Dù người bào chữa là Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay là bào chữa viên nhân dân thì trong hoạt động tham gia tố tụng hình sự, người bào chữa đều
Trang 1Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của
người bào chữa
A LỜI MỞ ĐẦU
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (TTHS) đã mở rộng hơn quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bào chữa Tuy nhiên, trong thực tế thì địa vị pháp lý của người bào chữa được đảm bảo ở mức độ nào thì đó là điều đã và đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối với riêng ngành tư pháp mà còn là vấn đề của cả xã hội Đó chính là lý do em chon vấn đề: “ Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa”
B NỘI DUNG
1 Những qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự về người bào chữa, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1.1 Người bào chữa và vấn đề đảm bảo nguyên tắc cơ bản về bào chữa trong quá trình tiến hành tố tụng
Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lí cần thiết Theo qui định tại Khoản 1 Điều 56 thì người bào chữa có thể là:
• Luật sư: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 2 Luật Luật sư);
• Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Bộ Luật TTHS không quy định rõ thế nào là “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Tuy nhiên, có thể vận dụng Điểm a Khoản 1 Điều 58 Bộ Luật Dân Sự về giám
hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) để hiểu người đại diện hợp pháp là: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu Hoặc người đại diện theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ (Điều 141 BLDS)
• Bào chữa viên nhân dân: Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể
cử ra để bào chữa cho bị cáo( )
Vì vậy, trong thực tế người bào chữa có: Luật sư và người dại diện hợp pháp
Để đảm bảo sự vô tư khách quan khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, Khoản 2 Điều 56 qui định những người sau đây không được bào chữa:
- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó
- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng,người giám định hoặc người phiên dịch
Theo qui định tại Khoản 3 Điều 56 thì một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều
Trang 2người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau Nếu quyền và lợi ích của những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đối lập nhau thì người được bào chữa chỉ có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo
Khi có đề nghị của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về người bào chữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho họ thực hiện quyền có người bào chữa cho mình Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét Cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Trong trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lí do
Đối với trường hợp tạm giữ thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra phải xem xét,cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Trường hợp
từ chối cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lí do
Đây là điểm mới so với trước đây đó là việc qui định cụ thể nghĩa vụ xem xét, cấp giấy chứng nhận bào chữa của cơ qun điều tra, Viện kiểm sát, tòa án, qui định thời hạn cụ thể của việc xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa Những sửa đổi bổ sung này có ý nghĩa lớn lao đối với việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
1.2 Thay đổi người bào chữa
Pháp luật cũng có những qui định nhằm đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành
tố tụng hoặc người tham gia tố tụng và đảm bảo nguyên tắc “ Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.”:
Theo đó Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự qui định về việc “Lựa chọn và thay đổi người bào chữa Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự lựa chọn người bào chữa để thực hiện quyền bào chữa của mình Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền của họ
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người thành niên và không có nhược điểm thể chất hoặc tâm thần tự thực hiện quyền mời bào chữa Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là người chưa thành niên hoặc là người bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền nhờ bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ có quyền từ chối người bào chữa đã được chỉ định Không ai được phép ép buộc họ nhận người bào chữa mà họ không đồng ý Họ cũng có quyền thay đổi người bào chữa
Những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cho bị can, bị cáo:
1 Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được qui định tại Bộ luật hình sự
2 Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
Trong những trường hợp nói trên, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ người bào chữa thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban mặt trật tổ quốc Việt Nam, Tổ chức thành viên của mặt trân tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình Việc tiến hành tố tụng
Trang 3trong các trường hợp nói trên mà không có người bào chữa là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự
Trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cho bị can, bị cáo và theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, văn phòng luật sư hoặc ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam đã cử người bào chữa nhưng bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không đồng ý thì họ có quyền yêu cầu thay đổi người bào chữa hoặc từ chối người bào chữa Trong trường hợp đó, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án đã giải thích quyền có người bào chữa của bị can, bị cáo nhưng bị can bị cáo vẫn không đồng ý thực hiện quyền đó của họ thì vẫn phải lập biên bản ghi nhận ý kiến này và quá trình tố tụng sẽ được tiến hành mà không có sự tham gia của người bào chữa Theo qui định tại Khoản 3 Điều 37 thì UBMTTQVN, các tổ chức thành viên của mặt trận có quyền cử người bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình Đây là qui định mới nhằm tăng cường nội dung bảo vệ dân chủ của tố tụng hình sự, tạo ra những điều kiện bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam
1.3 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa:
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 58 thì thời điểm tham gia tố tụng hình sự của người bào chữa: Có 3 thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa:
+ Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can
+ Trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ
+ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra
Việc qui định thời điểm đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bào chữa là người tham gia tố tụng, thực hiện chức năng bào chữa cho người
bị tạm giam, bị can, bị cáo Để đảm bảo cho người bào chữa thực hiện chức năng của mình Bộ luật Tố tụng hình sự qui định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người bào chữa tất cả các quyền và nghĩa vụ đó tạo thành địa vị pháp lí của người bào chữa trong tố tụng hình sự
1.3.1 Quyền của người bào chữa
Theo quy định của Bộ luật TTHS thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (Điều 11) Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đã đến tuổi thành niên và không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì họ tự bào chữa hoặc mời người bào chữa Nếu người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện hợp pháp của họ (cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ) thực hiện việc bào chữa hoặc có quyền nhờ người bào chữa
Dù người bào chữa là Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo hay là bào chữa viên nhân dân thì trong hoạt động tham gia tố tụng hình sự, người bào chữa đều thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng; tìm ra chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị can, bị cáo và kiến nghị với các cơ quan tiến hành tố tụng về áp
Trang 4dụng, vận dụng chính xác pháp luật trong việc giải quyết vụ án Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó, Theo khoản 2 Điều 58 Bộ luật TTHS quy định các quyền của người bào chữa trong quá trình tố tụng, đó là:
- Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can
- Quyền được hỏi người bị tạm giữ, bị can, nếu điều tra viên đồng ý
- Quyền có mặt trong các hoạt động điều tra khác
- Quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng liên quan đến người mình bào chữa
- Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can
để có mặt khi hỏi cùng bị can
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo qui định của bộ luật tố tụng hình sự
- Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác
- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật , yêu cầu;
- Quyền gặp người bị tạm giữ;
- Quyền gặp bị can,bị cáo đang bị tạm giam;
- Quyền đọc, ghi chép, sao chép các tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo qui định của pháp luật;
- Quyền tham gia tranh hỏi tại phiên tòa
- Quyền khiếu nại quyết định,hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất qui định tại điểm b khoản
2 điều 57 của bộ luật tố tụng hình sự
Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho người bào chữa thực hiện các quyền của họ
Cùng với việc thực hiện các quyền trên để bào chữa về hình sự, người bào chữa phải
có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Đồng thời, giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ về trách nhiệm dân sự gắn liền với trách nhiệm hình sự
1.3.2 Nghĩa vụ của người bào chữa:
Người bào chữa có những nghĩa vụ nhất định Theo Khoản 3 Điều 58 người bào chữa
có những nghĩa vụ sau:
- Nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để làm sáng tỏ nhưng tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;
- Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ
án thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa
án Việ giao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo qui định tại điều 95 của bộ Luật này
- Nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ
Trang 5- Nghĩa vụ không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà chính mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lí do chính đáng
- Nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật
- Nghĩa vụ không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của tòa án
- Nghĩa vụ không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa
- Nghĩa vụ không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân
Bộ luật tố tụng hình sự qui định trách nhiệm của người bào chữa trong trường hợp vi phạm pháp luật Theo Khoản 4 Điều 58 người bào chữa làm trái pháp luật tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lí kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo qui định của pháp luật
Điều 58 có những sửa đổi bổ sung quan trọng về các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người bào chữa theo hướng mở rộng các quyền cảu người bảo chữa, bổ sung thêm nghĩa vụ của người bào chữa, qui định các loại trách nhiệm pháp lí của nười bào chữa trong trường hợp họ làm trái pháp luật để bảo đảm cho người bào chữa thực hiện có hiệu quả chức năng của mình
Tuy nhiên, ở đây cũng cần phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong trường hợp là luật sư hoặc là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Nếu người bào chữa là luật sư thì họ được phép thực hiện tất cả các quyền và nghĩa
vụ của người bào chữa để giúp đỡ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trên cả 2 phương diện trách nhiệm hình sự
và trách nhiệm dân sự Trong trường hợp người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì theo quy định của Bộ luật dân sự và Bộ luật
tố tụng dân sự, họ có đầy đủ các quyền của người được đại diện trong đó có quyền
tự định đoạt của đương sự đối với những vấn đề về dân sự phát sinh từ trách nhiệm hình sự, đặc biệt là việc bồi thường và thoả thuận, thống nhất mức bồi thường giữa
bị can, bị cáo và người bị hại trong vụ án hình sự
Vì vậy, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa trường hợp người bào chữa là luật sư và trường hợp người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật TTHS về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa như hiện nay chưa thể hiện rõ được quyền của người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Do vậy, vấn đề này cần xem xét, sửa đổi để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định của Bộ luật TTHS, Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự
2 Thực tiễn thi hành những qui định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và hướng hoàn thiện những qui định này
2.1 Thực tiễn thi hành những qui định của pháp luật về Quyền của người bào chữa:
• Thời điểm người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng:
Theo qui định của pháp luật về quyền của người bào chữa thì người bào chữa được hưởng một số quyền khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự nhằm mục đích bảo
Trang 6vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, những quyền này của người bào chữa bị hạn chế rất nhiều:
Theo qui định của pháp luật thì có ba thời điểm người bào chữa( ) tham gia vào quá trình tố tụng
+ Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can
+ Trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ
+ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra
BLTTHS hiện hành đã quy định LS được tham gia từ khi có quyết định tạm giữ Nhưng trên thực tế rất ít vụ LS được tham gia ngay từ thời điểm này Bởi vì hiện nay, không có một cơ chế, thủ tục, trình tự nào quy định buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để LS tham gia Để có GCN người bào chữa để gặp bị can trong trại tạm giam, cơ quan điều tra yêu cầu LS đủ năm loại giấy tờ: Thẻ LS; Giấy đăng ký hoạt động văn phòng LS; Chứng chỉ hành nghề; Hợp đồng với khách hàng
và Giấy giới thiệu của văn phòng LS Như vậy, về chủ quan có thể nhận thấy không phải dễ dàng gì các LS có được giấy tờ chứng nhận để tham gia vào tố tụng Trong thực tiễn,người bào chữa được tham gia vào quá trình tố tụng ngay từ giai đoạn điều tra rất khó khăn và đặc biệt trong những vụ án lớn là rất “hiếm” Nếu vụ án ít phức tạp, tính chất đơn giản, việc này dễ dàng hơn
• Quyền yêu cầu tòa án cấp giấy chứng nhận người bào chữa:
Theo qui định của pháp luật thì kể từ thời điểm người bào chữa được Tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa thì họ mới có “giấy thông hành” để thực hiện các quyền và nghĩa vụ bào chữa của mình
Tuy nhiên, không phải khi họ yêu cầu tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa là họ được xem xét giải quyết trong “3 ngày” theo qui định tại Khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự mà trong thực tế, Gần 100% các trường hợp không được cấp giấy chứng nhân bào chữa đúng thời hạn 3 ngày, cá biệt có khi kéo dài hơn một năm Lí giải cho nguyên nhân của tình trạng này, cơ quan có thẩm quyền đã trả lời rằng: Bưu điện chuyển đến chậm (nếu gửi qua bưu điện) hoặc người có thẩm quyền cấp giấy đi công tác vắng Trong khi đó, ở cương vị cơ quan kiểm soát, một đại diện Viện phúc thẩm VKSND Tối cao cho biết: "Việc cấp giấy chứng nhận bào chữa nếu đầy đủ thủ tục chỉ cần 15 phút là xong Đó là trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải làm" Một vướng mắc lâu nay trong hoạt động luật sư là trình và thu giữ giấy chứng nhận người bào chữa chưa được Thông tư đề cập Với nhiều luật sư, tờ giấy này như
"thông hành" cho họ vào trại giam gặp thân chủ Nhưng một cái "lệ" đang được áp dụng ở hầu hết các trại là mỗi lần tới gặp thân chủ, luật sư phải nộp lại giấy chứng nhận người bào chữa gốc Có nghĩa là muốn gặp đương sự vài lần, Luật sư cũng phải xin được vài giấy chứng nhận Chỉ một số trại tạm giam lớn có máy photocopy thì
"linh động" giữ bản sao
Do vậy, rất nhiều người bào chữa, chủ yếu là giới Luật sư cho rằng "Tại một số trường hợp, giấy chứng nhận người bào chữa được cơ quan điều tra sử dụng như một
"công cụ" để hạn chế luật sư tham gia tố tụng"
Trang 7• Quyền tham gia vào quá trình tố tụng:
Trong giai đoạn điều tra, người bào chữa có quyền: “Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước
về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cùng bị can” Pháp luật có những qui định cụ thể về quyền “có mặt”, “tham gia” của người bào chữa trong giai đoạn này nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ngay từ khi bị tạm giữ đảm bảo nguyên tắc: “đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Và về nguyên tắc, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền im lặng cho tới khi có mặt của người bào chữa
Tuy nhiên, trong thực tiễn bên cạnh việc thực hiện nghiêm chỉnh một số nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự thì vẫn có những vi phạm nghiêm trọng những nguyên tắc này nói chung, việc đảm bảo quyền của người bào chữa nói riêng Theo đánh giá của những người đã từng tham gia bào chữa, chủ yếu là giới Luật sư cho rằng: Bộ luật tố tụng hình sự có nhiều quy định trao quyền cho các luật sư tranh tụng nhưng việc thực thi các quyền này rất hạn chế và gặp không ít rào cản từ chính các cơ quan
tố tụng Khái quát chung, chỉ 50% quyền của luật sư theo quy định của Bộ luật được thực thi
Theo qui định của pháp luật thì khi cơ quan điều tra tiến hành hoạt động lấy lời khai thì người bào chữa có quyền có mặt và cơ quan điều tra phải tạo mọi điều kiện để người bào chữa có thể tham gia hoạt động lấy lời khai của người bị tạm giữ cũng như
có quyền được biết thời gian địa điểm, có mặt khi hỏi cung bị can Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc người bào chữa yêu cầu cơ quan điều tra “cho” mình tiến hành
“quyền” của mình vô cùng khó khăn
Trong một cuộc trao đổi với các Luật sư thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, đoàn Luật sư TPHCM, đoàn Luật sư Tỉnh Long An, có Luật sư bạo miệng đã nói rằng: “Từ khi bị tạm giữ, “đố” người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói rằng: tôi không trả lời bất kì câu hỏi nào cho tới khi tôi gặp được luật sư của tôi” như một số nước trên thế giới( )
Vì ở nước ta, cơ quan điều tra sẽ ‘có cách” xử đẹp”! Chỉ điều này thôi, cho ta thấy rằng, bên cạnh những vi phạm nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự thì vô hình chung, việc người bào chữa được thực hiện “quyền” Pháp định vô cùng khó khăn Điểm a Khoản 2 Điều 58 qui định cho Luật sư có quyền: “có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người
bị tạm giữ, bị can, và có mặt trong những hoạt động điều tra khác, xem các biên bản
về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”
Tuy nhiên, trong thực tiễn, người bào chữa được “có mặt” khi cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai, hỏi cung người bị tạm giữ, bị can và điều vô cùng nan giải
Về phía cơ quan điều tra họ cho rằng: sự có mặt của người bào chữa chỉ thêm “rối” thậm chí có một số luật sư có mặt không nhằm mục đích bào chữa mà nhằm mục đích : ‘chạy’ án
Về phía người bào chữa, chủ yếu các luật sư cho rằng: cơ quan điều tra luôn gây khó khăn cho họ Rõ ràng Điểm b Khoản 2 Điều 58 qui định: “Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cùng bị can” Nhưng khi cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai và hỏi cung bị can, bị cáo thì không những không báo trước cho người bào chữa mà người bào chữa còn phải “lần mò” khắp các trại, hỏi thân chủ ở đâu Thậm chí một số luật sư còn phản ánh rằng:
Trang 8tôi cử hẳn một chánh văn phòng hôm nào cũng gọi điện thoại cho điều tra viên hỏi khi nào gặp thân chủ tôi để luật sư đi cùng Các anh đều bảo hôm nay không đi, nhưng thực tế không phải vậy! Cả quá trình tham gia bảo vệ cho thân chủ của tôi, tôi chỉ được gặp duy nhất một lần”!
Hơn thế nữa, khi người bào chữa gặp được thân chủ của mình thì dù luật không có qui định điều tra viên phải có mặt nhưng thực tế, luôn có điều tra viên “kè kè” bên cạnh trong suốt quá trình người bào chữa gặp thân chủ( ) Thậm chí trong thực tiễn còn có những hành vi vi phạm tố tụng được nhận định “Không biết điều này có đúng luật hay không mà ông Luân còn thách thức Luật sư muốn kiện ông ta thì cứ tự nhiên Nếu Ông Luân cậy quyền thế xem thường pháp luật thì chắc chắn CAQ9 phải đối phó với sự phẫn nộ của người dân trong một tương lai gần đây”( ) đây là lời nhận xét cho đơn khiếu nại của Văn phòng Luật sư Pháp Quyền gởi đến Trưởng CA quận 9
và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại hành vi vi phạm phạm pháp luật của ông Nguyễn Minh Luân - Phó CA quận 9, kiêm Trưởng Nhà tạm giữ Với Lý do: Ông Luân đã có hành vi cản trở Luật sư tiếp xúc các
bị can đang bị tam giam bằng cách đòi hỏi phải có Kiểm sát viên đi cùng Luật sư mới được gặp bị can, dù Viện trưởng Viện kiểm sát quận 9 đã cấp giấy chứng nhận bào chữa cho các Luật sư
Như vậy thì: trong thực tế, việc đảm bảo cho người bào chữa có các “quyền” như Bộ luật tố tụng hình sự qui định là rất khó khăn
Quy định chỉ định luật sư đối với trường hợp nghi phạm là vị thành niên, biên bản hỏi cung đối tượng phải có chữ ký của luật sư thì trong thực tế, có những biên bản không
có chữ kí của luật sư, có những trường hợp, sau khi cơ quan điều tra hỏi cung xong đối tượng này (đã có biên bản) thì mới “nài nỉ” và khẩn trương cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người bào chữa để họ kí vào biên bản cho hợp lệ( )!
Theo qui định tại Điểm d, g Khoản 2 Điều 58 thì người bào chữa có quyền: “thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, Quyền đọc, ghi chép, sao chép các tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo qui định của pháp luật” tuy nhiên, việc người bào chữa thực hiện được các quyền của mình này không phải dễ dàng Vấn đề đôi khi không nằm ở hành động của người bào chữa mà trong thực tế người bào chữa không nhận được sự giúp đỡ của cơ quan khác Vì vậy mới nói: có quyền là một chuyện, có thực hiện được quyền đó hay không lại là chuyện khác Việc người bào chữa gặp khó khăn khi thực hiện các quyền của mình không chỉ ở cơ quan điều tra mà còn diễn ra khi làm việc với viện kiểm sát, hay tòa án: “Có tòa bảo luật sư muốn photo tài liệu phải tự mang thiết bị đến Thực tế có luật sư đã mang hẳn một máy Photocopy mini đến, nhưng tòa bảo không có điện để cho dùng!?!” Luật sư Đào Ngọc Lý( Đoàn LS TP Hà Nội) cho biết có lần luật sư đi cùng một điều tra viên vào trại tạm giam để làm thủ tục “Có mặt trong buổi lấy lời khai thân chủ của mình” Ngẫm nghĩ một hồi anh điều tra viên hẹn Luật sư 8 giờ sáng hôm sau có mặt tại của phòng làm việc Đúng 7 giờ 30 luật sưu đã đi tới nhưng loanh quanh tìm khắp nơi vẫn không thấy điều tra viên này ở đâu Thấy đã đến giờ lấy lời khai, luật sư làm liều
đi vào trại Đến nơi, luật sư ngẩn người bởi điều tra viên đó đã lấy lời khai bị can trước đó rồi luật sư Lý nhận định đây là cách “vô hiệu hóa” luật sư của cán bộ điều
Trang 9Đây là những câu chuyện tưởng chừng như chỉ là những câu chuyện hài, không thể
có trong thực tiễn nhưng lại đang tồn tại trong xã hội
Bên cạnh đó, theo qui định tại Điều 58 BLTTHS thì Người bào chữa có quyền gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quyền này dường như bị vô hiệu hoá, nếu không muốn nói là không thể thực hiện được Bởi cơ quan điều tra có cho người bào chữa tiếp xúc với bị can, bị cáo hay không, mới là điều quan trọng Để gặp được bị can, bị cáo, trước hết luật sư phải có giấy chứng nhận người bào chữa (do cơ quan điều tra, VKS hoặc Toà án cấp) Ngoài những giấy tờ luật quy định trên, theo luật sư Hồng Hải( ), có cán bộ trại giam còn yêu cầu luật sư phải trình lệnh trích xuất của Toà án mới cho gặp bị can, bị cáo "Việc đòi luật sư phải có thêm lệnh trích xuất mới cho gặp bị can, bị cáo là không phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự Hiện tượng này phát sinh là do BLTTHS còn thiếu quy định cụ thể về các thủ tục cần thiết khi luật sư vào trại giam gặp bị can, bị cáo"
Theo qui định tại Điểm h Khoản 2 Điều 58 về quyền của người bào chữa thì một trong những quyền của người bào chữa là: Tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên, vai trò của người bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung, trong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa nói cung chưa được coi trọng đúng mức Vì thế, trong nhiều phiên tòa, sự hiện diện của luật sư chỉ mang tính hình thức, một thứ “trang điểm thêm đẹp” trong quá trình xét xử( ) tại phiên tòa, có thẩm phán coi thường và phủ nhận vai trò của luật sư, gây khó khăn cho hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo Bản bào chữa cùng các đề nghị của luật sư ít khi được HĐXX xem xét Bị cáo trong phiên tòa đã bị coi là
có tội nên quyền bào chữa về hình thức vẫn được thực hiện, nhưng tác động của nó đến HĐXX là rất nhỏ
2.2 Thực tiễn thi hành những qui định của pháp luật về nghĩa vụ của người bào chữa:
Theo qui định tại Khoản 3 Điều 58 về nghĩa vụ của người bào chữa thì bên cạnh những quyền mà người bào chữa được hưởng thì người bào chữa cũng phải thực hiện những nghĩa vụ qui định tại khoản 3 điều này
Điểm a Khoản 3 Điều 58 qui định người bào chữa có nghĩa vụ “sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để làm sáng tỏ nhưng tình tiết xác định người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án Việ giao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo qui định tại điều 95 của bộ Luật này.”( )
Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải khi nào người bào chữa cũng làm tốt nghĩa vụ của mình đặc biệt đối với các người bào chữa được chỉ định Thực tế cho thấy, đối với những vụ án mà người bào chữa được chỉ định thì sự nhiệt tình cũng như trách nhiệm đối với việc thực hiện nghĩa vụ của người bào chữa không được đảm bảo nếu như không muốn nói rằng việc thực hiện nghĩa vụ này là lấy lệ, cho xong việc:
Theo quy định của BLTTHS, cơ quan điều tra, VKS hoặc Toà án có trách nhiệm phải mời luật sư bào chữa cho các bị can, bị cáo có khung hình phạt cao nhất là tử hình hoặc là người chưa thành niên, người có nhược điểm tâm thần, thể chất (nếu họ
Trang 10không tự mời).
Trong một số phiên tòa thực tiễn diễn ra ở Hà Tây (cũ) thì thay vì đưa ra các chứng
cứ nhằm gỡ tội cho bị cáo, luật sư chỉ “xin” HĐXX giảm án vì cho rằng bị cáo có nhân thân tốt Tất cả phần bào chữa của LS chỉ diễn ra trong vòng khoảng…3 phút Ngoài
ra, LS cũng không tham gia phần xét hỏi và đương nhiên coi mọi tình tiết trong vụ
án đã quá rõ rang Đặc biệt, có LS còn ngồi nhầm phiên toà, đến lúc bị thẩm phán gọi mới ngơ ngác đứng dậy cáo lỗi
Cũng theo ý kiến của một số luật sư thì hiện nay, các tài liệu, chứng cứ mà họ thu thập được giao cho cơ quan điều tra thường không được cơ quan điều tra sử dụng không phải vì tài liệu chứng cứ đó không có giá trị sử dụng mà do cơ quan điều tra không mấy “mặn mà” tin tưởng vào những tài liệu, chứng cứ mà luật sư cung cấp
Do vậy, có những trường hợp người bào chữa thu thập được tài liệu chứng cứ của vụ
án nhưng không thực hiện nghĩa vụ giao lại cho cơ quan điều tra Đây là một thực trạng đáng buồn trong hoạt động tố tụng ở nước ta dưới mô hình tổ chức nhà nước độc lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau vậy mà những khi cần “độc lập” thì không “độc lập” được, những khi cần “quan
hệ mật thiết” với nhau thì không “quan hệ mật thiết” với nhau được
Theo qui định tại Điểm d Khoản 3 Điều 58 thì người bào chữa có nghĩa vụ:
“Nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật, không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật”
Tôn trọng pháp luật là nguyên tắc “hiến định” đối với mỗi công dân nói chung, người bào chữa nói riêng Trong hoạt động bào chữa của mình, là người am hiểu pháp luật, góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa thì người bào chữa phải là người có ý thức cao nhất về vấn đề thực hiện nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đi kèm với nó là việc không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật Như Điểm a đã qui định cho người bào chữa có quyền sử dụng mọi biện pháp và biện pháp này phải hợp pháp để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo
Do vậy, người bào chữa phải tiến hành các hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ mà vẫn tuân thủ pháp luật chứ không phải “mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật” để làm lợi cho bản thân mình
Trong thực tiễn, không ít những trường hợp người bào chữa do được hứa hẹn lợi ích vật chất mà quên đi cái “tâm” nghề và cái “tâm” của con người tiến hành những hoạt động vi phạm pháp luật nhằm tìm kiếm lợi ích cho bản thân mình: Thực tế vụ án luật
sư Võ Đình Minh xúi giục bị cáo khai báo gian dối làm sai sự thật của vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình tố tụng đã bị chỉ trích gay gắt như vậy trong trường hợp này, không những người bào chữa không hoàn thành được nghĩa vụ bảo
về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo mà còn có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Ngoài ra, khoản 4 điều 58 cũng đưa ra biện pháp xử lí đối với những hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ đối vơi người bào chữa Thực tế, có nhiều vi phạm của người bào Công văn VKSND huyện Cam Lộ kiến nghị xử lý luật sư Võ Đình Minh
chữa đã bị xử lí,nhưng kéo theo đó là sự vi phạm của một số điều tra viên, kiểm sát