xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán và tính toán lại nhằm xác định số tiền và chứng khoán ròng cuối cùng mà các bên giao dịch thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
- Đại lý chuyển nhượng đối với các loại chứng khoán niêm yết, chứng khoán đăng ký giao dịch tại SGD và TTGDCK, các chứng khoán phát hành ra công chúng
và thực hiện các quyền liên quan tới người sở hữu chứng khoán theo uỷ quyền của
tổ chức phát hành Chức năng làm đại lý chuyển nhượng xuất phát từ việc thực hiện đăng ký thông tin trước đó do TCPH tiến hành đăng ký và lưu ký tại TTLK Do đó,
Trang 19TTLK thực hiện dịch vụ làm đại lý chuyển nhường với tư cách là bên được ủy quyền
- Đăng ký, lưu ký, đại lý chuyển nhượng đối với các loại chứng khoán khác theo yêu cầu của tổ chức phát hành Do pháp luật chưa thể bao quát và đưa vào qui định cho tất cả các loại chứng khoán phải niêm yết hoặc đăng ký giao dịch Nên chức năng này được coi là qui định mở nhằm khuyến khích các bên tự nguyện ủy quyền cho TTLK thực hiện và quản lý tập trung
- Các dịch vụ khác hỗ trợ việc giao dịch chứng khoán Ngoài các chức năng cơ bản, TTLK có thể cung cấp các dịch vụ như: thủ tực đăng ký, lưu ký đối với các giao dịch cho tặng, biếu, thừa kế
- Đăng ký giao dịch đảm bảo đối với các chứng khoán đã được lưu ký tập trung tại Trung tâm Chức năng đăng ký giao dịch bảo đảm giúp các bên tham gia giao dịch có thêm cơ hội tối đa hóa lợi nhuận thông qua hợp đồng cầm cố Theo đó, nhà đầu tư có quyền dùng chứng khoán mà họ đang sở hữu để cầm cố tại ngân hàng để
có vay thêm tiền mặt để đầu tư chứng khoán Pháp luật qui định hợp đồng cầm cố phải được đăng ký giao dịch bảo đảm tại TTLK
- Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ áp dụng tại Trung tâm sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBCK ở các nước, TTLK có quyền ban hành quy trình, quy chế về nghiệp vụ liên quan hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Tại Việt Nam, pháp luật qui định TTLK có nghĩa vụ trình dự thảo quy chế lên UBCK và UBCK là cơ quan có thẩm quyền ban hành, và sau đó TTLK tiến hành tổ chức thực hiện Theo xu hướng sắp tới, thẩm quyền ban hành quy chế này sẽ do TTLK thực hiện
- Thu các khoản phí và lệ phí theo chế độ quy định và một số chức năng khác
Vì bản chất của TTLK là cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động sau giao dịch, do vậy, hoạt động của TTLK mang tính phi lợi nhuận là chủ yếu Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép TTLK được thu một số khoản phí và lệ phí theo qui định, thường là
Trang 20do Bộ tài chính qui định các loại dịch vụ được phép thu và mức thu cụ thể Bên cạnh
đó, TTLK cũng có nhiệm vụ: quản lý và sử dụng QHTTT để hỗ trợ kịp thời cho các thành viên lưu ký trong trường hợp thành viên lưu ký tạm thời mất khả năng thanh toán theo qui định của pháp luật; giám sát hoạt động của các TVLK, nhân viên nghiệp vụ của TVLK trong quá trình thực hiện quy trình nghiệp vụ đăng ký, lưu ký,
bù trừ, thanh toán chứng khoán; phát hiện và kiến nghị với UBCK xử lý các vi phạm theo chế độ quy định; tham gia vào các chương trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán trong khuôn khổ những quy định của Chủ tịch UBCK1
Về mặt lý luận, TTLK được coi là một chủ thể pháp lý trên TTCK, nhưng về mặt kỹ thuật, TTLK hoạt động không thể thiếu một hệ thống đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán Hệ thống này hoạt động bao gồm con người, cơ sở vật chất
và các qui định pháp luật về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Hệ thống này gồm ba bộ phận: đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Nhờ
có hệ thống này mà các giao dịch chứng khoán được tiến hành trôi chảy, thuận lợi
1
Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam http://www.vsd.vn/CDA/faq_form.aspx?&lang=v
Trang 21Cùng với sự hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới HT
ĐK-LK-BT-TT chứng khoán cũng ngày càng được hoàn chỉnh và phát triển Trong thời kỳ đầu,
do doanh số giao dịch không lớn cũng như số người tham gia giao dịch chưa nhiều, nên hầu hết các hoạt động liên quan đến việc chuyển giao chứng khoán và thanh toán tiền do các công ty môi giới tự đảm nhiệm để phục vụ khách hàng Vì thế chưa
có sự góp mặt của hệ thống này.Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 với sự đa dạng của các chủng loại chứng khoán, số người tham gia TTCK ngày càng nhiều, khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch giữa các bên phát sinh lớn đã đòi hỏi hệ thống trên phải được hình thành để đáp ứng Từ đó đến nay, hệ thống trên ngày càng được phát triển, đặc biệt nhờ sự phát triển của công nghệ kỹ thuật,
Trong giai đoạn đầu tổ chức TTCK ở Việt Nam, các chức năng ĐK-LK-BT-TT chứng khoán của thị trường được thực hiện bởi hai TTGDCK ban đầu là tại TP.HCM và sau đó là tại Hà nội HT ĐK-LK-BT-TT CK tại hai TTGDCK được vận hành độc lập với nhau mà không có sự liên kết Bên cạnh đó, phạm vi dịch vụ do hệ thống cung cấp mới chỉ giới hạn ở các nhóm dịch vụ cơ bản là lưu ký, bù trừ và thanh toán các giao dịch và thực hiện quyền đối với chứng khoán niêm yết và đăng
ký giao dịch trên hai TTGDCK Hoạt động của HT ĐK-LK-BT-TT chứng khoán theo mô hình này không đạt hiệu quả cao và gây lãng phí về nguồn lực
Để nâng cao hiệu quả hoạt của TTCK nói chung và hiệu quả của HT BT-TT chứng khoán nói riêng, ngày 27/07/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 189/2005/QĐ-TTg thành lập TTLK độc lập, hỗ trợ cho cả TTCK Việc thành lập TTLK trong bối cảnh TTCK Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ là hoàn toàn phù hợp với các đòi hỏi từ thực tiễn thị trường, đồng thời cũng phù hợp với các kiến nghị của các tổ chức quốc tế như G30 (nhóm tư vấn các vấn đề về tiền
ĐK-LK-tệ và kinh tế quốc tế), và Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (International Organization of Securities Committee – IOSCO) Theo đó, mỗi thị trường cần có một TTLK độc lập
Trang 22Với chức năng chính là hỗ trợ xử lý các hoạt động sau giao dịch, hoạt động của TTLK đã thực sự giúp giảm thiểu chi phí và năng lực xử lý của toàn thị trường nhờ tận dụng được lợi thế theo qui mô Bên cạnh đó, thông qua việc điều chỉnh về chức năng giữa các đơn vị là TTLK, Sở giao dịch chứng khoán (SGD) và TTGDCK, trong đó khối chức năng hỗ trợ sau giao dịch được tách khỏi khối chức năng giao dịch do SGDCK, TTGDCK đảm trách, cho nên mỗi tổ chức có điều kiện chuyên môn hoá sâu hơn vào từng lĩnh vực hoạt động cũa mình, đồng thời phạm vi và chất lượng dịch vụ cung cấp cũng được nâng lên nhờ hoàn thiện các mặt tổ chức và hoạt động và quản trị điều hành của từng đơn vị
1.2 Mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm lưu ký chứng khoán ở một số nước
1.2.1 Mô hình, tổ chức và hoạt động của TTLK Thái lan (Thailand Securities Depository - TSD) 1
TSD được thành lập vào năm 1988, là một công ty con của SGD chứng khoán Thái Lan, vừa đóng vai trò là Trung tâm thanh toán bù trừ và TTLK Đến cuối năm
1994, SGDCK Thái Lan (SET) tái cơ cấu TSD và chuyển sang hoạt động theo loại hình Công ty TNHH Lưu ký chứng khoán có chức năng đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Các thành viên của TSD là các công ty chứng khoán, ngân hàng lưu ký, các tổ chức tài chính trung gian (công ty tài chính, Qũy đầu tư…) và các định chế tài chính khác
Hoạt động đăng ký chứng khoán của TSD được thực hiện theo cơ chế: chứng khoán được lưu giữ tại TSD sẽ do TSD đứng tên đăng ký Việc chuyển nhượng trong hệ thống của TSD sẽ không phải thực hiện việc tái đăng ký Việc chuyển giao giấy chứng nhận sau khi mua chứng khoán vật chất diễn ra trong 2 tháng Trong thời gian này, chứng khoán không được phép giao dịch Chứng khoán chưa niêm yết sẽ một ngân hàng lưu ký toàn cầu đứng tên đăng ký TSD nghiêm cấm đăng ký dưới
1
Dương Văn Thanh, Tìm hiểu một số mô hình TTLK chứng khoán trên thế giới, Tạp chí chứng khoán, số 6, tr.43, 2006; Trần Đắc sinh, Xây dựng mô hình hệ thống quản lý cho TTGDCK Tp.HCM, tr.56, 2003; Đỗ Thư Trang, (nđd)
Trang 23tên của tổ chức lưu ký trong nước.Tổ chức này do ngân hàng lưu ký cấp hai giám sát
Hoạt động lưu ký chứng khoán của TSD được thực hiện theo cơ chế: cổ phiếu
và trái phiếu niêm yết sẽ được lưu giữ tại TSD trên những tài khoản trong nước hoặc nước ngoài của ngân hàng lưu ký Việc chuyển giao quyền góp vốn, những công cụ phái sinh như quyền chọn được phát hành, giao dịch và thanh toán dưới hình thức bút toán ghi sổ đều phải thông qua TSD Nhà đầu tư muốn nắm giữ các công cụ này dưới dạng vật chất phải đến TSD rút về Khi nhà đầu tư muốn giao dịch thì phải chuyển sang hình thức bút toán ghi sổ Tài khoản tại TSD phản ảnh tổng số lượng nắm giữ của TVLK Các TVLK chịu trách nhiệm quản lý các tiểu khoản của nhà đầu tư Các chứng khoán không niêm yết được lưu giữ tại kho của ngân hàng lưu ký hoặc dưới hình thức chứng khoán niêm yết tạm thời Như vậy, TSD áp dụng mô hình quản lý tài khoản TTLK Cơ chế lưu ký của TSD được thiết lập dựa trên việc tôn trọng quyền của nhà đầu ở chỗ cho phép nắm giữ chứng khoán vật chất sau khi được lưu ký bằng bút toán ghi sổ, khi muốn giao dịch thì nhà đầu tư có quyền thực hiện quyền tái lưu ký dạng bút toán ghi sổ Tuy nhiên, cơ chế này gây ra rủi ro mất mát, trộm cắp, hư hỏng, thời gian kiểm đếm tính thực thật giả của chứng khoán… TSD phân hoạt động bù trừ và thanh toán chứng khoán làm 2 cấp:
Thứ nhất, bù trừ giữa những CTCK Mặc dù có cùng một cơ chế bút toán ghi
sổ được sử dụng để bù trừ giữa các CTCK, và thanh toán giữa ngân hàng lưu ký với CTCK, nhưng việc thực hiện sẽ được tiến hành riêng rẽ Đối với hoạt động bù trừ trên thị trường, TSD sẽ khớp các lệnh giao dịch của các CTCK, sau đó thông báo kết quả bù trừ vào ngày T+2 và tiến hành thanh toán vào ngày T+3 Vào ngày T+3, TSD
sẽ tính toán giá trị ròng về tiền và về chứng khoán của các CTCK Số dư chứng khoán được TSD bù trừ, chuyển giao và xác nhận qua mạng Số dư bằng tiền được
bù trừ qua séc có hiệu lực vào ngày T+1 sau khi số tiền thu được từ việc thanh toán chứng khoán được ghi có vào ngày thanh toán
Trang 24Thứ hai, thanh toán giữa các ngân hàng lưu ký và CTCK Ở đây, hoạt động thanh toán được phân thành hai loại: Thanh toán chứng khoán vốn và thanh toán chứng khóa nợ Việc thanh toán chứng khoán vốn có sự tham gia của các ngân hàng lưu ký tiến hành dựa trên giá trị ròng của séc thanh toán hoặc của từ hóa đơn Việc xác nhận giao dịch phải được thực hiện qua mạng trươc 17h ngày T+2 Giao dịch không thể thanh toán đúng hạn được thanh toán riêng theo giá trị trên tấm séc, những giao dịch không thanh toán đúng hạn sẽ được thanh toán sau 1 ngày là ngày T+4 Việc thanh toán chứng khoán nợ chủ yếu là Trái phiếu công ty được giữ dưới dạng tạm thời tại TSD Trái phiếu niêm yết được phép giao dịch tại TTGD Trái phiếu của Thái lan và được thanh toán vào ngày T+2 Tại đây, có rất ít Trái phiếu Chính phủ tham gia giao dịch Thái lan cho phép giao dịch Trái phiếu không niêm yết, ngày thanh toán không cố định và do các bên tham gia giao dịch qui định và thường trong vòng 3 ngày Việc giao dịch Trái phiếu không niêm yết các lệnh giao dịch được phép khớp trước qua điện thoại Việc xác nhận giao dịch là một công đoạn quan trọng trong quá trình thanh toán Trái phiếu không niêm yết do hiện tại chưa có một chuẩn thanh toán nào được áp dụng
1.2.2 Mô hình, tổ chức và hoạt động của TTLK Hàn Quốc (Korea Securities Depository – KSD)
KSD được thành lập tháng 12 năm 1974, do SGDCK Hàn quốc (Korea Securities Exchange - KSE) sở hữu, và chịu sự quản lý của Bộ tài chính và kinh tế (MOFE) và Ủy ban giám sát tài chính (FSC)
KSD là nơi cung cấp dịch vụ lưu ký tập trung Thành viên lưu ký của nó là các ngân hàng và CTCK KSD tố chức và giám sát các hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ thanh toán chứng khoán và tiền
Đối với hoạt động đăng ký chứng khoán, cổ phiếu lưu ký tại KSD do KSD đứng tên đăng ký Các thành viên và các đại lý lưu ký phải cung cấp cho KSD danh sách người sở hữu có xác nhận của tổ chức phát hành Theo đó, KSD xác nhận tỷ lệ
sở hữu cổ phần theo thẻ đăng ký đầu tư của người sở hữu Khi xét thấy cần thiết,
Trang 25KSD chuyển lại danh sách đó cho tổ chức phát hành vì việc thanh toán cổ tức cho cổ đông dựa vào danh sách này
Đối với hoạt động lưu ký chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài phải lưu ký các chứng khoán đủ tiêu chuẩn tại KSD Những chứng khoán vật chất được bảo quản tại kho lưu ký, đồng thời được lưu ký trên tài khoản của các đại lý lưu ký và do KSD đứng tên đăng ký Các đại lý lưu ký giữ và quản lý tài khoản của từng nhà đầu tư một cách tách biệt
Đối với hoạt động bù trừ thanh toán chứng khoán, KSD phân thành hai cấp: Thứ nhất, bù trừ giữa những tổ chức môi giới: KSD thực hiện bù trừ thanh toán cho các thành viên tham gia giao dịch tại KSE, và thị trường OTC chính thức và thị trường giao dịch thỏa thuận Vào ngày thanh toán, hệ thống máy tính của KSE sẽ tính toán giá trị ròng của các chứng khoán chuyển nhượng và bù trừ thanh toán theo
số dư trên các tài khoản của các CTCK với nhau tại KSD Để đảm bảo thanh toán được thực hiện, các CTCK phải luôn duy trì một quỹ hỗ trợ thanh toán do KSE quản
lý Thứ hai, bù trừ giữa các CTCK làm thành viên lưu ký: đối với chứng khoán vốn, việc giao dịch các chứng khoán này phải thực hiện thanh toán và lưu ký tại KSD Vào ngày giao dịch, các CTCK gửi xác nhận giao dịch cho các đại lý lưu ký Đến ngày thanh toán, đại lý lưu ký chỉ thực hiện thanh toán khi có xác nhận về chứng khoán được lưu ký trên tài khoản của đại lý lưu ký tại KSD Đối với giao dịch thỏa thuận chứng khoán, đại lý lưu ký chỉ thực hiện lệnh chuyển nhượng chứng khoán cho KSD khi có xác nhận thanh toán Đối với chứng khoán nợ niêm yết tại KSD, các thủ tục thanh toán áp dụng như các chứng khoán vốn Đối với chứng khoán trên thị trường tiền tệ ngắn hạn, các giao dịch được thực hiện trên thị trường OTC
Đối với hoạt động bù trừ thanh toán tiền, trước đây việc sử dụng séc được phép tại Hàn quốc, hiện nay họ đang loại trừ dần, vì việc thanh toán dưới dạng séc của ngân hàng được bù trừ vào ngày hôm sau và để hoàn tất việc thanh toán phải phụ thuộc vào việc bù trừ séc Điều này gây khó khăn và luân chuyển vốn vì các TVLK không được phép sử dụng khoản tiền thu được để đảm bảo cho việc thanh toán hoặc
Trang 26mua tiền tệ vào ngày thanh toán trong khi các tài khoản hiện tại ở các đại lý lưu ký
đã bị ghi có hoặc ghi nợ theo giá trị tại ngày thanh toán
TTLK Hàn quốc là một TTLK duy nhất phục vụ cho tất cả các TTCK Hàn quốc TTLK Hàn quốc vừa là một TTLK, trung tâm thanh toán và là một phần trong
hệ thống ghi sổ thuộc hệ thống nắm giữ trực tiếp là cung cấp dịch vụ quản lý sổ cổ đông cho các tổ chức phát hành, đồng thời là trung tâm đăng ký cho công cụ trái phiếu Hệ thống nắm giữ trực tiếp của Hàn quốc còn có thêm hai định chế ghi sổ cung cấp dịch vụ quản lý sổ cổ đông là Seoul Bank và Kookmin Bank
TTLK Hàn quốc không chỉ phục vụ cho thị trường thứ cấp, mà họ còn cung cấp dịch vụ lưu ký ngay từ khi chứng khoán mới được phát hành trên thị trường sơ cấp Cho phép các chứng khoán phát hành mới được phát hành theo hình thức ghi sổ
và lưu ký thẳng vào TTLK
TTLK Hàn quốc hoạt động theo mô hình hai cấp: nhà đầu tư lưu ký CK tại các TVLK, sau đó các TVLK tái lưu ký chứng khoán của các nhà đầu tư tại KSD Các chứng khoán lưu ký tại KSD sẽ được đăng ký lại tên danh nghĩa của KSD trên Sổ đăng ký của tổ chức phát hành
KSD là trung tâm thanh toán cho các thị trường KSE, KOSDAQ, OTC và COFEX Kết quả giao dịch được bù trừ theo phương thức đa phương tại KSE, KOSDAQ trước khi được thanh toán tại KSD Thanh toán giao dịch tại KSD là loại thanh toán theo chu kỳ (T+2)
Đối với trái phiếu, Luật đăng ký trái phiếu công ty và trái phiếu chính quyền giao cho KSD đóng vai trò là một đại lý đăng ký chuyên nghiệp cho tất cả các trái phiếu được qui định trong luật này Luật giao dịch chứng khoán Hàn quốc cho phép KSD làm đại lý chuyển nhượng theo dõi sổ cổ đông cho các tổ chức phát hành Bên cạnh KSD, Seoul Bank và Kookmin Bank cũng được làm đại lý chuyển nhượng theo dõi sổ cổ đông cho các tổ chức phát hành Như vậy Hàn quốc đã dựa vào các
Trang 27định chế ghi sổ chuyên nghiệp trong tổ chức hệ thống đăng ký chứng khoán và theo
mô hình tập trung
Với chức năng là một đại lý đăng ký trái phiếu, KSD giữ hồ sơ chi tiết về các trái phiếu và quyền đã phát hành trong sổ tài khoản, là một sổ cái pháp lý KSD vận hành một hệ thống duy nhất mà trong đó việc đăng ký trái phiếu được kết nối với chức năng TTLK của nó, để trái phiếu được lưu ký ngay khi phát hành tiết kiệm thời gian và chi phí cho tổ chức phát hành và nhà đầu tư Với chức năng là một đại lý chuyển nhượng, bên cạnh việc đăng ký và quản lý chứng chỉ cổ phiếu, KSD thông báo cho cổ đông về các vấn đề liên quan đến thanh toán cổ tức, thực hiện các quyền
cổ đông đối với tổ chức phát hành
KSD có quyền cung cấp các dịch vụ đại lý chuyển nhượng gồm 3 nhóm chính: Chuyển quyền sở hữu: quản lý sổ cổ đông và sổ trái chủ, cầm cố/giải tỏa cầm cố, thông báo về thực hiện quyền, phát hành chứng chỉ, quản lý chứng chỉ chứng khoán
bị mất cắp; các dịch vụ phát hành: tư vấn tổ chức phát hành trong việc phát hành chứng khoán, cung cấp dịch vụ lưu giữ chứng chỉ chứng khoán, phát hành chứng chỉ chứng khoán và quản lý các chứng khoán trong nước được phát hành bên ngoài Hàn quốc; các dịch vụ khác như tính và thanh toán cổ tức, vốn gốc và lãi trái phiếu, thông báo cho các cổ đông về đợt phát hành mới, thanh toán cổ tức, đại hội cổ đông
Thực hiện quyền cho chứng khoán lưu ký tại KSD được thực hiện thông qua hệ thống chứng nhận người thụ hưởng (Beneficial Owner Certificate System) Các thành phần của hệ thống này bao gồm: người thụ hưởng, các thành viên lưu ký, KSD và các tổ chức phát hành Các tổ chức trong hệ thống này kết nối chặt chẽ với nhau trong việc phục vụ các dịch vụ lưu ký chứng khoán, quản lý sổ tài khoản khách hàng và thông báo các báo cáo về người thụ hưởng
Từ kinh nghiệm của các nước, ta có thể thấy, trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển TTCK, TTLK được thành lập thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước quản
lý Các tổ chức đó có thể là: Chính phủ, Bộ tài chính, UBCK, SGD Một số nước có TTCK phát triển lâu đời như Hàn Quốc thì TTLK do SGD sở hữu và quản lý Đối
Trang 28với Thái Lan, TTLK được thành lập thuộc sở hữu và chịu sự quản lý của nhà nước trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển TTCK Sau đó, TTLK được chuyển sang hoạt động theo loại hình công ty theo LDN khi TTCK phát triển ổn định với qui mô
và nhà đầu tư ngày càng lớn Tác giả nhận thấy rằng, TTLK của Thái Lan được chuyển đổi hợp lý với những bước đi thận trọng và phù hợp với sự phát triển của TTCK Các TVLK gồm: công ty chứng khoán, ngân hàng lưu ký, các tổ chức tài chính Như vậy, mỗi nước có điều kiện kinh tế-xã hội và xuất phát điểm khác nhau, nhưng nhìn chung quan điểm xây dựng và phát triển TTLK ở từng nước cũng có đặc điểm tương đồng Quan nghiên cứu mô hình TTLK các nước, tác giả cho rằng quan điểm xây dựng và phát triển TTCK, TTLK của Thái Lan rất đáng cho chúng ta tham khảo và học hỏi kinh nghiệm, đồng thời có tính đến điều kiện cụ thể của đất nước để
có bước đi phù hợp, có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, xu thế phát triển
và liên kết giữa các TTLK với các nước theo chiến lược cụ thể Nhìn chung, Việt Nam có một số thách thức nhưng cũng có nhiều thuận lợi trong giai đoạn xây dựng
và phát triển TTLK Trong đó, điểm thuận lợi nhất và quyết định là khả năng công nghệ hiện đại phục vụ cho TTLK hiện nay rất đa dạng và chất lượng tốt
Ở mỗi TTCK, các TVLK là khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị-xã hội, qui mô phát triển của mỗi TTCK mà sự hiện diện của các chủ thể liên quan cũng hoàn toàn khác nhau
Tại những TTCK phát triển mạnh và lâu đời thì các TVLK có thể bao gồm: các ngân hàng lưu ký, các công ty môi giới, các ngân hàng nước ngoài, các nhà dịch vụ lưu ký toàn cầu, các TTLK nước ngoài, các tổ chức thanh toán quốc tế, các tổ chức phát hành, các tổ chức tài chính trung gian (Qũy đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính,…), công ty đầu tư chứng khoán, ngân hàng thanh toán, hiệp hội bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán, các công ty đại chúng v.v…
Trang 29CHƯƠNG 2:
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM LƯU
KÝ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
2.1.Sự cần thiết thành lập TTLK tại Việt Nam
Theo quan điểm của Ông Nguyễn Đoan Hùng -Phó Chủ tịch UBCK: “việc thành lập TTLK tại mỗi quốc gia là một trong các khuyến nghị của nhóm G30 (nhóm tư vấn các vấn đề về tiền tệ và kinh tế quốc tế) nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện các định chế cung ứng dịch vụ trên thị trường, góp phần gia tăng sự tham gia của các tổ chức và cá nhân vào hoạt động đầu tư trên TTCK”1 Đồng thời, theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc thành lập TTLK tại Việt nam có tác dụng tích cực thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam, vào thị trường tài chính khu vực và thế giới thông qua việc cung cấp các dịch vụ tiện ích liên quan tới việc giao dịch chứng khoán giữa các thị trường Bên cạnh đó, TTLK khi đi vào hoạt động còn có vai trò tạo sự kết nối giữa các mạng lưới lưu ký với các nước trong khu vực và toàn cầu, qua đó góp phần mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động của TTCK
Nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện khung pháp lý của TTCK, nhằm thể chế hoá đường lối, chính sách và Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số163/2003/QĐ-TTg ngày 05/08/2003 về phê duyệt chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 Một trong các nội dung trong định hướng phát triển TTCK: xây dựng và phát triển TTLK nhằm cung cấp các dịch vụ đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán theo hướng hiện đại hóa; thành lập TTLK độc lập cung cấp các dịch vụ đăng ký chứng khoán, lưu ký và thanh toán cho hoạt động giao dịch chứng khoán của SGD và TTGDCK; mở rộng phạm vi lưu ký các loại chứng khoán chưa niêm yết Như vậy, có thể thấy, nhu cầu hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK nói chung và TTLK nói riêng là đòi hỏi cấp thiết
1
Ủy ban chứng khoán, TTLK - sự hoàn thiện cấu trúc hạ tầng của TTCK Việt Nam
http://ssc.gov.vn/ssc/Detail.aspx?tabid=586&ItemID=3516
Trang 30Hoàn thiện khung pháp lý cho TTLK không chỉ là đòi hỏi của các tổ chức quốc
tế áp đặt cho Việt Nam, mà chủ yếu xuất phát từ nhu cầu phát triển của thị trường trong điều kiện cụ thể của chúng ta
Tại Lễ tổng kết sau một năm hoạt động của TTLK, bà Phương Hoàng Lan Hương, Giám đốc Trung tâm, cho biết tính đến hết tháng 6/2007, TTLK đã thực hiện cấp mã số giao dịch cho trên 4.000 nhà đầu tư cá nhân và khoảng 270 tổ chức nước ngoài, nâng tổng số lượng người đầu tư nước ngoài hiện được cấp mã số giao dịch chứng khoán lên khoảng 6.000 Theo các số liệu thống kê, hiện giá trị đầu tư vào cổ phiếu của các công ty niêm yết chiếm 68% tổng giá trị đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư vào trái phiếu niêm yết chiếm 25%; còn lại là đầu tư vào trái phiếu không niêm yết và cổ phiếu không niêm yết Trong hơn 1 năm hoạt động, TTLK đã thực hiện đăng ký cho 154 loại cổ phiếu, đưa tổng số các tổ chức phát hành cổ phiếu nhận dịch vụ đăng ký và thực hiện quyền cho người sở hữu của TTLK lên 194 công ty với tổng số giá trị chứng khoán (tính theo mệnh giá) đăng ký lưu ký tại TTLK là trên 21.000 tỷ đồng Tổng số cổ phiếu lưu ký tại TTLK đạt khoảng 1.890 triệu cổ phiếu với giá trị trên 18.900 tỷ đồng (tính theo mệnh giá) Số lượng trái phiếu đang thực hiện lưu ký tại TTLK là trên 1.120 triệu trái phiếu với giá trị là 112.000 tỷ đồng và trên 30 triệu chứng chỉ quỹ Số lượng chứng chỉ quỹ là 94 triệu Hiện, số TVLK của TTLK lên tới 61 thành viên trong đó có 55 thành viên là các CTCK và 6 thành viên là các Ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại VN
Trong vài năm gần đây, Việt Nam được biết đến là một quốc gia năng động trong khu vực với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, giai đoạn 2001 – 2005 bình quân đạt 7,5%, năm 2006: 8,2% và năm 2007 dự kiến đạt trên 8.5%
Năm 2006 và năm 2007 thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp tính đến thời điểm này khoản 9,6 tỷ đô Mỹ và gián tiếp nước ngoài vào Việt nam ngoài dự kiến (khoảng trên 1 tỷ đô Mỹ) Tính đến cuối tháng 7/2007, đã có hơn 300 công ty đại chúng chưa niêm yết đăng ký với Ủy ban Chứng khoán, với tổng vốn điều lệ lên đến
Trang 31hàng chục nghìn tỷ đồng Theo tính toán của Ủy ban Chứng khoán, số lượng công ty đại chúng có thể lên đến 2.000-3.000 và quy mô tài chính lớn hơn rất nhiều so với các công ty niêm yết hiện nay Ngân hàng Hong Kong Thượng Hải mới đây cũng nhận định giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu chưa niêm yết ở Việt Nam có thể lên đến 50-60 tỷ USD, gấp 2,5-3 lần thị trường niêm yết Quy mô giao dịch của thị trường OTC cũng lớn hơn rất nhiều
Theo Ủy ban Chứng khoán, dự kiến từ tháng 11 năm nay, sẽ bắt đầu đưa cổ phiếu của các công ty đại chúng lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực chứng khoán, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng vào giao dịch tập trung Từ tháng 6 sang năm, sẽ áp dụng biện pháp này đồng loạt Khi đó, cổ phiếu OTC thay vì được mua bán trao tay trên thị trường tự do như hiện nay, sẽ phải đăng ký, lưu ký và giao dịch tập trung Năm 2006 là năm thành công và thật sự ấn tượng của Việt Nam: là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới và nhận Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ, chủ trì thành công Hội nghị cấp cao các Nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần thứ 14… góp phần nâng vị thế và uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế Tất cả những vấn đề này đã tác động không nhỏ đến sự sôi động của TTCK Việt Nam
Việt Nam phải thực hiện lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính thuộc lĩnh vực TTCK theo cam kết quốc tế và tăng cường hợp tác để hoàn thiện khung pháp lý, giám sát thị trường Thứ nhất, thực hiện chương trình hội nhập thị trường vốn ASEAN giai đoạn 2006-2010, với nội dung: thực hiện sang kiến Quỹ trái phiếu Châu Á; hài hòa tiêu chuẩn phát hành, niêm yết, công bố thông tin trên TTCK, kết nối giao dịch, niêm yết chéo giữa các SGDCK ASEAN; tiến tới hình thành thị trường thứ cấp chung cho các giao dịch trái phiếu các nước ASEAN; phấn đấu có doanh nghiệp tham gia danh sách 100 CTNY hàng đầu của các nước ASEAN Thứ hai, thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ đối với TTCK theo lộ trình đã cam kết tại các Hiệp định song phương và đa phương Thứ ba, thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên IOSCO; ký kết biên bản ghi nhớ về hợp tác song phương (MOU) với các
Trang 32UBCK trước hết trong khu vực; ký kế Biên bản ghi nhớ đa phương (MOU) với các thành viên IOSCO…
Bên cạnh sự cần thiết hoàn thiện khung pháp cho TTLK và nhu cầu phát triển của thị trường, Việt Nam còn phải nghiêm chỉnh thực hiện nhất quán đường lối, chính sách thể hiện trong các cam kết quốc tế, cụ thể là: Việt nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và bắt đầu thực hiện các cam kết kể từ ngày 11/01/2007 Trong đó, Việt Nam phải có nghĩa vụ thực hiện lộ trình cam kết về lĩnh vực dịch vụ về tài chính chứng khoán, theo đó, kể từ ngày 11/01/2013 các tổ chức nước ngoài được phép cung cấp các dịch vụ liên quan đến họat động của TTLK Trước nhu cầu phát triển TTLK là hoàn toàn khách quan, việc nghiên cúu để đưa ra những giải pháp pháp lý để xây dựng và phát triển TTLK phù hợp với pháp luật, với như cầu phát triển và có khả năng hoạt động an toàn và hiệu quả là việc cấp bách trong giai đoạn sắp tới
Như vậy, xuất phát từ yêu cầu quản lý và phát triển TTCK theo hướng hiện đại hoá và từ yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế của Chính phủ, thì việc xây dựng và phát triển TTLK theo hướng hiệu quả phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội trong nước và thực hiện lộ trình mở cửa thị trường trong đó mở của thị trường trong lĩnh vực lưu ký chứng khoán là nhu cầu cấp thiết và là đòi hỏi tất yếu
2.2.Cơ sở pháp lý cho việc thành lập TTLK tại Việt Nam
2.2.1 Mô hình tổ chức và họat động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán trước Quyết định 189
Chúng ta đều biết TTCK Việt Nam chính thức được thành lập và đi vào họat động từ tháng 7 năm 2000 Trong giai đoạn này, TTGDCK là tổ chức có nhiệm vụ
tổ chức và giám sát họat động giao dịch trên TTCK Với vị trí như thế, TTGDCK thực hiện rất nhiều họat động liên quan trên TTCK Theo đó, TTGDCK thực hiện họat động tổ chức và quản lý việc đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Ta có thể nhận thấy, đây là một nét rất đặc thù của TTCK Việt Nam vì
Trang 33TTGDCK thường là nơi tổ chức giao dịch chứng khoán khi TTCK chưa phát triển lên thành SGD Bên cạnh TTGDCK, thông thường phải có tổ chức trung gian được thành lập để hỗ trợ giao dịch cho TTGDCK về việc đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Với chức năng của TTLK lại do TTGDCK thực hiện là điều không bình thường đối với các nước, nhưng đây là điều rất phù hợp trong điều kiện xây dựng và phát triển TTCK Việt Nam
Tại TTCK Việt Nam, trong giai đoạn từ tháng 7/2000 đến trước tháng 5/2006, các chức năng về lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán do hai TTGDCK thực hiện độc lập
Trong thời gian TTGDCK đảm trách hoạt động của TTLK, do đó, họat động này do một phòng chức năng về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán thực hiện bên cạnh các phòng ban khác của TTGDCK Phòng ban này có một số chức năng và nhiệm vụ về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán, cụ thể là: tập trung hóa chứng chỉ vật chất; lưu giữ an toàn chứng chỉ chứng khoán, giao chứng khoán đồng thời với thanh toán tiền; chuyển nhượng và đăng ký chứng khoán; quản lý cầm cố chứng khoán của nhà đầu tư tại TVLK và trực tiếp cung cấp dịch vụ cầm cố cho hoạt động cầm cố tự doanh giữa các TVLK; quản lý tiền liên quan đến hoạt động lưu ký, thanh toán bù trừ và thực hiện quyền của chứng khoán lưu ký; giám sát việc tuân thủ các quy định về hoạt động lưu ký, thanh toán
bù trừ và đăng ký chứng khoán của các TVLK, các TCPH, Phòng lưu ký, thanh toán
bù trừ và đăng ký chứng khoán của TTGDCK Hà nội và ngân hàng chỉ định thanh toán; chuyển giao quyền sở hữu bằng hình thức bút toán ghi sổ; quản lý QHTTT; quản lý tỷ lệ được phép nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài
Mô hình hoạt động trong giai đọan này có một số hạn chế nhất định: Thứ nhất, TTCK ngày càng phát triển, TTGDCK cần phải tập trung thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của nó, do đó TTGDCK không thể tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ thuộc về tổ chức khác, đó là TTLK Thứ hai, việc tổ chức họat động đăng ký, lưu
ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán diễn ra tại TTGDCK Tp.HCM trước đó và
Trang 34TTGDCK Hà nội năm 2004 không có sự gắn kết với nhau Thứ ba, mô hình tổ chức theo hướng này đã gây ra sự lãng phí về mặt đầu tư và giảm hiệu quả hoạt động của TTCK nói chung; chịu sự phụ thuộc về tổ chức và hoạt động; không có sự độc lập cần thiết để tổ chức và giám sát hoạt động theo chức năng của một TTLK như không được quyền xây dựng qui chế và giám sát hoạt động cho các TVLK mà hoàn toàn do UBCK quyết định
Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc thành lập một TTLK độc lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ bù trừ, thanh toán và lưu ký, đăng ký chứng khoán cho
tất cả các thị trường, bao gồm SGDCK, TTGDCK và các loại thị trường khác
2.2.2 Mô hình tổ chức và họat động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán sau Quyết định 189
Với nhận thức về sự cần thiết thành lập TTLK bên cạnh TTGDCK có chức năng tổ chức và giám sát các hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán, Nghị định 144 đã chính thức cho phép thành lập TTLK, theo đó TTLK được coi là đơn vị sự nghiệp có địa vị pháp lý như các chủ thể pháp luật khác
Theo quan điểm của TS.Dương Đăng Huệ, bàn về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sán, cho rằng: “địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sán là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể được làm, phải làm hoặc phải gánh chịu theo qui định của pháp luật phá sản”1 Theo quan điểm của TS.Nguyễn Như Phát cho rằng “địa vị pháp lý của một pháp nhân là tổng thể các quyền và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật và các quyền và nghĩa vụ khác do tổ chức đặt ra với các bên liên quan”2 Tác giả cho rằng hai khái niêm trên được đưa ra dựa trên các dấu hiệu cơ bản của một pháp nhân theo qui định của BLDS 1995 và 2005 Tuy nhiên, khái niệm thứ nhất được xem xét trong phạm vi hẹp trong quan hệ pháp luật về phá sản Khái niệm thứ hai được xem xét dưới gốc
độ khái quát về địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật, chưa nói rõ quyền và nghĩa
Trang 35vụ của mỗi tổ chức với hình thức pháp lý khác nhau Về mặt pháp lý, quyền và nghĩa vụ của một chủ thể phát sinh trên cơ sở luật định và theo quy chế, nội qui, và Điều lệ của tố chức đó do họ lập ra trên cơ sở qui định của luật
Ngoài QĐ189, hàng loạt các văn bản pháp luật quy định cụ thể các vấn đề về
cơ cấu tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TTLK, cụ thể: Quyết định số 3195; Quyết định số 1602/QĐ-BTC (sau đây gọi là QĐ 1602) ngày 07/04/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc chuyển giao nhiệm vụ đăng ký, lưu
ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán từ các TTGDCK sang TTLK và một số văn bản liên quan khác gồm Quy chế 60; Biên bản chuyển giao hoạt động đăng ký, lưu
ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán từ các TTGDCK sang TTLK ban hành kèm theo QĐ số 229/QĐ-UBCK ngày 14/04/2006 của Chủ tịch UBCK; Quyết định 128/2007/QĐ-TTg (sau đây gọi là Quyết định 128) ngày 2/08/2007 của Thủ tướng Chính về việc phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định 87/2007/QĐ-BTC (sau đây gọi là quy chế 87) ngày 22/10/2007 của Bộ tài chính về Quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán thay thế quy chế 60 Mặc dù LCK đã có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2007, những các văn bản pháp lý trên vẫn còn hiệu lực điều chỉnh các hoạt động của TTLK
Nghị định 48 được ban hành ngay từ khi TTCK vừa đi vào hoạt động Tuy nhiên, vì nhiều nguyên khác nhau, NĐ 48 không có điều luật nào thừa nhận phải có TTLK như là một bộ phận cấu thành của TTCK Do đó, Nghị định 144 được coi là văn bản pháp lý cao nhất lần đầu tiên khẳng định vị trí của TTLK trên TTCK Theo Điều 38 qui định: TTLK do Thủ tướng quyết định thành lập có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau đây: cung cấp dịch vụ đăng ký, lưu ký chứng khoán phát hành ra công chúng và cung cấp dịch vụ bù trù, thanh toán các giao dịch chứng khoán niêm yết; giám sát các hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán của các TVLK; đăng ký giao dịch bảo đảm đối với các hợp đồng cầm cố chứng khoán lưu ký tập trung tại TTLK; cung cấp danh sách người sở hữu chứng
Trang 36khoán cho tổ chức phát hành có chứng khoán đăng ký, lưu ký; cung cấp cho TVLK các thông tin về tài khoản lưu ký chứng khoán của TVLK tại TTLK; cung cấp đầy
đủ và kịp thời cho ngân hàng chỉ định thanh toán các chứng từ cần thiết để thực hiện thanh toán tiền liên quan đến các giao dịch chứng khoán; thông báo kịp thời cho thành viên lưu ký về kết quả bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán có liên quan đến TVLK; quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ thanh toán để hỗ trợ kịp thời cho TVLK trong trường hợp TVLK mất khả năng thanh toán Thành viên của TTLK gồm các ngân hàng thương mại Việt Nam, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được UBCK cấp giấy phép lưu ký và các công ty chứng khoán có Giấy phép hoạt động môi giới hoặc tự doanh đã làm thủ tục đăng ký thành viên tại TTLK
Tuy nhiên, sau hơn 3 năm NĐ144 được ban hành, hoạt động cơ bản của một TTLK vẫn do TTGDCK quản lý và thực hiện Với quyết tâm cao của Chính phủ và khẳng định khuyến nghị của nhóm G30, QĐ189 ngày 27/07/2005 của Thủ tướng Chính phủ chính thức thành lập TTLK TTLK được thành lập theo đề nghị của Bộ trưởng tài chính và do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập TTLK trực thuộc UBCK-Bộ tài chính
Sau gần một năm chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, trụ sở, hệ thống xử
lý thông tin, tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý điều hành, nhân sự, ngày 03/05/2006 TTLK chính thức đi vào hoạt động sau khi nhận chuyển giao nhiệm vụ từ hai TTGDCK (HCM, HN) theo Quyết định 1602
Bên cạnh đó, Bộ tài chính đã ban hành Quyết định 3195 Theo đó, TTLK là tổ chức thuộc UBCK và có tư cách pháp nhân, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước ấp, được sử dụng con dấu hình quốc huy, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà nội và Chi nhánh tại Tp.HCM Giám đốc TTLK có trách nhiệm trình Chủ tịch UBCK ban hành theo thẩm quyền hoặc để Chủ tịch UBCK trình Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành và hướng dẫn quy trình nghiệp vụ về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán
Trang 37Theo Quyết định 3195, cơ cấu tổ chức của lãnh đạo TTLK gồm: Giám đốc và các phó giám đốc Giám đốc TTLK do Bổ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch UBCK và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của TTLK
Mỗi hình thức pháp lý của một tố chức sẽ có nhiệm vụ và quyền hạn tương ứng nhằm đạt được mục tiêu đạt ra của tổ chức theo từng giai đoạn nhất định Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “nhiệm vụ là công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định Quyền hạn là quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ”1
Điều 2, QĐ 3195 qui định nhiệm vụ và quyền hạn của TTLK như sau: đăng ký, lưu ký chứng khoán phát hành ra công chúng, chứng khoán niêm yết, chứng khoán đăng ký giao dịch tại SGG, TTGDCK; bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán; đại lý chuyển nhượng và thực hiện các quyền của người sở hữu chứng khoán theo ủy quyền của TCPH; các dịch vụ hỗ trợ việc giao dịch chứng khoán; đăng ký giao dịch bảo đảm; ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ áp dụng tại Trung tâm sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBCK; quản lý và sử dụng QHTTT để hỗ trợ kịp thời cho TVLK trong trường hợp TVLK tạm thời mất khả năng thanh toán theo qui định của pháp luật, thực hiện giám sát hoạt động của các TVLK Với nhiệm vụ và quyền hạn đã đặt ra, TTLK sẽ phải thực hiện theo qui định Nhiệm vụ và quyền hạn sẽ được thay đổi tương ứng khi hình thức pháp lý của TTLK thay đổi theo LCK và theo từng giai đoạn phát triển của TTCK trong thời gian tới, đồng thời có xét đến chiến lược phát triển thị trường tài chính theo QĐ128/QĐ-TTg ngày 22/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển thị trường tài chính Việt Nam từ nay đến 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
TTCK ở Việt Nam được chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 Khi đó việc tổ chức và giám sát các hoạt động lưu ký, bù trừ và thanh toán do TTGDCK TP.HCM quản lý Khi TTGDCK Hà nội (HASTC) chính thức đi vào hoạt động ngày
1
Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà nẵng, 2006
Trang 3808/03/2005, thì hoạt động lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán do HASTC thực hiện HASTC có chức năng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán, và thực hiện đăng ký chứng khoán
TTLK chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 3/5/2006 (Vietnam Securities Depository-VSD) Bộ tài chính là cơ quan quản lý cao nhất đối với UBCK, và UBCK là cơ quan quản lý chuyên môn đối với TTLK TTLK được hoạt động theo
mô hình quản lý hai cấp, trong đó TTLK là nơi lưu ký tập trung Các thành viên lưu
ký và tổ chức lưu ký thực hiện lưu ký đại diện cho các nhà đầu tư Các TVLK của TTLK gồm: công ty chứng khoán, các ngân hàng lưu ký nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được cấp phép lưu ký tại Việt Nam, và ngân hàng chỉ định thanh toán
Về mô hình hoạt động, trong thời gian đầu, hoạt động của TTLK vẫn được tổ chức theo mô hình lưu ký hiện tại, như đã được áp dụng trước đây tại TTGDCK Tp HCM và Hà Nội, đó là mô hình lưu ký hai cấp Theo đó, TTLK thực hiện quản lý tài khoản tổng hợp của các TVLK mở tại TTLK gồm chứng khoán tổng hợp thuộc sở hữu của người đầu tư và của chính các tổ chức này TVLK quản lý tài khoản lưu ký chi tiết tới từng người đầu tư Cơ sở lựa chọn mô hình này là do hệ thống quản lý 2 cấp tương đối gọn nhẹ, phù hợp với tình hình thị trường ban đầu khi mà điều kiện cơ
sở vật chất và khả năng về công nghệ xử lý thông tin tại TTLK còn hạn chế Tuy nhiên, mô hình quản lý tài khoản hai cấp ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư, vì
họ không được trực tiếp hưởng những dịch vụ tốt hơn từ TTLK nếu áp dụng mô hình quản lý tài khoản một cấp như tra cứu danh sách người sở hữu nhanh chóng phục vụ cho quyết định đầu tư
Tại Việt Nam, qui chế pháp lý liên quan đến hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ
và thanh toán chứng khoán lần lượt được ban hành và sửa đổi bổ sung bằng các quyết định khác nhau và được các cơ quan khác nhau ban hành Trong đó, theo tinh thần của NĐ 144 và Quy chế 60 và Quy chế 87 qui định: để chứng khoán niêm yết hay đăng ký giao dịch được phép giao dịch trên TTCK, chứng cần phải được lưu ký tập trung tại một nơi, nơi đó chính là TTLK Qui chế 60 được ban hành và vẫn còn
Trang 39hiệu lực, nhưng lại được ban hành trước khi TTLK được chính thức thành lập và đi vào hoạt động, và mới đây quy chế 87 được ban Do đó, trong qúa trình viện dẫn và phân tích, tác giả tạm gọi là theo tinh thần của NĐ 144, Quy chế 60 và Quy chế 87 Hoạt động đăng ký được thực thiện theo cơ chế: tất cả các chứng khoán niêm yết hoặc đăng ký giao dịch tại SGD, TTGDCK phải được đăng ký lưu ký tập trung tại TTLK Chứng khoán niêm yết tại SGD, TTGDCK làm thủ tục đăng ký tại chi nhánh TTLK Chứng khoán đăng ký giao dịch tại TTGDCK Hà nội đăng ký lưu ký tại trụ sở chính TTLK
Hoạt động lưu ký được thực hiện theo cơ chế: các chứng khoán niêm yết hoặc đăng ký giao dịch tại TTGDCK phải được lưu ký tập trung tại TTLK Các chứng khoán cùng loại được lưu ký tập trung tại TTLK dưới hình thức lưu ký tổng hợp Người sở hữu chứng khoán trở thành người đồng sở hữu chứng khoán lưu ký tổng hợp theo tỷ lệ chứng khoán được lưu ký Việc lưu ký chứng khoán của khách hàng được quản lý theo hai cấp: khách hàng lưu ký chứng khoán tại TVLK và TVLK tái lưu ký chứng khoán của khách hàng tại TTLK Các TVLK phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại TTLK Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng và các
tổ chức khác tham gia đấu thầu, đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ được trực tiếp mở tài khoản lưu ký trái phiếu Chính phủ cho chính mình tại TTLK và được nhận các dịch vụ lưu ký do TTLK cung cấp TVLK nhận thực hiện lưu ký các chứng khoán của khách hàng đứng tên mình với tư cách là người được uỷ quyền thực hiện các nghiệp vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Để lưu ký chứng khoán tại TVLK, khách hàng phải ký hợp đồng mở tài khoản lưu ký chứng khoán với TVLK TTLK nhận lưu ký chứng khoán từ các TVLK đứng tên của TTLK với tư cách là người được thành viên lưu ký uỷ quyền thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Các chứng khoán được phép lưu ký tập trung tại TTLK bao gồm các loại chứng khoán niêm yết hoặc chứng khoán đăng ký giao dịch tại TTLK và các chứng khoán khác Việc nhận gửi chứng khoán để lưu ký tập trung tại TTLK chỉ
Trang 40thực hiện đối với các đợt phát hành chứng khoán đã hoàn tất thủ tục đăng ký tại TTLK
Hoạt động bù trừ và thanh toán chứng khoán tại TTLK thực hiện theo cơ chế:
bù trừ, thanh toán chứng khoán được áp dụng cho tất cả các giao dịch chứng khoán tại TTLK Việc bù trừ các giao dịch lô chẵn và lô lớn được thực hiện theo phương thức bù trừ đa phương Phương thức bù trừ song phương chỉ áp dụng trong một số trường hợp, một số loại giao dịch nhất định theo quy định của TTLK Việc thanh toán các giao dịch lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa thành viên lưu ký là công ty chứng khoán có hoạt động tự doanh và nhà đầu tư Việc thanh toán các giao dịch chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời với thanh toán tiền Việc thanh toán các giao dịch chứng khoán phải phù hợp với số lượng chứng khoán và tiền ghi trong các chứng từ thanh toán Việc thanh toán tiền phải thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thông qua hệ thống tài khoản của thành viên lưu ký và TTLK mở tại ngân hàng chỉ định thanh toán Việc thanh toán tiền phải thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thông qua hệ thống tài khoản chứng khoán giao dịch, tài khoản bù trừ thanh toán chứng khoán đã giao dịch của thành viên lưu
ký mở tại TTLK
So với Quy chế 60, Quy chế 87 có 3 điểm mới được qui định Thứ nhất, Điều
17 qui định: về hợp đồng cung cấp dịch vụ của TTLK đối với TCPH Thứ hai, Điều
38 cho phép TVLK mất khả năng thanh toán được phép sử dụng hai cơ chế hỗ trợ vốn: QHTTT và vay tiền tại ngân hàng chị định thanh toán Thứ ba, Quy chế 87 đã thay tên gọi “TTGDCK” bằng TTLK về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán nhằm phù hợp với các qui định khác khi TTLK được chính thức thành lập Ngoài ra, Quy chế 87 vẫn không có nhiều nội dung thay đổi theo hướng hoàn thiện Do vậy, với tư cách là người nghiên cứu khoa học, tác giả phải có nhiệm
vụ ghi nhận, tổng hợp và phân tích, so sánh và hệ thống các qui định pháp luật liên quan trong quá trình hoàn thành Luận văn Vì Quy chế 87 có nhiều hạn chế tồn tại không hề khác so với Quy chế 60 đã được thay thế, nên tác giả vẫn cố gắng phân