diện hợp pháp của họ cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ thực hiện việc bào chữa hoặc có quyền nhờ người bào chữa.Dù người bào chữa là Luật sư;
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (TTHS) đã mở rộng hơn quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bào chữa Tuy nhiên, trong thực tế thì địa vị pháp lý của người bào chữa được đảm bảo ở mức độ nào thì đó là điều đã và đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ đối với riêng ngành tư pháp mà còn là vấn đề của cả xã hội Đó chính là lý do em chon vấn đề: “ Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa”
bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lí cần thiết
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 56 thì người bào chữa có thể là:
• Luật sư: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theoyêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 2 Luật Luật sư);
• Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo:
Bộ Luật TTHS không quy định rõ thế nào là “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Tuy nhiên, có thể vận dụng Điểm a Khoản 1 Điều 58 Bộ Luật Dân Sự về giám
hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi)
để hiểu người đại diện hợp pháp là: Người chưa thành niên
không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ
Trang 2đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ
không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên
đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu Hoặc người đại diện theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Người giám
hộ đối với người được giám hộ (Điều 141 BLDS)
• Bào chữa viên nhân dân: Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể cử ra để bào chữa cho bị cáo( )
Vì vậy, trong thực tế người bào chữa có: Luật sư và người dại diện hợp pháp
Để đảm bảo sự vô tư khách quan khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, Khoản 2 Điều 56 qui định những người sau đây không được bào chữa:
- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó
- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm
chứng,người giám định hoặc người phiên dịch
Theo qui định tại Khoản 3 Điều 56 thì một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau Nếu quyền và lợi ích của những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đối lập nhau thì người được bào chữa chỉ có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Khi có đề nghị của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về người bàochữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm bảođảm cho họ thực hiện quyền có người bào chữa cho mình Trongthời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điềutra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét Cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Trong trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lí do
Trang 3Đối với trường hợp tạm giữ thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra phải xem xét,cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa Trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lí do.
Đây là điểm mới so với trước đây đó là việc qui định cụ thể nghĩa vụ xem xét, cấp giấy chứng nhận bào chữa của cơ qun điều tra, Viện kiểm sát, tòa án, qui định thời hạn cụ thể của việc xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa Những sửa đổi bổsung này có ý nghĩa lớn lao đối với việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
1.2 Thay đổi người bào chữa
Pháp luật cũng có những qui định nhằm đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng và đảm bảo nguyên tắc “ Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.”:
Theo đó Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự qui định về việc “Lựa chọn và thay đổi người bào chữa Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự lựa chọn người bào chữa để thực hiện quyền bào chữa của mình Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm để người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền của họ
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người thành niên và không cónhược điểm thể chất hoặc tâm thần tự thực hiện quyền mời bào chữa Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền nhờ bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của
họ có quyền từ chối người bào chữa đã được chỉ định Không ai được phép ép buộc họ nhận người bào chữa mà họ không đồng
Trang 4ý Họ cũng có quyền thay đổi người bào chữa.
Những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cho bị can,
tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chứcmình Việc tiến hành tố tụng trong các trường hợp nói trên mà không có người bào chữa là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự
Trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cho bịcan, bị cáo và theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, văn phòng luật sư hoặc ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam đã cử người bào chữa nhưng bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không đồng ý thì họ có quyền yêu cầu thay đổi người bào chữa hoặc từ chối người bào chữa Trong trường hợp
đó, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án đã giải thích quyền cóngười bào chữa của bị can, bị cáo nhưng bị can bị cáo vẫn
không đồng ý thực hiện quyền đó của họ thì vẫn phải lập biên bản ghi nhận ý kiến này và quá trình tố tụng sẽ được tiến hành
mà không có sự tham gia của người bào chữa
Theo qui định tại Khoản 3 Điều 37 thì UBMTTQVN, các tổ chức thành viên của mặt trận có quyền cử người bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình Đây là qui định mới nhằm tăng
Trang 5cường nội dung bảo vệ dân chủ của tố tụng hình sự, tạo ra
những điều kiện bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam
1.3 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa:
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 58 thì thời điểm tham gia tố tụng hình sự của người bào chữa: Có 3 thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa:
+ Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can
+ Trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt ngườiphạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, thì người bào chữa thamgia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ
+ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng viện kiểm sát quyếtđịnh để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra
Việc qui định thời điểm đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bào chữa là người tham gia tố tụng, thực hiện chức năng bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo Để đảm bảo chongười bào chữa thực hiện chức năng của mình Bộ luật Tố tụng hình sự qui định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người bào chữa.tất cả các quyền và nghĩa vụ đó tạo thành địa vị pháp lí của
người bào chữa trong tố tụng hình sự
1.3.1 Quyền của người bào chữa
Theo quy định của Bộ luật TTHS thì người bị tạm giữ, bị can, bịcáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (Điều 11) Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đãđến tuổi thành niên và không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì họ tự bào chữa hoặc mời người bào chữa Nếu
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc làngười có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại
Trang 6diện hợp pháp của họ (cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ) thực hiện việc bào chữa hoặc có quyền nhờ người bào chữa.
Dù người bào chữa là Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay là bào chữa viên nhân dân thì trong hoạt động tham gia tố tụng hình sự, người bào chữa đều thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng; tìm ra chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị can, bị cáo và kiến nghị với các cơ quan tiến hành tố tụng về áp dụng, vận dụng chính xác pháp luật trong việc giải quyết vụ án Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó, Theo khoản 2 Điều 58 Bộ luật TTHS quy định các quyền của người bào chữa trong quá trình tốtụng, đó là:
- Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can
- Quyền được hỏi người bị tạm giữ, bị can, nếu điều tra viên đồng ý
- Quyền có mặt trong các hoạt động điều tra khác
- Quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng liên quan đến người mình bào chữa
- Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cùng bị can
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo qui định của bộ luật tố tụng hình sự
- Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác
- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật , yêu cầu;
Trang 7- Quyền gặp người bị tạm giữ;
- Quyền gặp bị can,bị cáo đang bị tạm giam;
- Quyền đọc, ghi chép, sao chép các tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo qui định của pháp luật;
- Quyền tham gia tranh hỏi tại phiên tòa
- Quyền khiếu nại quyết định,hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất qui định tại điểm b khoản 2 điều 57 của bộ luật tố tụng hình sự
Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho người bào chữa thực hiện các quyền của họ.Cùng với việc thực hiện các quyền trên để bào chữa về hình sự, người bào chữa phải có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do phápluật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Đồng thời, giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ về trách nhiệm dân sự gắn liền với trách nhiệm hìnhsự
1.3.2 Nghĩa vụ của người bào chữa:
Người bào chữa có những nghĩa vụ nhất định Theo Khoản 3 Điều 58 người bào chữa có những nghĩa vụ sau:
- Nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để làm sáng tỏ nhưng tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,
bị cáo;
- Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì người bào chữa có trách nhiệm giao
Trang 8cho cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án Việ giao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụngphải được lập biên bản theo qui định tại điều 95 của bộ Luật này.
- Nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
- Nghĩa vụ không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo mà chính mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không
có lí do chính đáng
- Nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật
- Nghĩa vụ không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục
người khác khai báo gian dối cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của tòa án
- Nghĩa vụ không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa
- Nghĩa vụ không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Bộ luật tố tụng hình sự qui định trách nhiệm của người bào chữatrong trường hợp vi phạm pháp luật Theo Khoản 4 Điều 58 người bào chữa làm trái pháp luật tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lí kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo qui định của pháp luật
Điều 58 có những sửa đổi bổ sung quan trọng về các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người bào chữa theo hướng mở rộng các quyền cảu người bảo chữa, bổ sung thêm nghĩa vụ của người bào chữa, qui định các loại trách nhiệm pháp lí của nười bào chữa trong trường hợp họ làm trái pháp luật để bảo đảm chongười bào chữa thực hiện có hiệu quả chức năng của mình
Tuy nhiên, ở đây cũng cần phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của
Trang 9người bào chữa trong trường hợp là luật sư hoặc là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Nếu người bào chữa là luật sư thì họ được phép thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa để giúp đỡ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trên cả 2 phương diện trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự Trong trường hợp người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì theo quy định của Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự, họ có đầy
đủ các quyền của người được đại diện trong đó có quyền tự địnhđoạt của đương sự đối với những vấn đề về dân sự phát sinh từ trách nhiệm hình sự, đặc biệt là việc bồi thường và thoả thuận, thống nhất mức bồi thường giữa bị can, bị cáo và người bị hại trong vụ án hình sự
Vì vậy, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa trường hợp người bào chữa là luật sư và trường hợp người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật TTHS về quyền và nghĩa vụ của người bàochữa như hiện nay chưa thể hiện rõ được quyền của người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Do vậy, vấn đề này cần xem xét, sửa đổi để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định của Bộ luật TTHS, Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự
2 Thực tiễn thi hành những qui định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và hướng hoàn thiện những qui định này
2.1 Thực tiễn thi hành những qui định của pháp luật về Quyền của người bào chữa:
• Thời điểm người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng:
Theo qui định của pháp luật về quyền của người bào chữa thì người bào chữa được hưởng một số quyền khi tham gia vào hoạt
Trang 10động tố tụng hình sự nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, những quyền này của người bào chữa
bị hạn chế rất nhiều:
Theo qui định của pháp luật thì có ba thời điểm người bào chữa() tham gia vào quá trình tố tụng
+ Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can
+ Trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt ngườiphạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, thì người bào chữa thamgia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ
+ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng viện kiểm sát quyếtđịnh để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra
BLTTHS hiện hành đã quy định LS được tham gia từ khi có quyết định tạm giữ Nhưng trên thực tế rất ít vụ LS được tham gia ngay từ thời điểm này Bởi vì hiện nay, không có một cơ chế, thủ tục, trình tự nào quy định buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để LS tham gia Để có GCN người bào chữa để gặp bị can trong trại tạm giam, cơ quan điều tra yêu cầu
LS đủ năm loại giấy tờ: Thẻ LS; Giấy đăng ký hoạt động văn phòng LS; Chứng chỉ hành nghề; Hợp đồng với khách hàng và Giấy giới thiệu của văn phòng LS Như vậy, về chủ quan có thể nhận thấy không phải dễ dàng gì các LS có được giấy tờ chứng nhận để tham gia vào tố tụng Trong thực tiễn,người bào chữa được tham gia vào quá trình tố tụng ngay từ giai đoạn điều tra rất khó khăn và đặc biệt trong những vụ án lớn là rất “hiếm” Nếu vụ án ít phức tạp, tính chất đơn giản, việc này dễ dàng hơn
• Quyền yêu cầu tòa án cấp giấy chứng nhận người bào chữa:Theo qui định của pháp luật thì kể từ thời điểm người bào chữa được Tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa thì họ mới có “giấy thông hành” để thực hiện các quyền và nghĩa vụ bào chữa của
Trang 11Tuy nhiên, không phải khi họ yêu cầu tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa là họ được xem xét giải quyết trong “3 ngày” theo qui định tại Khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự mà trong thực tế, Gần 100% các trường hợp không được cấp giấy chứng nhân bào chữa đúng thời hạn 3 ngày, cá biệt có khi kéo dài hơn một năm Lí giải cho nguyên nhân của tình trạng này, cơquan có thẩm quyền đã trả lời rằng: Bưu điện chuyển đến chậm (nếu gửi qua bưu điện) hoặc người có thẩm quyền cấp giấy đi công tác vắng Trong khi đó, ở cương vị cơ quan kiểm soát, một đại diện Viện phúc thẩm VKSND Tối cao cho biết: "Việc cấp giấy chứng nhận bào chữa nếu đầy đủ thủ tục chỉ cần 15 phút là xong Đó là trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải làm"
Một vướng mắc lâu nay trong hoạt động luật sư là trình và thu giữ giấy chứng nhận người bào chữa chưa được Thông tư đề cập Với nhiều luật sư, tờ giấy này như "thông hành" cho họ vàotrại giam gặp thân chủ Nhưng một cái "lệ" đang được áp dụng ởhầu hết các trại là mỗi lần tới gặp thân chủ, luật sư phải nộp lại giấy chứng nhận người bào chữa gốc Có nghĩa là muốn gặp đương sự vài lần, Luật sư cũng phải xin được vài giấy chứng nhận Chỉ một số trại tạm giam lớn có máy photocopy thì "linh động" giữ bản sao
Do vậy, rất nhiều người bào chữa, chủ yếu là giới Luật sư cho rằng "Tại một số trường hợp, giấy chứng nhận người bào chữa được cơ quan điều tra sử dụng như một "công cụ" để hạn chế luật sư tham gia tố tụng"
• Quyền tham gia vào quá trình tố tụng:
Trong giai đoạn điều tra, người bào chữa có quyền: “Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cùng bị can” Pháp luật
Trang 12có những qui định cụ thể về quyền “có mặt”, “tham gia” của người bào chữa trong giai đoạn này nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ngay từ khi bị tạm giữ đảm bảo nguyên tắc: “đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Và về nguyên tắc, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có quyền im lặng cho tới khi có mặt của người bào chữa
Tuy nhiên, trong thực tiễn bên cạnh việc thực hiện nghiêm chỉnhmột số nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự thì vẫn có những
vi phạm nghiêm trọng những nguyên tắc này nói chung, việc đảm bảo quyền của người bào chữa nói riêng Theo đánh giá củanhững người đã từng tham gia bào chữa, chủ yếu là giới Luật sư cho rằng: Bộ luật tố tụng hình sự có nhiều quy định trao quyền cho các luật sư tranh tụng nhưng việc thực thi các quyền này rất hạn chế và gặp không ít rào cản từ chính các cơ quan tố tụng Khái quát chung, chỉ 50% quyền của luật sư theo quy định của
Bộ luật được thực thi
Theo qui định của pháp luật thì khi cơ quan điều tra tiến hành hoạt động lấy lời khai thì người bào chữa có quyền có mặt và cơquan điều tra phải tạo mọi điều kiện để người bào chữa có thể tham gia hoạt động lấy lời khai của người bị tạm giữ cũng như
có quyền được biết thời gian địa điểm, có mặt khi hỏi cung bị can Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc người bào chữa yêu cầu cơ quan điều tra “cho” mình tiến hành “quyền” của mình vô cùng khó khăn
Trong một cuộc trao đổi với các Luật sư thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, đoàn Luật sư TPHCM, đoàn Luật sư Tỉnh Long An, có Luật sư bạo miệng đã nói rằng: “Từ khi bị tạm giữ,
“đố” người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói rằng: tôi không trả lời bất kì câu hỏi nào cho tới khi tôi gặp được luật sư của tôi” như một số nước trên thế giới( ) Vì ở nước ta, cơ quan điều tra sẽ
‘có cách” xử đẹp”! Chỉ điều này thôi, cho ta thấy rằng, bên cạnh
Trang 13những vi phạm nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự thì vô hình chung, việc người bào chữa được thực hiện “quyền” Pháp định vô cùng khó khăn
Điểm a Khoản 2 Điều 58 qui định cho Luật sư có quyền: “có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, vànếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can,
và có mặt trong những hoạt động điều tra khác, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”
Tuy nhiên, trong thực tiễn, người bào chữa được “có mặt” khi
cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai, hỏi cung người bị tạm giữ, bị can và điều vô cùng nan giải
Về phía cơ quan điều tra họ cho rằng: sự có mặt của người bào chữa chỉ thêm “rối” thậm chí có một số luật sư có mặt không nhằm mục đích bào chữa mà nhằm mục đích : ‘chạy’ án
Về phía người bào chữa, chủ yếu các luật sư cho rằng: cơ quan điều tra luôn gây khó khăn cho họ Rõ ràng Điểm b Khoản 2 Điều 58 qui định: “Quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cùng bị can” Nhưng khi cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai và hỏi cung bị can, bị cáo thì không những không báo trước cho người bào chữa mà người bào chữa còn phải “lần mò” khắp các trại, hỏi thân chủ ở đâu Thậm chí một số luật sư còn phản ánh rằng: tôi cử hẳn một chánh văn phòng hôm nào cũng gọi điện thoại cho điều tra viên hỏi khi nào gặp thân chủ tôi để luật sư đi cùng Các anh đều bảo hôm nay không đi, nhưng thực tế không phải vậy! Cả quá trình tham gia bảo vệ cho thân chủ của tôi, tôi chỉ được gặp duy nhất một lần”!
Hơn thế nữa, khi người bào chữa gặp được thân chủ của mình thì dù luật không có qui định điều tra viên phải có mặt nhưng thực tế, luôn có điều tra viên “kè kè” bên cạnh trong suốt quá
Trang 14trình người bào chữa gặp thân chủ( ) Thậm chí trong thực tiễn còn có những hành vi vi phạm tố tụng được nhận định “Không biết điều này có đúng luật hay không mà ông Luân còn thách thức Luật sư muốn kiện ông ta thì cứ tự nhiên Nếu Ông Luân cậy quyền thế xem thường pháp luật thì chắc chắn CAQ9 phải đối phó với sự phẫn nộ của người dân trong một tương lai gần đây”( ) đây là lời nhận xét cho đơn khiếu nại của Văn phòng Luật sư Pháp Quyền gởi đến Trưởng CA quận 9 và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại hành vi vi phạm phạm pháp luật của ông Nguyễn Minh Luân
- Phó CA quận 9, kiêm Trưởng Nhà tạm giữ Với Lý do: Ông Luân đã có hành vi cản trở Luật sư tiếp xúc các bị can đang bị tam giam bằng cách đòi hỏi phải có Kiểm sát viên đi cùng Luật
sư mới được gặp bị can, dù Viện trưởng Viện kiểm sát quận 9 đãcấp giấy chứng nhận bào chữa cho các Luật sư
Như vậy thì: trong thực tế, việc đảm bảo cho người bào chữa có các “quyền” như Bộ luật tố tụng hình sự qui định là rất khó
khăn
Quy định chỉ định luật sư đối với trường hợp nghi phạm là vị thành niên, biên bản hỏi cung đối tượng phải có chữ ký của luật
sư thì trong thực tế, có những biên bản không có chữ kí của luật
sư, có những trường hợp, sau khi cơ quan điều tra hỏi cung xongđối tượng này (đã có biên bản) thì mới “nài nỉ” và khẩn trương cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người bào chữa để họ
kí vào biên bản cho hợp lệ( )!
Theo qui định tại Điểm d, g Khoản 2 Điều 58 thì người bào chữa
có quyền: “thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, Quyền đọc, ghi chép, sao chép các tài