1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

địa vị pháp lý của đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã từ thực tiễn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

88 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song nếu so với yêu cầu nhiệm vụ mới, hoạt động của đại biểu HĐND trên địa bàn Thị xãvẫn còn có không ít vấn đề đặt ra như: 1 Vai trò đại diện nhân dân của phầnnhiều đại biểu HĐND cấp xã

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS THÁI THỊ TUYẾT DUNG

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn của riêng tôi, các số liệu và kết quả

nghiên cứu trong luận văn “ Địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã từ thực

tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định, không trùng lặp với các đề tàikhác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Quảng Nam, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ ……… …… 7

1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân và đặc điểm, vaitrò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã……… 71.2 Quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhândân cấp xã……….111.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dâncấp xã……… 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM ……… … …

29

2.1 Tình hình kinh tế xã hội Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam……… 292.2 Thực tiễn về địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trên địabàn Thị xã Điện Bàn………322.3 Đánh giá chung về thực hiện địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dâncấp xã từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam………47

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ĐỂ TĂNG CƯỜNG ĐỊA

VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ……… 57

3.1 Quan điểm về việc bảm đảm tăng cường địa vị pháp lý của đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay………57

Trang 5

3.2 Các kiến nghị hoàn thiện để bảo đảm tăng cường địa vị pháp lý của đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnhQuảng Nam……… 59

KẾT LUẬN ……… …… 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 XHCN Xã hội chủ nghĩa

2 HĐND Hội đồng nhân dân

3 UBND Ủy ban nhân dân

4 UBMTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng với đội ngũ đại biểu HĐND ở nước ta

có vai trò rất lớn và quan trọng để đảm bảo phát huy dân chủ, góp phần đảm bảohoạt động của bộ máy Nhà nước hiệu lực và hiệu quả, đảm bảo quyền lực thuộc

về nhân dân Theo đó, việc đảm bảo nâng cao địa vị chính trị, pháp lý của đạibiểu HĐND các cấp là một trong nhiều nhiệm vụ cốt lõi của Nhà nước ta ở giaiđoạn mới của bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Đúng vậy, địa vịpháp lý của Đại biểu HĐND được quy định tại Điều 115 Hiến pháp năm 2013:

“Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địaphương”

Liên hệ đến tỉnh Quảng Nam nói chung và Thị xã Điện Bàn nói riêng,thực hiện chủ trương của các ủy Đảng và chính quyền Nhà nước về đổi mới đểnâng cao địa vị chính trị, pháp lý của HĐND các cấp trên địa bàn thời gian qua

đã từng bước gia tăng về chất lượng và năng lực hoạt động của đại biểu HĐND,góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực công tác HĐND ở địa phương Song nếu

so với yêu cầu nhiệm vụ mới, hoạt động của đại biểu HĐND trên địa bàn Thị xãvẫn còn có không ít vấn đề đặt ra như: (1) Vai trò đại diện nhân dân của phầnnhiều đại biểu HĐND cấp xã trên địa bàn Thị xã trên thực tế bị hạn chế và hiệuquả có giới hạn, chưa tổ chức động viên các tầng lớp nhân dân phát huy thếmạnh của địa phương phát triển kinh tế - xã hội, nên về tổng thể là chưa thực sựphát huy tốt chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo luật định; (2) HĐND cấp xãcùng với đội ngũ đại biểu của mình hoạt động còn mang tính hình thức, thiếuthực quyền và yếu về khả năng đại diện thay mặt nhân dân trong việc bàn vàquyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương, nên về thực chất còn chưa ngangtầm với địa vị vốn có của nó trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở,cũng như với yêu cầu nhiệm vụ mà nhân dân giao phó… Trong nhiều nguyên

Trang 9

nguyên nhân do thiếu các căn cứ lý luận và thực tiễn về nội dung và cách thứcthực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan dân cử các cấp nói chung vàcấp xã nói riêng cũng như thiếu cơ sở pháp lý về thẩm quyền trên thực tế củaHĐND cấp xã Chính vì thế, việc đảm bảo địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp

xã để thuận lợi trong hoạt động vừa là yêu cầu khách quan vừa là nhu cầu cấpthiết

Với những lý do nêu trên, tác giả đăng ký lựa chọn đề tài nghiên cứu

“Địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh

Quảng Nam” để thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hành chính.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Bàn về địa vị hoạt động của cơ quan dân cử các cấp nói chung và nóiriêng với địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã là các vấn đề mà các nhà lãnhđạo - quản lý, hoạch định chính sách, nhà khoa học và cả người dân luôn dành sựquan tâm lớn Do đó, trên thực tế có khá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về

nó ở nhiều khía cạnh, góc nhìn đa dạng Điển hình, các công trình nghiên cứuxoay quanh vấn đề này có thể nêu ra dưới đây:

Nguyễn Đăng Dung (1998) "Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước", Nxb Pháp lý Công trình này đề cập một cách khái quát về

vị thế, chức năng, quyền hạn của HĐND nói chung

Hoàng Huy Việt (2014), “Địa vị pháp lý và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội – qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sỹ ngành luật học,

Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Đây là công trình tập trung nghiên cứu vềđịa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội và đề xuất một số phương hướng, giảipháp để hoàn thiện hình thức tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội nhằm đónggóp vào việc nâng chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội

Nguyễn Phú Bình (2016), “Giám sát của Hội đồng nhân dân phường từ thực tiễn quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ Luật học, Học

Trang 10

động giám sát của HĐND và thực trạng về hoạt động giám sát của HĐND cấpphường ở quận Đống Đa từ năm 2011-2016, trình bày thực trạng về cơ chế giámsát của HĐND hiện nay, qua đó nêu ra một số mặt tồn tại/ bất cập trong hoạtđộng giám sát của HĐND cấp phường Từ đó đề xuất một số quan điểm, giảipháp nhằm tăng cường hoạt động giám sát của HĐND cấp phường ở quận ĐốngĐa.

Lê Minh Thông (1999), "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp", đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số

6/1999 Bài viết này nghiên cứu việc đổi mới cả hệ thống chính quyền địaphương ở các cấp nói chung

TS Văn Tất Thu (2008), "Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước

về tổ chức hợp lý chính quyền địa phương ở nước ta", đăng Tạp chí Tổ chức Nhà

nước số 12/2008; Nguyễn Ký, Nguyễn Hữu Đức, Đinh Xuân Hà (Đồng chủ

biên) (2006), Đổi mới nội dung hoạt động các cấp chính quyền địa phương trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2008), Chính quyền địa phương trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Tài liệu Hội thảo

khoa học, Tổ chức tại Hà Nội ngày 20/12

Mai Thị Chung (2001), Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Cơ quan đại diện Bộ Nội vụ tại Đà Nẵng (2011), Các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân xã các tỉnh khu vực Tây Nguyên, Đà Nẵng.

ThS Nguyễn Quốc Tuấn: Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, đăng trên Tạp chí Tổ

chức nhà nước, số 4/2004 Bài viết này nghiên cứu giải pháp chung về hệ thốngchính quyền địa phương các cấp

Trần Nho Thìn (2000), Đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy

Trang 11

ban nhân dân cấp xã, Luận án tiến sĩ; ThS Nguyễn Hoàng Anh (2003), Tổ chức

và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã trong giai đoạn hiện nay, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2003; Vũ Đức Đán (2005), "Vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân", Tạp chí Quản lý nhà nước; Nguyễn Thúy Nga (2015), Những vấn đề lý luận và thực tiễn

về Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam, Luận án tiến sĩ

chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh, Hà Nội v.v… Và nhiều công trình tài liệu khác có liên quan

Những công trình nêu trên phản ánh sự đầu tư nghiên cứu tương đối sâusắc và phong phú của giới lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học và giới nghiêncứu ở nước ta xoay quanh chủ đề đang đặt ra và chúng có giá trị kế thừa thamkhảo tốt Tuy vậy, việc nghiên cứu chủ đề này trên địa bàn Thị xã Điện Bàn chođến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu trùng lặp Hơn nữa, vấn đề địa vịpháp lý của đại biểu HĐND cấp xã từ thực tiễn cấp huyện đang là chủ đề cầntiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, nên nó có ý nghĩa thời sự cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các kiến nghị giải pháp hoàn thiện việc bảo đảm tăng cường địa vịpháp lý của đại biểu HĐND cấp xã giai đoạn hiện nay, từ thực tiễn Thị xã ĐiệnBàn, tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã

- Phân tích đánh giá thực trạng về địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp

xã từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ở thời gian qua

- Đề xuất các kiến nghị giải pháp hoàn thiện việc bảo đảm tăng cường địa

Trang 12

vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã giai đoạn hiện nay, từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn

để nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong trong khoa học xãhội – nhân văn, cụ thể: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương phápphân tích văn bản, thu thập thông tin; phương pháp cấu trúc hệ thống; phân tíchlogic tổng hợp, thống kê so sánh; phương pháp chuyên gia; phương pháp diễngiải và quy nạp

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hệ thống hóa làm rõ hơn cơ sở lý luận

về địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã Đồng thời, đề xuất một số định

hướng để bảo đảm nâng cao địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã giai đoạnhiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ tình hình thực tiễn và thực trạng về địa vị pháp lý của đại biểu HĐNDcấp xã cấp xã trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, luận văn cung cấp luận cứ khoa họcnhằm đề xuất các kiến nghị giải pháp hoàn thiện việc bảo đảm tăng cường địa vịpháp lý của đại biểu HĐND cấp xã giai đoạn hiện nay, từ thực tiễn Thị xã ĐiệnBàn

Ngoài ra, đóng góp của kết quả luận văn nhằm cung cấp tài liệu thamkhảo cho các cấp chính quyền địa phương và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở lĩnh vựcliên quan đến cơ quan quyền lực địa phương, HĐND các cấp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý về địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã

Chương 2 Thực trạng về địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã từ thực tiễn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu HĐNDcấp xã

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân và đặc điểm, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

1.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý đại biểu Hội đồng nhân dân

Thuật ngữ địa vị pháp lý được hiểu là vị trí của chủ thể pháp luật trongmối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật.Theo đó, địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật được thể hiện thành một tổng thểcác quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể theo quy định của Hiến pháp và phápluật, mà qua đó xác lập cũng như giới hạn thẩm quyền của chủ thể trong các hoạtđộng của mình

HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quanquyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làmchủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhànước cấp trên (Khoản 1, Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm2015) Nên vấn đề mấu chốt của HĐND là phải bao gồm những con người ưu tú

do cử tri ở địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dânphải luôn là đầy tớ trung thành của Nhân dân đại biểu HĐND là người đại diệncho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử triđịa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu củamình (Khoản 2, Điều 6 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015)

Do đó, đại biểu HĐND được hiểu là đội ngũ những con người ưu tú do cử tri ở địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.

Với đại biểu HĐND cấp xã, đó chính là đội ngũ những con người ưu tú do

Trang 15

cử tri ở địa phương cấp xã bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhândân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND cấp xã

về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình

Như vậy, địa vị pháp lý của đại biểu HĐND được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật về vị trí, chức năng và quyền hạn của đại biểu HĐND,

mà qua đó xác lập cũng như giới hạn thẩm quyền của đại biểu HĐND trong các hoạt động của mình.

1.1.2 Đặc điểm của đại biểu HĐND cấp xã

Đại biểu HĐND cấp xã có những đặc điểm sau:

Một là, đại biểu HĐND cấp xã có đặc điểm là những công dân ưu tú sinh

sống tại địa phương là chủ yếu, xuất thân từ các hiệp hội, doanh nghiệp, nhữngcán bộ hưu trí, những cán bộ, công chức ở cấp xã; nhưng cũng có thể là nhữngngười dân bình thường có uy tín của cộng đồng Đặc điểm này không chỉ thểhiện họ có sự gắn bó mật thiết với nhân dân, mà còn có mối quan hệ trực tiếp vớigia đình, người thân, họ tộc ở địa phương (phản ánh mối quan hệ của họ vừa cótính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn)

Hai là, đại biểu HĐND cấp xã được nhân dân tín nhiệm bầu ra thông qua

bầu cử (được nhân dân ở địa phương cấp xã ủy quyền và được Hiến pháp, luậtghi nhận sự ủy quyền này), nên hoạt động của họ vừa mang tính nhà nước, vừamang tính xã hội bởi tính đại diện và địa vị pháp lý của đại biểu dân cử mà Hiếnpháp và pháp luật quy định Song đại bộ phận đại biểu HĐND cấp xã ở nước takhông phải là đại biểu chuyên trách (duy chỉ có Phó Chủ tịch HĐND cấp xã làđại biểu chuyên trách) Đặc điểm này đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối vớinhiệm vụ đại biểu dân cử

Ba là, đại biểu HĐND cấp xã có phạm vi hoạt động bao quát các lĩnh vực

kinh tế - văn hóa - xã hội ở địa phương với khối lượng công việc nhiều Bởi cấp

xã là đầu mối giải quyết trực tiếp nhiều vấn đề của người dân sinh sống tại địa

Trang 16

bàn cơ sở (khác với cấp huyện, cấp tỉnh) Quy mô quản lý cấp xã tuy nhỏ hơn,song lại có nhiều vấn đề phát sinh đột xuất mà nếu chậm giải quyết sẽ trở thànhvấn đề phức tạp hơn Nên đòi hỏi phương thức hoạt động của đại biểu HĐNDcấp xã là đa dạng để đáp ứng nhiệm vụ đại biểu dân cử Hơn nữa, các hoạt độngcủa đại biểu HĐND cấp xã luôn là tâm điểm của sự quan tâm từ nhân dân vàchính quyền, nên yêu cầu khách quan họ bên cạnh phải am hiểu sâu thực tiễn, đềcao phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết, cống hiến thì phải có đủ bảnlĩnh, năng lực và các kỹ năng phù hợp với đặc thù hoạt động của cơ quan dân cử(như: kỹ năng giao tiếp, thu thập thông tin và phân tích vấn đề; kỹ năng phảnbiện, chính kiến độc lập trong phát biểu, biểu quyết, quyết định trong HĐND) đểthực hiện các chức năng của HĐND cấp xã.

Bốn là, tính nhân dân, tính quyền lực nhà nước và tính chính trị XHCN

luôn thống nhất trong hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã Đặc điểm này đòihỏi phương thức hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã phải phù hợp Bởi đạibiểu HĐND cấp xã vừa là người đại diện thay mặt nhân dân thực hiện quyền lựcnhà nước ở địa phương, vừa phản ánh trực tiếp bản chất của Nhà nước Songsong với đó, hoạt động của họ mang tính định hướng chính trị XHCN thông quacác hoạt động cụ thể của mình để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảngthành chính sách pháp luật Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN hiện nay, việc thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật XHCNcàng trở thành một trong những phương thức lãnh đạo có ý nghĩa và tầm quantrọng đặc biệt

1.1.3 Vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Nhân tố quyết định trực tiếp đối với chất lượng, hiệu quả hoạt động củaHĐND thì tuỳ thuộc rất lớn vào hoạt động của đại biểu HĐND Trong khi quyềnnăng, phạm vi và kết quả hoạt động của đại biểu HĐND luôn gắn liền với địa vịpháp lý của đại biểu HĐND xác định Cho nên địa vị pháp lý của đại biểuHĐND có vai trò quan trọng và trực tiếp quyết định hiệu lực, hiệu quả trong việc

Trang 17

thực hiện các chức năng, nhiệm vụ hoạt động của HĐND Hơn nữa, xuất phát vịthế đại biểu HĐND các cấp (trong đó gồm cả cấp xã) là chủ thể trung tâm, là hạtnhân giữ vai trò then chốt trong mọi hoạt động của HĐND, nên hoạt động củađại biểu HĐND cấp xã có ý nghĩa quan trọng có thể tác động trực tiếp, toàn diệnđến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Với vai trò của đại biểu HĐND cấp

xã được thể hiện như sau:

Một là, đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân

dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân địa phương Do đó, đại biểuHĐND phải có liên hệ gắn bó chặt chẽ và mật thiết với cử tri để thu thập và phảnánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của cử tri và nhân dân; là cầu nối kết chặtmối quan hệ bền vững giữa chính quyền nhà nước với ý chí, nguyện vọng củanhân dân và tập hợp ý kiến của cử tri và nhân dân đến được với cơ quan quyềnlực Nhà nước trở thành chính sách, pháp luật mở đường cho sự phát triển bềnvững kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh cũng như đáp ứng được ý chí,nguyện vọng của nhân dân

Hai là, đại biểu HĐND cấp xã thực hiện quyền chất vấn/ đề nghị giải

trình, tham gia thảo luận những vấn đề quan trọng của địa phương (như: thu chingân sách, đầu tư, các công trình trọng điểm ở địa phương, ) để đi tới đồngthuận và quyết định theo đa số về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn củaHĐND cấp xã Mặt khác, đại biểu HĐND cấp xã thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri,báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu,kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc và giúp việc giải quyết khiếu nại, tố cáocủa nhân dân Ngoài ra, đại biểu HĐND có trách nhiệm phổ biến và vận độngNhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghịquyết của HĐND, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước

Tóm lại, vai trò quan trọng của đại biểu HĐND cấp xã chính là trực tiếpthực thi quyền lực nhà nước tại cơ sở và tạo cầu nối bền chặt giữa Nhà nước và

nhân dân địa phương V.I Lênin đã từng chỉ ra, đó là những người “Tự mình

Trang 18

công tác, tự mình áp dụng những luật pháp của mình, tự mình kiểm tra lấy những tác dụng của luật pháp ấy, tự mình chịu trách nhiệm trước cử tri của mình” [11; tr.375] Có như vậy, mới có thể phòng tránh các khuyết điểm ví như Gi.X Min, một triết gia ở thế kỷ XIX từng nói: “Một Quốc hội có thể làm được

gì tốt đẹp, nếu các đại biểu Quốc hội của nó bị mua chuộc, hay tính dễ bị kích động của họ không được điều chỉnh bởi kỷ luật công cộng hoặc tính tự kiềm chế khiến họ không có khả năng thận trọng và bình tĩnh và phải dùng đến bạo lực tay chân trên sàn nhà Quốc hội”.[13]

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Hiến pháp năm 2013 đã quy định về địa vị pháp lý của HĐND, đó là: cơquan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng vàquyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịutrách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên HĐNDquyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiếnpháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND (Điều113)

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (có hiệu lực từ ngày01/01/2016) đã góp phần thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 về địa vị pháp lý củaHĐND Với đại biểu HĐND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã quyđịnh rõ tiêu chuẩn chung, đó là: “Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiếnpháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính,chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấutranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền

và các hành vi vi phạm pháp luật khác Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủnăng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đạibiểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của HĐND Liên hệ chặt chẽ với Nhân

Trang 19

dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm” (Điều 7).

Về quy mô đại biểu HĐND cấp xã mới đây được Quốc hội quy định tạiĐiểm 1, Khoản 10 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổchức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019:

HĐND xã gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở xã bầu ra Việc xác định tổng số đại biểu HĐND xã được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: a) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 2000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; b) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên 2000 dân đến dưới 3000 dân được bầu 19 đại biểu; c) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 3000 dân đến 4000 dân được bầu 21 đại biểu; có trên 4000 dân thì cứ thêm 1000 dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu; d) Xã không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này có từ 5000 dân trở xuống được bầu 25 đại biểu; có trên 5000 dân thì cứ thêm 2500 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu.

Đối với HĐND phường thì quy mô đại biểu theo pháp luật hiện hành,HĐND phường gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở phường bầu ra Việc xácđịnh tổng số đại biểu HĐND phường được thực hiện theo nguyên tắc sau: a)Phường có từ 10000 dân trở xuống được bầu 21 đại biểu; b) Phường có trên

10000 dân thì cứ thêm 5000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số

không quá 30 đại biểu (Điểm 1, Khoản 18 Điều 58 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019).

Trang 20

Bảng 2.1: Cơ cấu quy mô đại biểu HĐND phường theo pháp luật

hiện hành

Tổng số đại biểu HĐND

Luật số 47/2019/QH14Luật Tổ chức Luật sửa đổi, bổ sung

Đơn vị hành chính chính quyền một số điều của Luật

Với quy định này và bốn tiêu chuẩn căn bản đối với đại biểu HĐND cấp

xã đặt ra yêu cầu trách nhiệm cao trong ứng cử, đề cử, hiệp thương, giới thiệu.Đây là tiền đề pháp lý để cử tri lựa chọn bầu cử đại biểu tương xứng để đảm bảođịa vị pháp lý của đại biểu dân cử và HĐND ở giai đoạn mới

Địa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã gắn liền với tham gia triển khainhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã, được quy định tại Điều 61 Luật tổ chứcchính quyền địa phương 2015: (1) Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộcnhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã; (2) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủtịch HĐND và Phó Chủ tịch HĐND cấp xã, Trưởng ban và Phó ban của HĐNDcấp xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và

Trang 21

địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách phường; điều chỉnh dự toán ngân sách cấp xãtrong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp xã Quyết địnhchủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã theo quy định củapháp luật; (4) Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việcthực hiện nghị quyết của HĐND cấp xã; giám sát hoạt động của Thường trựcHĐND cấp xã, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp xã; giám sát văn bản quyphạm pháp luật của UBND cùng cấp; (5) Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tínnhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND cấp xã bầu theo quy định tại điều 88

và điều 89 của luật này; (6) Bãi nhiệm đại biểu HĐND cấp xã và chấp nhận việcđại biểu HĐND cấp xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu; (7) Bãi bỏ một phần hoặctoàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch HĐND cấp xã

Mặt khác, Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 của Quốc hội về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương) đã tăng cường địa vị pháp lý của Phó Chủ tịch HĐND xã là

đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách (tại điểm 2, khoản 10 thuộc Điều 2 củaLuật số 47/2019/QH14)

Sự cụ thể hóa quyền hạn, trách nhiệm đại biểu HĐND cấp xã như sau:

1.2.1 Quyền hạn của đại biểu HĐND cấp xã

Với tư cách là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địaphương, đại biểu HĐND cấp xã có các quyền hạn:

Trong thời gian HĐND họp, đại biểu HĐND gửi chất vấn đến Thường

Trang 22

trực HĐND cùng cấp Người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND tại kỳ họp đó.Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì HĐND có thể quyết định cho trả lờitại kỳ họp sau của HĐND hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chấtvấn và Thường trực HĐND.

Trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND, chất vấn của đại biểu HĐNDđược gửi đến Thường trực HĐND cùng cấp để chuyển đến người bị chất vấn vàquyết định thời hạn trả lời chất vấn.”

Như vậy, đối với đại biểu HĐND cấp xã có quyền chất vấn Chủ tịchHĐND cấp xã, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND và Thủ trưởng cơquan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp Người bị chất vấn phải trả lời vềnhững vấn đề mà đại biểu HĐND cấp xã chất vấn Trong thời gian HĐND cấp

xã họp, đại biểu HĐND cấp xã gửi chất vấn đến Thường trực HĐND cùng cấp.Người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND cấp xã tại kỳ họp đó Với trường hợpcần điều tra, xác minh thì HĐND cấp xã có thể quyết định cho trả lời tại kỳ họpsau của HĐND cấp xã hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn

và Thường trực HĐND cấp xã Trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND cấp xã,chất vấn của đại biểu HĐND cấp xã được gửi đến Thường trực HĐND cùng cấp

để chuyển đến người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn

- Quyền yêu cầu cung cấp thông tin:

Theo quy định của Điều 99 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015:khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu HĐND có quyền yêucầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm

vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó Người đứng đầu cơ quan, tổchức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu HĐND yêucầu theo quy định của pháp luật

Như vậy, đối với đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu cung cấp thôngtin liên quan đến hoạt động của HĐND cấp xã và được quyền yêu cầu các cơquan chức năng cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của mình

Trang 23

UBND cấp xã, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức ở địaphương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp

tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi tiếp xúc cử tri và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng của các đại biểu HĐND cấp xã

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặttrận tạo điều kiện để đại biểu HĐND cấp xã tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến,nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với HĐND cấp xã

- Quyền kiến nghị:

Hiến pháp 2013 quy định: “”Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị với các

cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương Người đứng đầu cơ quan, tổchức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị củađại biểu” (Khoản 2, Điều 115)

Luật hóa quy định này, tại Điều 97 Luật Tổ chức chính quyền địa phươngnăm 2015 quy định:

“Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối vớingười giữ chức vụ do HĐND bầu, tổ chức phiên họp bất thường, phiên họp gửicủa HĐND và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết Kiếnnghị của đại biểu HĐND được gửi bằng văn bản đến Thường trực HĐND, trong

đó nêu rõ lý do, nội dung kiến nghị

Thường trực HĐND có trách nhiệm tổng hợp, xử lý các kiến nghị của đạibiểu HĐND theo thẩm quyền và báo cáo HĐND trong các trường hợp quy địnhtại khoản 3 Điều này hoặc trong trường hợp khác mà Thường trực HĐND xétthấy cần thiết Với trường hợp có từ một phần ba tổng số đại biểu HĐND trở lênkiến nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với một người giữ chức vụ do HĐNDbầu, kiến nghị HĐND họp bất thường hoặc họp kín thì Thường trực HĐND báocáo để HĐND xem xét, quyết định

Số lượng kiến nghị cần thiết quy định tại khoản 3 Điều này là tổng số kiếnnghị mà Thường trực HĐND tiếp nhận được trong khoảng thời gian từ ngày khai

Trang 24

mạc kỳ họp này đến trước ngày khai mạc kỳ họp tiếp theo hoặc đến trước ngàytiến hành phiên họp HĐND về nội dung có liên quan trong trường hợp đại biểuHĐND kiến nghị HĐND tổ chức phiên họp kín.

Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị thi hành chính sách, pháp luật củaNhà nước, kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần thiết

để thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyềncon người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”

Ngoài ra, đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND có tính cấpbách, cần quyết định ngay, phát sinh tại địa phương trong thời gian giữa 02 kỳhọp thường lệ, khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND yêu cầu thìThường trực HĐND triệu tập kỳ họp HĐND bất thường để xem xét, quyết định(được quy định tại khoản 1, Điều 2 của Nghị quyết 629/2019/UBTVQH14 ngày

30-01-2019 về việc Hướng dẫn một số hoạt động của HĐND).

Như vậy, đối với đại biểu HĐND cấp xã có quyền kiến nghị với cơ quannhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn

đề thuộc lợi ích chung Cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị củađại biểu Đại biểu HĐND cấp xã có quyền đề nghị HĐND cấp xã bỏ phiếu tínnhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND cấp xã bầu

- Quyền yêu cầu chấm dứt các hành vi trái pháp luật:

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Khi phát hiện

có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơquan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứthành vi vi phạm pháp luật Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầucủa đại biểu HĐND thì cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng vănbản cho đại biểu HĐND biết Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lờithì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trênxem xét, giải quyết” (Điều 98)

Trang 25

Như vậy, đối với đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu cơ quan nhànước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứtnhững việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức,đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó Khiđại biểu HĐND cấp xã yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan nhà nước, tổchức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân thì người đó có tráchnhiệm tiếp.

- Quyền giới thiệu và bầu cử:

Căn cứ quy định của Hướng dẫn số 1138/HD-UBTVQH13 ngày

03-6-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Hướng dẫn một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất của HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, đại biểu HĐND

cấp xã có quyền giới thiệu và bầu cử các chức vụ sau:

+ Bầu Chủ tịch HĐND cấp xã trong số các đại biểu HĐND cấp xã theo sựgiới thiệu của Chủ tọa kỳ họp

+ Bầu Phó Chủ tịch HĐND cấp xã, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của cácBan của HĐND cấp xã trong số các đại biểu HĐND cấp xã theo sự giới thiệu củaChủ tịch HĐND cấp xã khóa mới

+ Bầu Chủ tịch UBND cấp xã trong số các đại biểu HĐND cấp xã theo sựgiới thiệu của Chủ tịch HĐND cấp xã khóa mới

+ Bầu Phó Chủ tịch và các Ủy viên của UBND cấp xã theo sự giới thiệu của Chủ tịch UBND cấp xã khóa mới

Khi HĐND cấp xã tiến hành bầu các chức danh nêu ở các điểm 1, 2, 3, 5,

6 và 7 ở mục a thuộc nội dung thứ 5 của Hướng dẫn số 1138/HD-UBTVQH13,nếu có đại biểu HĐND cấp xã tự ứng cử hoặc giới thiệu thêm người ứng cửngoài danh sách đã được người có thẩm quyền giới thiệu thì Chủ tọa kỳ họp trìnhHĐND cấp xã xem xét, quyết định số lượng, danh sách những người ứng cử vàochức danh đó bằng hình thức biểu quyết giơ tay hoặc biểu quyết bằng hệ thốngđiện tử

Trang 26

- Quyền nhân thân (quyền miễn trừ của đại biểu HĐND cấp xã):

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: Cơ quan cóthẩm quyền không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu HĐND, khám xét nơi ở

và nơi làm việc của đại biểu HĐND nếu không có sự đồng ý của HĐND n hoặctrong thời gian HĐND không họp, không có sự đồng ý của Thường trực HĐND.Trường hợp đại biểu HĐND bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữphải lập tức báo cáo để HĐND hoặc Thường trực HĐND xem xét, quyết định(Điều 100)

Như vậy, quyền miễn trừ đối với đại biểu HĐND cấp xã, trong thời gianHĐND cấp xã họp, nếu không được sự đồng ý của Chủ tọa kỳ họp thì khôngđược bắt giữ đại biểu HĐND cấp xã Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trongtrường hợp khẩn cấp mà đại biểu HĐND cấp xã bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnhtạm giữ phải báo cáo ngay với Chủ tọa kỳ họp

Giữa hai kỳ họp HĐND cấp xã, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ralệnh tạm giữ đại biểu HĐND cấp xã thì phải thông báo cho Chủ tịch HĐNDcùng cấp

- Quyền xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu:

Đại biểu HĐND cấp xã có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sứckhoẻ hoặc vì lý do khác Việc chấp nhận đại biểu HĐND cấp xã xin thôi làmnhiệm vụ đại biểu do HĐND cùng cấp xét và quyết định Ngoài ra, Luật Tổ chứcchính quyền địa phương năm 2015 cũng quy định về các điều kiện đảm bảo chohoạt động của đại biểu HĐND các cấp (bao gồm cả đại biểu HĐND cấp xã) đểđại biểu có thể hoàn thành trách nhiệm của mình, cụ thể:

“Đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách được bố trí nơi làm việc, đượctrả lương, phụ cấp và hưởng các chế độ để hỗ trợ cho hoạt động của đại biểuHĐND

Đại biểu HĐND hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất 1/3 thờigian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND

Trang 27

Thời gian làm việc trong năm mà đại biểu HĐND hoạt động không chuyên tráchdành cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu được tính vào thời gian làm việc củađại biểu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị mà đại biểu làm việc và được bảo đảm trảlương, phụ cấp, các chế độ khác do cơ quan, tổ chức, đơn vị đó đài thọ Ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm sắp xếpcông việc, tạo điều kiện cần thiết cho đại biểu HĐND làm nhiệm vụ.

UBND các cấp, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng của đại biểu HĐND Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chứcthành viên của Mặt trận tạo điều kiện để đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri, thu thập

ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của Nhân dân với HĐND

Đại biểu HĐND được cấp hoạt động phí hằng tháng và được hỗ trợ cácđiều kiện cần thiết khác cho hoạt động đại biểu” (Điều 103)

1.2.2 Trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã

Trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã với cử tri và nhân dân được xemxét ở hai khía cạnh căn bản:

Một là, trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã với cử tri và Nhân dân

được thể hiện qua trách nhiệm chung của HĐND Ở khía cạnh này, HĐND quyếtđịnh các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp

và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND

Hai là, trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã với cử tri và Nhân dân

được thể hiện qua trách nhiệm của từng đại biểu HĐND cấp xã Hiến pháp năm

2013 quy định: “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng củaNhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cửtri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và củaHĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo của Nhân dân Đại biểu HĐND có nhiệm vụ vận độngnhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của HĐND,

Trang 28

động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước” (khoản 1, Điều 115).

- Về trách nhiệm đại biểu HĐND cấp xã đối với cử tri:

Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dânđịa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế

độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lờinhững yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo (Khoản 1, Điều 115 của Hiến pháp 2013) Từ cơ sở này được cụ thể hóatại Điều 94 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định: “Đại biểuHĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự giámsát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyệnvọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiệnchế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt độngcủa mình và của HĐND nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghịcủa cử tri Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm báo cáo với

cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND,vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó”

Như vậy, trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã đối với cử tri, đó là:+ Đại biểu HĐND cấp xã phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ramình, chịu sự giám sát của cử tri và nhân dân ở địa phương, có trách nhiệm thuthập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐNDcấp xã và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương

+ Mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri, đại biểuHĐND cấp xã báo cáo với cử tri ở đơn vị bầu ra mình về hoạt động trong năm,nhiệm vụ năm tới của mình và của HĐND cấp xã

+ Sau mỗi kỳ họp HĐND cấp xã, đại biểu dân cử có trách nhiệm báo cáovới cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết củaHĐND cấp xã, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó

Tại kỳ họp HĐND cấp xã, đại biểu HĐND cấp xã có nhiệm vụ chấp hành

Trang 29

nội quy kỳ họp, tham dự đầy đủ kỳ họp, phiên họp của HĐND cấp xã, dự thảoluận tại kỳ họp HĐND cấp xã, cuộc họp Ban của HĐND cấp xã mà đại biểu làthành viên, tham gia các hoạt động khác của HĐND cấp xã Khi nhận đượcthông báo về thời gian, dự kiến chương trình và tài liệu kỳ họp, đại biểu HĐNDcấp xã phải nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc cử tri, tham gia các hoạt động của Tổ đạibiểu HĐND cấp xã chuẩn bị cho kỳ họp HĐND cấp xã Trong kỳ họp HĐNDcấp xã, đại biểu HĐND cấp xã tham gia thảo luận và quyết định chương trình kỳhọp; Thảo luận tại phiên họp toàn thể và thảo luận ở Tổ đại biểu HĐND cấp xã

về các vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp; Biểu quyết thông qua nhữngvấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp

- Về trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã trong việc tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân:

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015: “Đại biểu HĐND cótrách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật Khi nhận được khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, kịpthời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếunại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết Người

có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Hội đồng nhân dân về kếtquả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do phápluật quy định Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị không đúng pháp luật, đại biểu HĐND có quyền gặp người đứng đầu cơquan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết,đại biểu HĐND yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trựctiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết” (Điều 95)

Như vậy, đối với trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã, đó là:

+ Trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu HĐND cấp xã có nhiệm vụtiếp xúc cử tri ở đơn vị bầu cử của mình, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhândân với HĐND cấp xã và các cơ quan Nhà nước, báo cáo kết quả kỳ họp với cử

Trang 30

tri, tuyên truyền thực hiện tốt pháp luật Mới đây, Nghị quyết629/2019/UBTVQH14 ngày 30-01-2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về

việc Hướng dẫn một số hoạt động của HĐND đã quy định: “Thường trực HĐND

cấp xã phân công đại biểu HĐND cấp mình trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tiếp xúc

cử tri tại thôn, tổ dân phố và giúp Thường trực HĐND cấp xã tiếp nhận thôngtin, trao đổi, thảo luận tại kỳ họp HĐND cấp xã” (Điều 6)

+ Đại biểu HĐND cấp xã tiếp công dân nhằm thu thập và tập hợp các ýkiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dânthực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật

+ Khi nhận được ý kiến, kiến nghị của công dân, đại biểu HĐND cấp xãxem xét, nghiên cứu để phản ánh tới Thường trực HĐND cấp xã hoặc chuyểnđến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

+ Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu HĐND cấp xã

có trách nhiệm nghiên cứu và hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo đếnđúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết Trong trường hợp cầnthiết, đại biểu HĐND cấp xã trực tiếp hoặc thông qua Thường trực HĐND cùngcấp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét giải quyết.Đại biểu HĐND cấp xã có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

+ Đại biểu HĐND cấp xã tiếp công dân phải tổng hợp ý kiến, kiến nghị,đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân để báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về trách nhiệm tiếp công dân của đại biểudân cử, ngày 15-5-2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết

759/2014/UBTVQH13 quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND và đại biểu HĐND các cấp Theo

đó, đại biểu HĐND các cấp (trong đó có cấp xã) có trách nhiệm tiếp công dân

Trang 31

đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Chủ tịch HĐND các cấp có tráchnhiệm tổ chức để đại biểu HĐND cấp xã cấp mình tiếp công dân.[36]

Đại biểu HĐND cấp xã thực hiện việc tiếp công dân theo lịch tiếp côngdân đã được công bố Trường hợp không thể thực hiện được việc tiếp công dântheo lịch tiếp công dân đã được công bố do có lý do chính đáng thì đại biểuHĐND cấp xã có trách nhiệm thông báo đến Chủ tịch HĐND cấp xã để điềuchỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân

- Về trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã tham dự kỳ họp HĐND:

Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định: “Đại biểu HĐND

có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND, tham gia thảo luận

và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND Theo đó, tráchnhiệm của đại biểu dân cử là phải bố trí đủ thời gian cho hoạt động của HĐND,tham gia đầy đủ các kỳ họp thảo luận, biểu quyết, giám sát theo đúng quy địnhcủa pháp luật, bảo đảm trí tuệ và hiệu quả Nếu đại biểu HĐND không tham dự

kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch HĐND.Trường hợp đại biểu HĐND không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm màkhông có lý do thì Thường trực HĐND phải báo cáo HĐND để bãi nhiệm đạibiểu HĐND đó” (Điều 93)

- Ngoài ra, trách nhiệm của đại biểu HĐND cấp xã còn phải có nhiệm vụvận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước,nghị quyết của HĐND, động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước Bản thân

họ phải tự trau dồi phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống, nâng cao trình độ,rèn luyện kỹ năng giám sát, kỹ năng tiếp xúc cử tri, kỹ năng tổng hợp, phântích…phát huy tinh thần trách nhiệm được pháp luật quy định và nhân dân trựctiếp giao cho

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Trang 32

Hiệu lực của hệ thống pháp luật là yếu tố cơ bản để xác lập địa vị pháp lýcủa đại biểu dân cử trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ởnước ta Theo đó, vấn đề trước hết và quan trọng hàng đầu là phải đảm bảo hoànthiện việc ban hành đầy đủ, đồng bộ các quy định pháp luật về cơ cấu, tổ chức,chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, phương thức hoạt động và các biện pháp bảođảm cho hoạt động của HĐND cấp xã cũng như của đại biểu HĐND cấp xã mộtcách cụ thể và dễ áp dụng, mà không phải chờ quá nhiều các văn bản dưới luậtquy định về hướng dẫn thực hiện…

Mặt khác, các đại biểu phải được lựa chọn bởi thể chế bầu cử trực tiếp, tự

do, bình đẳng, minh bạch thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu theo nguyên tắc

bỏ phiếu kín có sự kiểm soát/ giám sát chặt chẽ Việc thực hiện quyền bầu cử,trưng cầu dân ý, bãi nhiệm đại biểu… nếu được tổ chức theo các nguyên tắc dânchủ trực tiếp sẽ đảm bảo lựa chọn ra các đại biểu thật xứng đáng Pháp luật dânchủ trực tiếp, như pháp luật bầu cử phải có các quy định cụ thể về thời gian bầu

cử, về cách thức tổ chức các đơn vị bầu cử, tổ chức hệ thống khuyến khích người

ra ứng cử, quy định chế độ chịu trách nhiệm của người được bầu với cử tri Cácquy định này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của đại biểu

1.3.2 Vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí và sử dụng nhân sự của HĐND cấp xã

Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng chính là yếu tố mở đường, là điều kiện cốtyếu để định hướng chính trị XHCN đối với hoạt động của HĐND cấp xã, tạođiều kiện nâng cao vị thế cơ quan dân cử và đại biểu HĐND cấp này Trong đó,chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, lựa chọn và bốtrí cán bộ để cơ cấu/ giới thiệu nhân sự xứng đáng (chuẩn trình độ và có uy tín)sang tham gia công tác HĐND cấp xã cần đặc biệt coi trọng Đây cũng là nhân tốquyết định để nhiệm kỳ HĐND cấp xã hoàn thành tốt trọng trách mà nhân dângiao cho Yêu cầu đặt ra đối với các cấp ủy Đảng phải chú trọng thực hiệnnghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; phải chủ động trong công tác quy

Trang 33

hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và dự kiến bố trí cán bộ HĐND một cách thấu đáo, công tâm, khách quan

Ngoài ra, cần đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng ủy cấp xã hướng tập trungviệc điều phối hợp lý giữa HĐND với các cơ quan, tổ chức cùng cấp để đạt đến

sự thống nhất đồng bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương.Các cấp ủy Đảng chỉ nên thực hiện chức năng lãnh đạo HĐND dựa trên các chủtrương định hướng và công tác kiểm tra việc thực hiện định hướng chính trị đó

1.3.3 Chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã

Chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã một khi tương xứng với chức tráchnhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND là yếu tố để đáp ứng yêu cầu thực thiđịa vị pháp lý của đại biểu dân cử ở cấp này Hơn nữa, các hoạt động của đạibiểu HĐND cấp xã luôn là tâm điểm của sự quan tâm từ nhân dân và chínhquyền, nên chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã rất quan trọng, chúng được thểhiện ở:

Một là, trình độ học vấn của đại biểu HĐND cấp xã là tiêu chí nền tảng

quan trọng để nhận thức, tiếp thu chủ trương đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước cũng như có khả năng đánh giá được thực tiễn cụ thể củađịa phương

Hai là, trình độ chuyên môn, trình độ dân luật của đại biểu HĐND cấp xã

giúp cho họ có đủ kiến thức chuyên môn và am hiểu chính sách pháp luật nhấtđịnh để tham gia hoạt động, đặc biệt khi tham gia quyết định một vấn đề nào đócủa địa phương Bên cạnh đó, chất lượng đại biểu dân cử còn được đo bằng trình

độ chính trị của họ, biểu thị ở lập trường và bản lĩnh chính trị để hoạt động của

họ - vì mục tiêu cách mạng và trung thành với quyền lợi nhân dân sẽ vận độngđược người dân thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước; còn nếu ngược lại thì sẽ nguy cơ thoái hoá, biến chấtbởi động cơ và lợi ích cá nhân, sẽ ảnh hưởng làm suy giảm uy tín của Nhà nước

Trang 34

cũng như đánh mất sự tín nhiệm và lòng tin ở cử tri và người dân.

Ba là, hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã còn phụ thuộc vào phương

pháp làm việc và các kỹ năng đặc biệt để phục vụ hoạt động của họ, như: kỹnăng lập kịch bản kế hoạch hoạt động, kỹ năng tiếp xúc – giao tiếp với cử tri, kỹnăng thu thập thông tin và phân tích vấn đề, kỹ năng chất vấn - phản biện, kỹnăng giám sát, Yêu cầu đòi hỏi họ phải luôn sáng tạo phương pháp làm việckhoa học và trau dồi các kỹ năng này để phục vụ tốt nhiệm vụ dân cử, nhất là đểgiúp họ có khả năng tham gia khi phải đối diện với các vấn đề lớn, quan trọngcủa địa phương

Bốn là, đối với đại biểu HĐND cấp xã, yếu tố phẩm chất đạo đức lối sống,

phong cách dân chủ, tinh thần trách nhiệm và sự tâm huyết, trung thành vớiquyền lợi nhân dân sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực thi địa vị pháp lýcủa đại biểu HĐND cấp xã trên thực tế Nhất là trước áp lực của các nhóm lợiích khác nhau, nếu một khi vẫn duy trì trong đội ngũ đại biểu dân cử có tỷ lệ sốđông là đại biểu kiêm nhiệm ở các chức danh trong cơ quan hành pháp và tưpháp thì khả năng xung đột lợi ích là hiện hữu (bởi lợi ích cục bộ, đặc quyền -đặc lợi), họ dễ lung lay và xa rời mục tiêu phục vụ cử tri; ngay cả cơ quan dân cửcũng khó lòng giữ được tính độc lập của mình hoặc bị suy giảm thực quyềntrước những áp lực từ thiết chế hành pháp và các thiết chế khác

1.3.4 Yếu tố đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế-xã hội cấp xã

Đặc điểm vị trí địa lý của cấp xã (địa hình và khoảng cách điều kiện đi lại;

có vị trí chiến lược hay không…) tác động ảnh hưởng khách quan về thuận lợi/khó khăn đối với phạm vi đặc thù cũng như yêu cầu nhiệm vụ cần ưu trội tronghoạt động của đại biểu HĐND cấp xã, nhất là các hoạt động tiếp xúc cử tri, thựchiện các hoạt động theo dõi, đôn đốc, giám sát,…

Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội cấp xã cũng có tác động ảnh hưởngđáng kể đến hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã Chúng quy định yêu cầu nộidung nhiệm vụ và tính chất công việc, tần suất công việc của đại biểu dân cử ở

Trang 35

cấp này Hơn nữa, địa phương cấp xã nào có sự thuận lợi về điều kiện kinh tế xãhội thì có điều kiện trang bị tốt cơ sở vật chất, phương tiện, kỹ thuật, kinh phíđược đảm bảo bổ trợ tốt cho hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và đại biểunói riêng.

1.3.5 Yếu tố nguồn lực và điều kiện bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã

Nguồn lực và điều kiện đảm bảo cho hoạt động thực thi địa vị pháp lý đạibiểu HĐND cấp xã là yếu tố tối thiểu phải đáp ứng để hiện thực hóa công tác đạibiểu dân cử Nguồn lực và điều kiện chủ yếu là trang thiết bị cơ sở vật chất, kỹthuật, phương tiện và mức lương, chế độ thích hợp cần phải đảm bảo đủ mức tốithiểu để bổ trợ tốt cho hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và đại biểu nóiriêng

Đối với pháp luật hiện hành, Điều 103 và Điều 126 của Luật Tổ chứcChính quyền địa phương 2015 có quy định về chế độ, chính sách và điều kiệnđảm bảo cho hoạt động của đại biểu HĐND

Tiểu kết chương 1

Địa vị pháp lý của đại biểu HĐND được hiểu là tổng hợp các quy định củapháp luật về vị trí, chức năng và quyền hạn của đại biểu HĐND, mà qua đó xáclập cũng như giới hạn thẩm quyền của đại biểu HĐND trong các hoạt động củamình Ở cấp xã, cùng với đặc điểm của đại biểu HĐND cấp xã, vai trò của họđặc biệt quan trọng, vì là trực tiếp tổ chức triển khai thực thi quyền lực nhà nướctại cơ sở và tạo cầu nối bền chặt giữa Nhà nước và nhân dân địa phương Vai tròquan trọng ấy được pháp luật hiện hành xác lập bằng các quy định bảo đảm vềđịa vị pháp lý của đại biểu HĐND cấp xã ở hai khía cạnh: về quyền hạn và tráchnhiệm của đại biểu HĐND cấp xã Tuy nhiên, để đảm bảo địa vị pháp lý của đạibiểu HĐND cấp xã cần phải tính toán thấu đáo các yếu tố ảnh hưởng đến Nhữngnội dung này góp phần tạo lập một số cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH

QUẢNG NAM

2.1 Tình hình kinh tế xã hội Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Thị xã Điện Bàn là vùng đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh QuảngNam, trải dài từ 15o50 đến 15o57 vĩ độ Bắc và từ 108o đến 108o 20’ kinh độĐông, cách Tam Kỳ 48km về phía Bắc và thành phố Đà Nẵng 25km về phíaNam Phía Bắc giáp huyện Hòa Vang và quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng); phíaNam giáp huyện Duy Xuyên, phía Đông giáp biển Đông và Thành phố Hội An,phía Tây giáp huyện Đại Lộc (Quảng Nam) Nên địa thế này thuận lợi giúp choĐiện Bàn có nhiều tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội

Diện tích Thị xã Điện bàn 214,28 km², địa hình Điện Bàn thấp dần từ Tâysang Đông và được chia ra thành ba dạng cơ bản: (1) Khu vực địa hình ven biển5.300 ha chiếm 25% diện tích (các cồn cát và bãi cát ven biển chạy dài từ Bắcxuống Nam) gồm các phường Điện Ngọc, Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung,Điện Nam Đông, Điện Dương; (2) Khu vực địa hình đồng bằng 15.500 ha chiếm73% diện tích, gồm phần lớn các xã đồng bằng ở khu vực trung tâm và phía Tâycủa Điện Bàn, là nơi phân bố dân cư và đất sản xuất nông nghiệp; (3) Khu vựcđịa hình gò đồi có diện tích 395 ha chiếm 2% diện tích, với độ dốc từ 80-200 và

độ cao từ 8 - 10 m (gồm xã Điện Tiến và một phần xã Điện Thọ), hiện tại đượcphân bố sử dụng chủ yếu vào mục đích lâm nghiệp

Tài nguyên đất ở Điện Bàn là khá tốt, nhất là nhóm đất phù sa chiếm69,67% tổng diện tích tạo thuận lợi trong thâm canh sản xuất nông nghiệp vàtăng năng suất, chất lượng cây trồng Hệ thống sông suối của Điện Bàn có 5 consông chính (sông Thu Bồn, sông Bà Rén, sông Bình Phước, sông Yên, sông VĩnhĐiện) và các sông nhỏ (sông Thanh Quýt, sông La Thọ, sông Hà Sấu ),

Trang 37

nên khả năng cung cấp nhiều nguồn nước mặt thuận lợi phục vụ cho sản xuất vàsinh hoạt dân cư ở Điện Bàn Tuy vậy, thời điểm mùa mưa ở ven sông Thu Bồn

và sông Vĩnh Điện thường xảy ra hiện tượng xói lở ven bờ, gây ngập úng ở một

số địa bàn Nhiều khu vực đất bị chua phèn, khu vực ven sông thường dễ xói lở

Sự xâm nhập sâu của thủy triều vào các sông Cổ Cò, Vĩnh Điện khiến bị nhiễmmặn ở vùng cửa sông và một số khu vực đất làm ảnh hưởng đáng kể tới sự lấynước phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống Ở vị trí ven biển miền Trung,Thị xã Điện Bàn có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với 02 mùa rõ rệt: (1)mùa khô từ tháng 01 - tháng 8 có lượng mưa chiếm 20% đến 25% lượng mưa cảnăm, thường xảy ra nắng nóng, hạn hán, giông tố; (2) mùa mưa bắt đầu từ tháng

9 - tháng 12 có lượng mưa 70% đến 75% lượng mưa cả năm và cũng thường gâynên lũ, lụt trong khi phần lớn diện tích Thị xã ở vùng trũng, khiến chịu tác độngmạnh từ bão, lũ

Nhìn chung, ngoại trừ khu vực gò đồi ở xã Điện Tiến, hầu hết phần còn lạicủa Điện Bàn có địa hình khá bằng phẳng có cấu trúc địa chất bền vững, nên phùhợp trong xây dựng phát triển đô thị và công nghiệp, gắn với bờ biển cát trắng,nước trong hiền hòa, thuận lợi khai thác du lịch; cùng với địa thế thuận lợi giúpcho Thị xã này có nhiều tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội địaphương

Thị xã Điện Bàn hiện nay gồm 20 đơn vị hành chính cấp xã: 7 phường(Điện Ngọc, Điện An, Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, ĐiệnDương, Vĩnh Điện) và 13 xã (Điện Phước, Điện Hồng, Điện Phong, Điện Hòa,Điện Minh, Điện Quang, Điện Phương, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Nam, ĐiệnThắng Trung, Điện Thọ, Điện Trung, Điện Tiến) Trong 13 xã này, có ĐiệnMinh, Điện Phước, Điện Phương, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Nam, ĐiệnThắng Trung đang được xây dựng để trở thành các phường vào năm 2020

Trong Quy hoạch Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Thủ tướngChính phủ phê duyệt đã xác định: Xây dựng cụm đô thị Đà Nẵng - Chân Mây -

Trang 38

Hội An - Điện Nam - Điện Ngọc là cụm chuổi đô thị động lực của vùng, là điểmcuối của tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây trên đường QL9 qua cửa khẩu LaoBảo (Quảng Trị) và đường QL4D qua cửa khẩu Nam Giang (Quảng Nam) Cùngvới mạng lưới hạ tầng giao thông ở Điện Bàn những năm qua được đầu tư kháhoàn chỉnh, tạo thuận lợi cho Thị xã Điện Bàn có nhiều ưu thế phát triển, bởi làgiao thoa kinh tế giữa Đà Nẵng và Hội An, gắn kết các hoạt động kinh tế, thươngmại và du lịch bằng hệ thống cảng biển Tiên Sa, cảng hàng không quốc tế ĐàNẵng, khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc, di sản văn hóa thế giới Hội An– Mỹ Sơn, Chính nhờ thế cùng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, nhiềunăm qua Điện Bàn đang có sự bước tiến nổi bật ở nhiều mặt về kinh tế - xã hộigắn với sự biến chuyển trong cơ cấu ngành nghề sản xuất, dịch vụ.

Ngành công nghiệp ở Thị xã năm 2018 chuyển biến tích cực[10]: có tốc

độ tăng trưởng với tổng giá trị sản lượng công nghiệp khoảng 12.346 tỷ đồng(tăng 10,39% so với năm 2017); các khu cụm công nghiệp có quy mô lớn nhấttrong tỉnh Quảng Nam (với 01 khu công nghiệp, 09 cụm công nghiệp, 01 cụmlàng nghề và hơn 2.300 cơ sở công nghiệp nông thôn đang hoạt động), tạo rađược môi trường thu hút các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, giải quyết việclàm cho khoảng 35.000 lao động và nâng cao chất lượng đời sống cho ngườidân; tạo động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tác động lan tỏa đếnnhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế góp phần ổn định xã hội và anninh trật tự trên địa bàn Ngành thương mại – dịch vụ phát triển khá với tổng giátrị sản lượng năm 2018 khoảng 8.033 tỷ đồng (tăng 18,71% so với năm 2017).Sản xuất ngành nông lâm thủy sản giữ mức tăng trưởng ổn định với tổng giá trị1.585 tỷ đồng (tăng 2, 99% so với năm 2017)

Về lĩnh vực xã hội, Điện Bàn là mãnh đất anh hùng cách mạng, nhân dânnơi đây có truyền thống cần cù, sáng tạo, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trongsản xuất nông nghiệp, công nghiệp, phát triển làng nghề Thị xã Điện Bàn có sốdân là 245.013 người; mật độ dân số 1.143 người/km² (năm 2019)

Trang 39

Trong đó, 38,5% dân số đô thị và 61,5% dân số nông thôn Thị xã Điện Bàn có

cơ cấu dân số trẻ chiếm tỷ trọng lớn; nếu tính từ năm 2017 tỷ lệ người từ 18 - 49tuổi chiếm 46,4%; từ 5 - 17 tuổi chiếm 21,8% Năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo giảmcòn 1,6%

Tuy vậy, một số vấn đề tồn tại còn đặt ra ở Điện Bàn: (1) Cơ chế chínhsách còn bất cập và việc cải thiện môi trường đầu tư tại các cụm công nghiệp cònchậm; (2) Công tác quản lý quy hoạch xây dựng, quản lý hiện trạng đất đai, trật

tự xây dựng có một số mặt hạn chế; (3) Công tác dồn điền đổi thửa ở một số khuvực trên địa bàn gặp nhiều khó khăn; (4) Lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ

lệ nhỏ trong các doanh nghiệp cùng với dân số nông thôn vẫn còn cao và chưahình thành đầy đủ nếp sống đô thị…

Chính với những điều kiện và một số vấn đề về kinh tế, xã hội của Thị xãĐiện Bàn như vậy, kèm theo bối cảnh đô thị hóa và công nghiệp hóa rất nhanh ởkhu vực này đang đặt ra ra yêu cầu nhiệm vụ cao đối với tổ chức và hoạt độngcủa HĐND từ cấp huyện đến cấp xã, cùng với đại biểu HĐND phải giải quyết đểđáp ứng sự phát triển bền vững

2.2 Thực tiễn về địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

xã trên địa bàn Thị xã Điện Bàn

Thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, các hướngdẫn và quy định về cơ cấu đại biểu HĐND các cấp, đội ngũ đại biểu HĐND cấp

xã ở Thị xã Điện Bàn nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã được bầu ra với 532 đại biểu

(xem chi tiết ở Bảng 2.1, Bảng 2.2 và Bảng 2.3).

Trang 40

Bảng 2.2: Thống kê cơ cấu đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã ở thị xã điện bàn nhiệm kỳ 2016-2021

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w