Tên sáng kiến: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH QUA CÁC DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ TÁC PHẨM/ĐOẠN TRÍCH KÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT 2... Một số vấn
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến:
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO
CHO HỌC SINH QUA CÁC DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
VỀ TÁC PHẨM/ĐOẠN TRÍCH KÍ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
2 Lĩnh vực (mã)/ cấp học: Văn (01)/THPT
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 5 tháng 09 năm 2019 đến ngày 5 tháng 7 năm 2021
4 Tác giả:
Trang 2DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1
PHẦN II MÔ TẢ GIẢI PHÁP 4
A Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 4
I Thực trạng dạy của giáo viên môn Làm văn nghị luận văn học 4
II Thực trạng học của học sinh trong môn Làm văn nghị luận văn học 6
III Thực trạng khác 10
IV Sự cần thiết đề xuất giải pháp mới trước thực trạng dạy và học môn Làm văn nghị luận văn học hiện nay 10
B Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 10
I Một số vấn đề lí luận 10
1.Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 10
2.Các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm kí trong chương trình Ngữ văn THPT 14
II.Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua qua các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT 17
1.Xây dựng kế hoạch bài dạy về các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng dạy học giải quyết vấn đề 17
2.Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT 19
III.Thực nghiệm sư phạm 88
1.Mục đích thực nghiệm 88
Trang 42.Địa điểm, đối tượng và thời gian thực nghiệm 88
3.Tiến trình thực nghiệm (đã trình bày ở trên) 89
4.Kết quả thực nghiệm 89
PHẦN III HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI 93
PHẦN IV CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 5BÁO CÁO SÁNG KIẾNPHẦN I ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam
Xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học phổ thôngcủa Đảng, Nhà nước Nghị quyết, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Nghị quyết số44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 chương trình giáo dục trung học phổ thông có nhữngđịnh hướng đổi mới cụ thể như sau:
Thứ nhất, chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sang chương
trình định hướng năng lực: Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chấtlượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩmchất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thựctiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộcsống và nghề nghiệp
Thứ hai, định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương
trình giáo dục cấp trung học phổ thông, từ các phẩm chất và năng lực chung mỗimôn học xác định những phẩm chất và năng lực chuyên biệt, những yêu cầu đặt racho từng môn học, từng hoạt động giáo dục
Thứ ba, có sự tích hợp và phân hóa sâu trong dạy học Dạy học tích hợp là
định hướng dạy học để học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức,
kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề tronghọc tập và trong cuộc sống Phân hóa trong dạy học (hay dạy học phân hóa) là địnhhướng dạy học bảo đảm sự phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau (về hoàncảnh, đặc điểm tâm - sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú, sở thích cá nhân),nhằm phát triển tối đa điều kiện và tiềm năng của mỗi học sinh
Thứ tư, giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấpTHPT) nhằm phát triển năng
lực theo sở trường, nguyện vọng của từng học sinh, bảo đảm học sinh tiếp cậnnghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau có chất lượng hoặc tham gia cuộcsống lao động
Trang 72 Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài
Văn học là một trong những môn học đảm nhiệm vai trò cốt lõi, có “sứ mệnh”quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng và hình thành, phát triển phẩmchất, năng lực cho học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục Một trong những thểloại giàu màu sắc văn chương, dễ đọc, cuốn hút, giàu giá trị nghệ thuật và thể hiệnrất tốt chức năng văn học đó là thể loại kí Khi đọc hiểu tác phẩm kí, nhất thiết takhông sa vào chi tiết, liệt kê chi tiết rồi nhận xét bình giá như đọc hiểu truyện màcần chú ý không gian hiện thực như thật qua liên tưởng và xúc cảm của người viết.Bạn đọc sẽ không chỉ thấy rất cụ thể và chính xác từng sự việc, sự vật được trầnthuật mà còn thấy từng thứ hiện ra theo câu văn và con chữ đẹp quyến rũ và lôicuốn Đọc kí, nhất là tùy bút, bút kí, độc giả khó cưỡng nổi sự lôi cuốn của sự việc
là thế Bút pháp biến hóa trần thuật liên tưởng tạt ngang tạt dọc, mở thứ này, mởluôn thứ khác để mong thỏa mãn trí tò mò khám phá của bạn đọc đã mang đến sứcsống lâu bền cho thể loại kí Với chất riêng ấy, Đọc – hiểu kí và Làm văn NLVH vềthể loại kí chính là quá trình đồng sáng tạo giữa nhà văn – chủ thể sáng tạo và họcsinh – chủ thể tiếp nhận Để thỏa niềm đam mê khám phá địa hạt văn chương, đểtạo ra không khí, không gian lớp học mang đậm sắc màu văn chương, để HS luôn
tự chủ, tự tin là chính mình, thổi được sắc màu cá nhân của mình trong giải quyếtcác nhiệm vụ học tập và sáng tạo, không có cách nào khác là phải thay đổi cáchnhìn, tư duy, định kiến cho người dạy và người học mà mấu chốt thay đổi PPDHtheo hướng phát triển năng lực cho người học Đây là vấn đề sống còn của dạy Văn– học Văn Và đề tài phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS quacác dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm kí trong chương trình Ngữ văn THPTnhằm phục vụ trực tiếp, cụ thể cho HS khối 11, 12, đặc biệt cho các bạn chọn khốithi C, D trong thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia thông qua học tập và trải nghiệmsáng tạo về kí, về môn Làm văn NLVH trong nhà trường Do vậy trong quá trìnhhọc tập và trải nghiệm sáng tạo, các bạn được chủ động thu thập, xử lý thông tin;tích cực thực hiện các hành động học tập, chiếm lĩnh tri thức hiệu quả và phát triểncác kĩ năng tự học, tự giải quyết vấn đề và sáng tạo Để rồi từ đó
Trang 8các bạn cảm thấy hào hứng, tự tin và có nhiều quyết tâm hơn trong việc giải quyếtvấn đề của môn học cũng như các vấn đề từ thực tiễn cuộc sống.
3 Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của thời đại
- Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà trường phổ thông: PPDH phải nhằmphát triển tối đa sự suy nghĩ độc lập của HS, kĩ năng đạt đến và vận dụng tri thức,góp phần định hướng nghề nghiệp Vì vậy, phát triển chương trình giáo dục phổthông dựa trên tiếp cận NL: NL nhận thức, NL giải quyết vấn đề, NL hành động,
NL sáng tạo, NL làm việc nhóm, NL thích ứng với môi trường,…, đặc biệt trong đó
NL giải quyết vấn đề và sáng tạo là một lựa chọn tất yếu khách quan và phù hợpvới xu thế phát triển của xã hội
- Theo tâm lí phụ huynh và dư luận xã hội: trông mong ở mỗi con em/ côngdân sự hoạt bát, nhanh nhạy, tinh tường, am hiểu, không rập khuôn, không là bảnsao hay phiên bản sẵn có
- Theo yêu cầu nghề nghiệp: cần thiết mỗi người lao động chân tay hay trí óc
có khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, phát huy sở trường, năngkhiếu, làm theo năng lực, trả lương theo vị trí việc làm
Như vậy, trong quá trình dạy - học ở trường trung học phổ thông hiện nay,nhiệm vụ phát triển các NL cốt lõi cho HS trở thành nhiệm vụ vô cùng quan trọng.Nhiệm vụ đó đòi hỏi tiến hành đồng bộ ở tất cả các cấp học, các môn học trong đó
có bộ môn Ngữ văn Do đó, việc đổi mới PPDH trong giáo dục, đào tạo ở nước ta
đã trở thành một yêu cầu tất yếu và cấp thiết
PHẦN II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
A Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
I Thực trạng dạy của giáo viên môn Làm văn nghị luận văn học
Giải pháp cũ thường làm - “truyền thụ một chiều” Theo đó GV chủ yếu sử dụngPPDH NLVH nói chung, NLVH về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữvăn THPT nói riêng là diễn giảng, bình và giảng theo các đề có sẵn và bài văn mẫu
1 Ưu điểm
Trang 9- GV chủ động trong giờ dạy (cung cấp kiến thức, sử dụng phương tiện dạyhọc, xử lý thời gian)
- Tránh được thời gian “chết” hay quá mất thời gian cho một vấn đề trong giờ học
- Đảm bảo kế hoạch bài dạy
- Hiệu suất giờ học, chất lượng giáo dục bình ổn đều
2 Nhược điểm
- Theo lối mòn văn chương đã định sẵn trong thời gian qua, việc dạy họcmôn Làm văn NLVH (giờ Phụ đạo chiều) vẫn theo phương pháp truyền
thống “truyền thụ một chiều” với PPDH chiếm ưu thế vẫn là các phương
pháp thuyết trình tức là trong giờ học, GV giảng bài, HS lắng nghe, ghichép, sau đó trả bài trong phần kiểm tra miệng hay trong các tiết kiểm tra
và thi tập trung Gần đây, theo yêu cầu đổi mới PPDH của Bộ GD & ĐT,việc dạy học bộ môn đã có một số thay đổi như đã chú ý đến đối tượng chủthể giờ học là HS, tăng cường đối thoại giữa GV và HS, tăng cường việcthảo luận nhóm … Tuy nhiên, “bình mới rượu cũ”, sự đổi mới ấy còn nặng
nề, chiếu lệ về hình thức, việc hoạt động nhóm của HS chưa thực sự hiệuquả, GV vẫn vô cùng vất vả trong chọn, đọc tư liệu, soạn giáo án, nóinhiều, cho ghi chép dài khi đứng lớp; vẫn mang nặng áp lực chất lượng thicử; chưa thực sự tin tưởng vào khả năng tự học và sáng tạo của HS, ít/không trao cơ hội học tập, nghiên cứu tới HS
- Thiếu sự tương tác giữa GV – HS, HS – HS: trong quá trình giảng dạy vàhọc tập, GV chỉ miệt mài quan tâm đến việc dạy, HS lại chăm chăm quantâm đến việc ghi chép bài nên thiếu đi sự tương tác lẫn nhau
- Giờ học vì thế tẻ nhạt, thiếu sự sinh động, hấp dẫn
- Hiệu suất giờ học, chất lượng giáo dục thiếu bước đột phá, cải tiến
Để cụ thể hơn, tôi đã sử dụng Phiếu điều tra để khảo sát thực nghiệm việc dạyhọc làm văn NLVH với chương trình Ngữ văn 12 ở trường THPT Nguyễn Khuyến– Nam Định (Mẫu phiếu điều tra ở phần Phụ lục 1)
Trang 10KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
45 40 35 30 25 20 15 10 5 0 Hỏi - ĐápSơ đồ tưThuyết trìnhHội thảoTình huốngĐóng vaiLàm việc duycó minh họanhóm
II Thực trạng học của học sinh trong môn Làm văn nghị luận văn học
1 Ưu điểm
- HS nghe, ghi chép, nhớ, hiểu kiến thức, đặc biệt với HS ban A thường cótâm lí “ỷ nại” kiến thức thầy/ cô đã cung cấp, ngại đọc tài liệu tham khảo;đảm bảo độ an toàn kiến thức phục vụ thi cử
- Theo đó, bộ môn khoa học nghệ thuật này ít/ không làm khó/ mệt HS, đặcbiệt với HS thiếu tố chất văn chương
2 Nhược điểm
- HS thụ động; thui chột/ làm mất khả năng sáng tạo; yếu các kĩ năng mềm:tranh biện, gieo và giải quyết vấn đề, hợp tác, … ; không hình thành thóiquen tự học
- Thiếu sự hứng thú và đam mê với việc học: HS không có hứng thú, niềmđam mê với tiết học Làm văn NLVH, dẫn đến việc học tập không hiệu quả
- Thiếu đi những kỉ niệm học trò trong/qua giờ học
Khi được hỏi về mức độ tích cực tham gia học tập của lớp 12A6 trường THPTNguyễn Khuyến, lớp 12G trường THPT Trần Văn Bảo, lớp 12A3 trường THPTLương Thế Vinh (đều thuộc tỉnh Nam Định); lớp 12C1 Trường PTDT Nội TrúMường Nhé (Điện Biên) trong giờ Phụ đạo chiều, chúng tôi thu được kết quả sau:
Trang 11PHIẾU ĐIỀU TRA CÁ NHÂN (Dành cho học sinh)
Thái độ đón nhận của anh/chị với PPDH giải quyết vấn đề?
Lớp Tỉ lệ % Số HS
Mức độ (Lần I)
Hào hứng tiếp nhận
PP mới
Bình thường, bản thân không có ý kiến gì
Thờ ơ nhưng không làm ảnh hưởng đến lớp học
Làm việc riêng
Trang 12PHIẾU KHẢO SÁT PTDT NỘI TRÚ MƯỜNG NHÉ - LẦN I
Hào hứng Bình thường Thờ ơLàm việc riêng
Hào hứng Bình thường
28%
63%
Trang 13PHIẾU KHẢO SÁT THPT LƯƠNG THẾ VINH - LẦN I
Hào hứng Bình thường Thờ ơ Làm việc riêng
4% 7%
47%
42%
Trang 14III Thực trạng khác
- Bối cảnh của đời sống kinh tế xã hội thời kinh tế thị trường đã tác độngmạnh mẽ đến quan niệm, nhận thức, thái độ và hành động của phụ huynh HS nóiriêng và nhân dân nói chung Cách nhìn về giáo dục, về phân môn Làm văn cũngnhư môn Ngữ văn có phần thực tế đến thực dụng Họ chưa quan tâm nhiều đếnchức năng mang tính nhân văn của việc học tập môn học này trong khi rất nặng nề
về điểm số Cùng với đó tâm lí phụ huynh HS, dư luận xã hội dành cho bộ môncũng không mấy thiện cảm: giờ học làm văn đọc chép, mệt mỏi, buồn ngủ, ngủ gật,nghe ù tai, chép nhừ tay, không đi học cũng không lo/ không mất gì cả, vẫn mượn
vở bạn chép được đủ kiến thức, không phải động não tư duy
IV Sự cần thiết đề xuất giải pháp mới trước thực trạng dạy và học môn Làm văn nghị luận văn học hiện nay
Xuất phát từ những thực trạng trên, để giúp GV và HS khắc phục được nhữnghạn chế trong quá trình dạy - học Làm văn NLVH, tôi xin đề xuất giải pháp đượctrình bày cụ thể trong các phần sau đây
B Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
I Một số vấn đề lí luận
1 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
1.1 Khái niệm về năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
1.1.1 Khái niệm về năng lực
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân, thể
hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắnmột hay một số dạng hoạt động nào đó”
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho
con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổ hợp các thuộc
tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định,đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quảcủa hoạt động Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồngthời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy
Trang 15Như vậy các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cánhân nơi đóng vai trò quan trọng Năng lực của con người không phải hoàn toàn do
tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
1.1.2 Khái niệm về năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực GQVĐ có thể được hiểu là khả năng của con người phát hiện ravấn đề cần giải quyết và biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm củabản thân, sẵn sàng hành động để giải quyết tốt vấn đề đặt ra Năng lực GQVĐ là tổhợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạtđộng nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của vấn đề Có thể nói năng lựcGQVĐ có cấu trúc chung là sự tổng hòa của các năng lực trên
1.1.3 Khái niệm về năng lực sáng tạo
Các nhà nghiên cứu tâm lí học đã đưa ra định nghĩa về “năng lực sáng tạo”:
“là khả năng tạo cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người”,
“là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chấtđộc đáo của cá nhân đó”
Trang 161.2 Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Năng lực GQVĐ và ST bao gồm năm năng lực thành phần với các biểu hiệncủa năng lực GQVĐ và ST
BẢNG MÔ TẢ CẤU TRÚC NĂNG LỰC GQVĐ VÀ ST
Phát hiện và làm rõ
vấn đề
Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập,trong cuộc sống
Đề xuất, lựa chọn
giải pháp
Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề;
đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất
Nhận ra ý tưởng mới Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ
các nguồn thông tin khác nhau; phân tích các nguồn thôngtin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ýtưởng mới
Hình thành và triển
khai ý tưởng mới
Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống;suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trênnhững ý tưởng khác nhau; hình thành và kết nối các ýtưởng; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổicủa bối cảnh; đánh giá rủi ro và có dự phòng
Đánh giá theo năng lực là đánh giá năng lực người học được hiểu là đánh giákhả năng áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề trongcuộc sống thực tiễn
Trang 17Đánh giá năng lực GQVĐ của người học không lấy việc kiểm tra khả năng táihiện kiến thức đã học làm trọng tâm mà chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạotri thức trong những tình huống sáng tạo khác nhau.
Đánh giá năng lực thông qua các sản phẩm học tập và quá trình học tập củangười học, đánh giá năng lực người học được thực hiện bằng một số phương pháp(công cụ) sau: Đánh giá qua quan sát, đánh giá qua hồ sơ học tập, tự đánh giá,đánh giá qua bài kiểm tra, đánh giá đồng đẳng
1.3 Để đạt mục tiêu phát triển năng lực thông qua cái “Có” GV cần làm gì?
- Tìm hiểu bản chất năng lực, kĩ năng đó là gì?
- Mức độ đạt được của năng lực?
- Xây dựng bộ công cụ để phát triển năng lực
- Xác định nội dung hoạt động của HS: yêu cầu/nhiệm vụ cụ thể mà HS phải
thực hiện, trả lời các câu hỏi: HS làm gì? Cùng với ai? Với học liệu gì để nhằm mục đích gì? Cốt lõi: Tạo được tình huống có vấn đề cho HS.
- Sản phẩm chính là câu trả lời tương ứng với nội dung; là căn cứ để GV định
hướng cho HS thực hiện nhiệm vụ, định hướng thảo luận và đánh giá kết quảthực hiện nhiệm vụ của HS Đó cũng là vấn đề để GV kết luận, chốt kiếnthức/kĩ năng cho HS ghi vào vở sau hoạt động học tập
Như vậy từ mục tiêu Lên ý tưởng dạy học Xây dựng công cụ rèn luyện
và phát triển năng lực (là các nhiệm vụ học tập mà GV giao cho HS thực hiện câuhỏi/bài tập) Lựa chọn giải pháp thực hiện (PPDH/KTDH) Chuyểngiao nhiệm vụ cho HS hoạt động Và thực hiện đổi mới tiếp cận phát triển năng lựcchính là việc GV lựa chọn đúng/thực hiện hợp lí để đạt mục tiêu, kết quả (HS tíchcực, hứng thú, thực hiện hiệu quả,…)
1.4 Các bước tổ chức dạy học giải quyết vấn đề
Quy trình thực hiện dạy học giải quyết vấn đề gồm các bước sau đây:
Bước 1 Đặt vấn đề
Trang 18 Tạo tình huống có vấn đề
Phát hiện và nhận dạng vấn đề
Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Bước 2: Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề
Đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề
Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
Thực hiện kế hoạch
Bước 3 Trình bày giải pháp – báo cáo kết quả
Thảo luận kết quả và đánh giá
Chú ý: Trong dạy học giải quyết vấn đề sử dụng kĩ thuật dạy học giải quyết vấn đề
(Xem ở Phụ lục 3: Một số kỹ thuật dạy học để phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Kí là một trong bốn loại hình văn học (tự sự, trữ tình, kịch và kí), thuộc thểvăn xuôi, có tác phẩm kí trữ tình, có tác phẩm kí tự sự, có tác phẩm vừa trữ tình vừa tự sự
Trang 19Kí là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật
kí, tùy bút,
- Đặc trưng của kí:
+ Tính xác thực, tôn trọng sự thật khách quan
+ Bộc lộ cái “tôi” của tác giả
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Na có lí khi cho rằng: “Kí chỉ thực
sự ra đời khi người cầm bút trực diện trình bày đối tượng được phản ánh bằng cảmquan của chính mình”
- Các loại hình tượng kí:
Đối tượng phản ánh trong tác
phẩm: thiên nhiên, quang
cảnh, con người, …
Chân xác, khách quan
Bức tranh phủ chúa, Sông
Đà, sông Hương, người lái
đò …Con người nhà văn
(cái “tôi”, tâm hồn, phong
cách, …)
Trực tiếp, chânthực, rõ nét
Chân dung tinh thần Lê HữuTrác, cái “tôi” của NguyễnTuân, cái “tôi” của HoàngPhủ Ngọc Tường
2.1.2 Phân biệt tùy bút và bút kí
- Đều thuộc thể loại kí, viết về người thực, việc thực, những điều mắt thấy tainghe của nhà văn từ các chuyến đi cùng với cảm nghĩ của mình tạo được sựhấp dẫn qua tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, diễn đạt của tác giả đối vớivấn đề được đề cập tới
- Không có ranh giới rạch ròi giữa các loại kí (bút kí, kí sự, tùy bút) mà biến hóatùy theo ý định sáng tác và đặc điểm, bút pháp của nhà văn
- Thiên về bộc lộ cảm xúc, suy tư và
nhận thức, đánh giá của tác giả về con
người và cuộc sống
- Thiên về ghi lại những con ngườithực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu,nghiên cứu
- Thường được xem là thể trung giangiữa kí sự và tùy bút
Trang 202.1.3 Hình tượng nghệ thuật trong kí
Văn học nhận thức và thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật
Văn thơ hàm chứa tư tưởng tình cảm Nhưng văn chương không nói ý mộtcách khô khan Văn chương đích thực là hoa quí nên mới có hương sắc Vănchương thấm vào lòng người, bất tử với thời gian, không có biên giới bởi lẽ vănhọc nhận thức và thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật
Hình tượng nghệ thuật do nhiều yếu tố, chi tiết nghệ thuật hợp thành.Đọc tác phẩm văn học phải phát hiện ra và cảm nhận các chi tiết nghệ thuật, có thếmới khám phá được cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật
Trong thơ văn, hình tượng nghệ thuật có thể là một bông hoa, một vầngtrăng, một nàng Kiều, một Từ Hải – cũng có thể là một nét của tâm trạng, tình cảmnhư “Tương tư” của Nguyễn Bính, v.v…
Vậy, hình tượng là bức vẽ về con người, về cuộc đời, về thiên nhiên cụ thểđược nhà văn sáng tạo nên qua liên tưởng, tưởng tượng để thể hiện tư tưởng, tìnhcảm và khái quát hiện thực một cách thẩm mĩ Có cảm nhận được hình tượng mớithấy được cái hay, cái ý vị của văn chương
2.1.4 Một số lưu ý khi làm bài nghị luận văn học về tác phẩm kí
Kí sự, tùy bút và bút kí đều có sự giao thoa giữa tự sự và trữ tình, do vậy khitiếp cận và cảm nhận cần làm rõ:
- Hiện thực được ghi chép (nội dung, đối tượng tác phẩm tùy bút, bút kí hướng tới)
- Cái “tôi” trữ tình/tâm hồn của tác giả trong tác phẩm
- Phong cách nghệ thuật của tác giả
2.2 Các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm kí
Viết bài nghị luận văn học nói chung, bài nghị luận văn học về kí nói riêng
là phần quan trọng nhất của nội dung đề thi, vì riêng dạng câu hỏi này đã chiếmmột nửa tổng số điểm (5 trên 10 điểm của toàn bài) và vì đây là câu có dung lượnglớn nhất trong đề để thí sinh bộc lộ khả năng viết một bài văn nghị luận văn họccủa mình Với câu hỏi này, HS cần lường trước những khả năng trong tình huống
ra đề, các dạng đề trong phần tác phẩm/đoạn trích, cách nhận biết yêu cầu cụ thểcủa đề, hướng giải quyết, …
Trang 21II Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua qua các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT
1 Xây dựng kế hoạch bài dạy về các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng dạy học giải quyết vấn đề
Tên bài dạy: Các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT
Kế hoạch bài dạy:
MỤC TIÊU
Kiến thức
Hệ thống hóa kiến thức về 03đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn 11,12
Các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí
Kỹ năng: Rèn kĩ năng làm các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn
trích kí
Thái độ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nắm chắc “chìa khóa” về các dạng bài làm văn nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí
Hình thành phẩm chất, lối sống trách nhiệm, nhân ái
Năng lực hướng đến: Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, năng lực tự học
PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC
- PP dạy học giải quyết vấn đề, đàm thoại gợi mở/đàm thoại tìm tòi
- Dạy học theo tình huống
- Hình thức hoạt động nhóm
- Kỹ thuật chia nhóm, dạy học mảnh ghép, khăn trải bàn, phân tích phimvideo, trạm, phòng tranh, giao nhiệm vụ, “trình bày 1 phút”, sơ đồ tư duy/mindmap, “tia chớp”, động não,…
Trang 22CHUẨN BỊ
- Giáo viên: Tranh ảnh, video về tác giả, tác phẩm (hình tượng sông Đà, sông
Hương), tình huống/bài tập thực tiễn
- Học sinh: Bảng hệ thống hóa kiến thức về 03 đoạn trích được học trong
chương trình
TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Chia nhóm và giao nhiệm vụ tìm hiểu kiến thức, vận dụng kiến thức phân hóatheo phong cách học tập
Hoạt động
PP/KT dạy học
HĐ khởi động
- Tạo tình huống có vấn đề: Thông qua tròchơi, xem clip, kể chuyện, đóng vai…Tạokhông khí học tập sôi nổi, sự tích cực củacác thành viên
- Phát hiện vấn đề: Mỗi đoạn trích kí córất nhiều dạng đề hỏi, nhiều cách hỏi chocùng một dạng đề và có thể còn có nhữngdạng đề xâu chuỗi các đoạn trích Do vậytrước khi làm bài, HS phải dành thời gianphân tích, suy xét thật rõ ràng yêu cầu cụthể của đề ra là gì? Đề ra yêu cầu phântích, bình giảng, bình luận, chứng minhhay giải thích? Nội dung vấn đề ra sao?
Phạm vi dẫn chứng cụ thể như thế nào?
- Đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề: Hệthống thành các dạng đề NLVH về tácphẩm/đoạn trích kí
- Trực quan
- Hỏi đáp
- Phân tíchphim viedo
- Sử dụngCNTT
Trang 23- Kỹ thuậtphòng tranh,trạm, chianhóm, độngnão, mindmap
HĐ củng cố luyện
tập
- Triển khai viết các đoạn cụ thể về mởbài, thân bài (giới thiệu chung, triển khaivấn đề trọng tâm, đánh giá), kết bài
- Tham khảo các bài văn mẫu của chínhHS
- Sử dụng bài tập tình huống
- Hỏi đáp
HĐ vận dụng
- Đề xuất các đề tương tự hoặc các cáchhỏi khác nhau xoay quanh cùng một vấnđề
- Sáng tác thơ, bài hát, vẽ tranh, lập trangweb về tác giả, tác phẩm/đoạn trích kí;
hoặc đặt ra các vấn đề nghị luận xã hộikhác về tác phẩ/đoạn trích kí
- HĐ nhómtheo phongcách học tập
- Thực hành
- Kĩ thuật
“trình bàymột phút”,
“tia chớp”
2 Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm/đoạn trích kí trong chương trình Ngữ văn THPT
2.1 Sử dụng bài tập tình huống để phát huy năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
a Tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần đượcgiải quyết
Trang 24b Tình huống "có vấn đề": là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi ta chưabiết cách giải thích hiện tượng, sự việc hay một quá trình nào đó của thực tế.
c Tình huống dạy học: mô tả những sự kiện, hoàn cảnh có thực hoặc hư cấu nhằm đạtnhững mục tiêu, mục đích dạy học
d Dạy học qua (bằng) nghiên cứu tình huống: dạy học dựa trên tình huống có thật hoặcgiống như thật, đòi hỏi người học phải tìm hiểu, suy nghĩ, đề ra được quyết định thíchhợp nhất
e Nghiên cứu tình huống còn gọi là nghiên cứu trường hợp điển hình (case study)
là một trong những phương pháp dạy học chủ động, được sử dụng ngày càng phổbiến, nhằm khắc phục tình trạng thực tế là trong quá trình học tập, người họckhông được tự ra các quyết định; nên khi ra thực tiễn sẽ lúng túng, thiếu suy nghĩ,cân nhắc, không đề ra được quyết định hợp lý khi thực hiện nhiệm vụ theo chứctrách đảm nhiệm
Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:
+ Phù hợp với chủ đề bài học
+ Phù hợp với trình độ nhận thức của HS
+ Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS
+ Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp
cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS
+ Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải
+ Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi racho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề
Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý: Các nhóm HS có
thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳtheo mục đích của hoạt động
+ HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề
+ Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có.+ Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau
Bài tập 1: Tình huống khởi động
Trang 25Bước 1 Cho học sinh xem clip về sông Đà dùng để dạy bài “Người lái đò
sông Đà” – Ngữ văn 12 trên kênh YouTube
https://www.youtube.com/watch?v=jCNx30_nepI
Bước 2 GV Đặt câu hỏi (=> làm sáng tỏ vấn đề)
- Đoạn clip nói về vấn đề gì? Viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung clip đã xem
- Nếu không có những “tờ hoa” trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” thì clip kia ở
mức độ tiếp nhận và thưởng thức nào? (Đó là những thước phim cung cấp tư liệu quí
về lịch sử, địa lí, văn hóa vùng miền Nhưng dưới bàn tay tài hoa của Nguyễn, con sông
Đà đã đi từ quĩ đạo cuộc sống vào quĩ đạo bất tử của văn chương nghệ thuật và trởthành một hình tượng nghệ thuật độc đáo.)
- Có những dạng đề NLVH nào để khám phá cái hay, cái đẹp từ đoạn trích kí “Người lái đò sông Đà”?
Bước 3 Đề xuất các ý tưởng, giả thuyết (phân chia lớp học thành các nhóm, cử
nhóm trưởng => HS thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng và giả thuyết về vấn đề)
- Tìm hiểu chuyên sâu về con người Lê Hữu Trác, cái tôi Nguyễn Tuân, Hoàng
Phủ Ngọc tường; bức tranh phủ chúa, hình ảnh thế tử Cán, sông Đà, sông Hương
qua 03 đoạn trích kí “Vào phủ chúa Trịnh”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”,
“Người lái đò sông Đà”
- Tìm hiểu kĩ đặc trưng thể loại kí
- Tìm những nhận định về 03 tác giả, đoạn trích kí
- Khái quát, xây dựng thành hệ thống các dạng bài NLVH về 3 đoạn trích kí
Bước 4: Xác định các kiến thức cần cho việc giải quyết vấn đề (liệt kê các
nội dung kiến thức cần có để kiểm chứng)
- Bảng hệ thống hóa kiến thức về từng đoạn trích kí
- Các dạng bài NLVH về 03 đoạn trích kí
Bước 5: Liệt kê những kiến thức chưa biết (GV xem xét danh mục các nội
dung kiến thức cần có để giải quyết vấn đề, đề xuất các kiến thức mới cần nghiêncứu)
- Nhận diện yêu cầu đề ra
Trang 26- Phân biệt và biết cách khai triển đảm bảo yêu cầu của dạng đề cơ bản, dạng đề nâng cao.
- Luyện tập nâng cao khả năng hành văn cho trình bày đoạn với kiến thức cơ bản
và nâng cao
Bài tập 2:
…Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình mà đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông
Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh cánh hến của nước Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như
da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng cái tên Tây láo lếu, rồi cứ như thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.
Con Sông Đà gợi cảm Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như nhìn một cố nhân Chuyến ấy ở từng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp
đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, thấy trước mắt loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn thấy cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi dừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bắn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy…
(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân
– SGK Ngữ Văn 12, Tập 1, NXBGD, 2016, tr.191)+ Phân tích/ cảm nhận vẻ đẹp đoạn trích trên
Trang 27+ Phân tích/ cảm nhận về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong đoạn trích trên Từ
đó, nhận xét về cái tôi tài hoa, độc đáo Nguyễn Tuân
+ Phân tích/ cảm nhận của anh/chị về hình tượng dòng sông Đà trong đoạn trích
trên Từ đó, chỉ ra nét riêng của Nguyễn Tuân trong cách miêu tả thiên nhiên
Các bài tập nêu và giải quyết vấn đề được thiết kế tùy theo năng lực HS, tùytheo thời lượng dạy học… GV dần đưa từng mức, đối với HS đại trà GV nêu vấn
đề HS phát hiện và giải quyết tăng dần mức độ và với đối tượng HSG, HS nghiêncứu khoa học thì các bài tập được thiết kế định hướng sao cho HS tự phát hiện vàcùng GV GQVĐ
2.2 Tăng cường sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở/đàm thoại tìm tòi trong dạy học phân hóa và sử dụng phối kết hợp hiệu quả kĩ thuật dạy học tích cực trong khái quát kiến thức, định hướng các dạng đề và hướng dẫn HS ôn tập theo các dạng đề nghị luận về tác phẩm/đoạn trích kí
2.1.1 Phương pháp đàm thoại (vấn đáp): là phương pháp GV khéo léo đặt hệ
thống câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở, động não cho HS sáng tỏ những vấn đềmới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từnhững kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mởrộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểmtra, đánh giá và giúp HS tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩxảo trong quá trình dạy học
- Đàm thoại tìm tòi - phát hiện (đàm thoại ơrixtic)
Bằng cách sử dụng phương pháp này, GV tổ chức cuộc trao đổi ý kiến, kể cảtranh luận giữa GV và cả lớp, có khi giữa GV với HS, thông qua đó HS nắm đượctri thức mới Hệ thống câu hỏi của GV phải mang tính chất nêu vấn đề ơrixtic đểbuộc HS luôn luôn phải cố gắng phát huy trí tuệ, tự lực tìm lời giải đáp Hệ thốngcâu hỏi - lời giải đáp mang tính chất nêu vấn đề, tạo nên nội dung trí dục chủ yếucủa bài học, là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách giải quyết một vấn đềnhận thức Như vậy, thông qua phương pháp này, HS không những nắm vững được
cả nội dung trí dục mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tưtưởng bằng ngôn ngữ nói
Trang 28Trong phương pháp này hệ thống câu hỏi của GV giữ vai trò chỉ đạo chỉ cótính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp Hệ thống câu hỏi của
GV vừa là kim chỉ nam, vừa là bánh lái hướng tư duy của HS đi theo một logichợp lí, nó kích thích tính tìm tòi, trí tò mò khoa học và sự ham muốn giải đáp củaHS
Vì thế khi kết thúc đàm thoại, HS có vẻ như tự lực tìm ra đích đến và chínhkhía cạnh này đã tạo ra cho người học niềm vui sướng của nhận thức, một tình cảmrất tốt đẹp cần phát triển ở HS Đến cuối của quá trình đàm thoại, GV cần khéo léokết luận vấn đề dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và chính nhận xét của HS, tất nhiên cóthêm bớt những ý kiến chính xác và cấu tạo lại kết luận cho chặt chẽ xúc tích vàhợp lí Làm như vậy, HS càng hứng thú và tự tin vì thấy kết luận của GV vừa nêu
rõ ràng có sự đóng góp quan trọng của chính mình
Trong đích hướng tới của dạy học phân hóa, dạy học phát triển NL GQVĐ
và sáng tạo, GV linh hoạt sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi đóng ở phần nội dung kiếnthức cơ bản; Phần nhiều sẽ vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi mở ở mức độ ứng dụng,phân tích, đánh giá và sáng tạo: giải thích, tại sao, làm như thế nào… Các câu hỏikích não sẽ được GV sử dụng trong vấn đáp và trong hệ thống phiếu học tập choHS
Làm thế nào để hệ thống kiến thức về tác giả, đoạn trích
kí? Tại sao cần lập bảng hệ thống hóa kiến thức?
Việc xác lập bảng hệ thống hóa kiến thức về đoạn trích có ý nghĩa gì?
Em thích đoạn trích nào nhất trong 3 đoạn trích kí trung đại và hiện đại được học? Hãy thể hiện sự yêu thích và hiểu biết của em qua bảng hệ thống hóa về đoạn trích em chọn?
Từ văn bản em thích, hãy thiết kế đề và tập hợp thành các dạng đề về đoạn trích kí?
GV tổ chức cho HS tự chọn tác phẩm để giải quyết nhiệm vụ học tập Quanhững văn bản ngữ liệu tự chọn kích thích hứng thú, HS có được những trảinghiệm thú vị trong đọc, viết, nói, nghe và rút ra được những bài học cụ thể, sâusắc; có khả năng phản hồi một cách tích cực và hiệu quả những nội dung đã đọc,
Trang 29khả năng làm chủ tình cảm, hành vi cũng như khả năng ứng xử phù hợp trước cáctình huống phức tạp trong đời sống Cũng qua việc tìm hiểu, lựa chọn và đọc hiểucác kiểu loại văn bản căn cứ sở thích và tầm tiếp nhận của HS, HS có được hiểubiết cơ bản về sự đa dạng văn hoá, có khả năng tìm tòi khám phá, để củng cố, mởrộng vốn sống và tri thức văn hoá; biết tôn trọng sự khác biệt giữa các nền văn hoá,giữa mọi người Việc tự chọn văn bản còn góp phần rèn luyện cho HS có khả năngsuy nghĩ độc lập, sáng tạo; khả năng tìm kiếm, lựa chọn cách giải quyết vấn đề, đềxuất giải pháp; biết cách đọc và xử lí thông tin với các văn bản đa dạng và phứctạp Qua hoạt động này, HS biết liên hệ, mở rộng, so sánh văn bản này với văn bảnkhác, văn bản với bối cảnh và với những trải nghiệm cá nhân; từ đó có cách nhìn,cách nghĩ, cách bình luận, đánh giá theo một cảm quan riêng; thấy vai trò và tácdụng của khai thác văn bản đối với bản thân.
Bảng hệ thống hóa kiến thức ba đoạn trích
kí trong chương trình Ngữ văn 11,12
Vào phủ chú Trịnh – Lê Hữu Trác Hình tượng Bức tranh phủ Chúa Con người Lê Hữu Trác
Đặc điểm - Hiện thực của cuộc sống xa
hoa nhưng ngột ngạt, thiếusinh khí trong phủ chúa Trịnh:
+ Quang cảnh+ Cung cách sinh hoạt trongphủ chúa Trịnh
- Một thầy thuốc giỏi, bản lĩnh,giàu kinh nghiệm, y đức cao; mộttrong những tác giả văn học cónhững đóng góp lớn cho sự ra đời
và phát triển của thể loại kí sự
- Xem thường danh lợi, quyền quý,yêu tự do và nếp sống thanh đạm
- Bút pháp tả cảnh sinh độngqua quan sát tỉ mỉ, tinh tế vàsắc sảo
Nghệ thuật xây dựng hình tượngđộc đáo thể hiện qua việc lựa chọnđối tượng, cách cảm, cách nghĩ,cách thể hiện
Trang 30- Cách kể diễn biến sự việcchân xác, có duyên, đặc biệt lànhững chi tiết nhỏ có tính chấttạo nên cái thần của cảnh vàviệc.
- Kết hợp tự sự, miêu tả vàbiểu cảm tạo sức hút, tăng giátrị hiện thực, gây ấn tượng sâusắc về cảnh và người nơi phủchúa
- Giọng điệu đa dạng: vừachân thực, mộc mạc lại vừahóm hỉnh, châm biếm, phêphán một cách nhẹ nhàng, kínđáo
Ý nghĩa - Hiện thực xã hội Việt Nam
thế kỉ XVIII (Giá trị hiệnthực)
- Thái độ của tác giả trướccung cảnh và cách sinh hoạtnơi phủ chúa (Giá trị nhânđạo)
- Tài năng, nhân cách của LêHữu Trác
Nhãn quan kí sự sâu sắc, tài năng,nhân cách lớn của Hải Thượng LãnÔng Lê Hữu Trác
Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân Hình tượng Sông Đà Người lái đò Cái “tôi" Nguyễn Tuân Đặc điểm - Hung bạo
- Trữ tình
- Trí dũng
- Tài hoa
- Lặng thầmcống hiến
- Tài hoa:
+ Luôn khám phá sự vật dướigóc độ cái đẹp; cảm nhận conngười ở vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ.+ Thích cảm giác mạnh, thích
Trang 31cái đẹp biệt lệ, phi thường, + Ngôn ngữ tài hoa, độcđáo,
+ Bút pháp liên tưởng, tưởngtượng phong phú, sáng tạo
sự, điện ảnh, để khám pháđối tượng
- Cái tôi ngông, giàu cá tính,giàu trải nghiệm và đầy tráchnhiệm với đất nước
- Kiến thức đangành
- Ngôn ngữ sángtạo
- Câu văn linh hoạt
- Tạo hoàn cảnhđặc biệt
- Cách miêu tảlinh hoạt
- Ngôn ngữ sốngđộng, giàu chấttạo hình
Qua việc lựa chọn đối tượng,cách cảm, cách nghĩ, cách thểhiện
Ý nghĩa - Làm nổi bật vẻ
đẹp của người láiđò
- Thể hiệnphong cách nghệ
- Ca ngợi vẻ đẹpcon người TâyBắc
- Thể hiệnphong cách nghệ
Tạo sự độc đáo và sức hấp dẫn cho kí
Trang 32Nguyễn Tuânsau cách mạng
Nguyễn Tuânsau cách mạng
Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường Hình tượng Sông Hương Cái “tôi" Hoàng Phủ Ngọc Tường
Đặc điểm - Dòng chảy đa dạng
- Sức sống mãnh liệt
- Nữ tính
- Tài hoa+ Khám phá sự vật, con người dướilăng kính của tình yêu của vẻ đẹpthiên tính nữ
+ Ngôn ngữ giàu chất thơ, hành vănhướng nội, tinh tế
+ Liên tưởng, tưởng tượng độc đáo,tinh tế,
- Uyên bác:
+ Am hiểu sâu sắc đối tượng miêu tả.+ Huy động kiến thức của nhữngngành nghề thiên về khoa học xã hội,văn hóa để cảm nhận đối tượng
- Cái tôi tinh tế, hướng nội, giàu trảinghiệm, mang nặng tình yêu với Huế,với đất nước
- Nhịp văn chậm rãi, sosánh, nhân hóa độc đáo,…
Qua việc lựa chọn đối tượng, cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện
Ý nghĩa - Vẻ đẹp của Huế
- Sự biết ơn với nhữngngười đã khai phá, tạo dựngmảnh đất này
- Thể hiện phong cách củaHoàng Phủ Ngọc Tường
Tạo sự độc đáo và sức hấp dẫn cho kí
Định hướng các dạng đề nghị luận về tác phẩm/đoạn trích kí
Dạng 1: Nghị luận về Dạng 2: Nghị luận về hình tượng nghệ
Trang 33một tác phẩm/đoạn trích kí thuật trong tác phẩm/đoạn trích kí
(1) Phân tích/ cảm nhận một tác phẩm kí
(có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/nhận
xét/đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm)
(1) Phân tích/ cảm nhận hình tượng quamột đoạn văn/ qua cả tác phẩm (có thểkèm thêm yêu cầu chỉ ra/nhận xét/ đánhgiá về tác giả hoặc tác phẩm/
đoạn trích)(2) Phân tích/ cảm nhận một đoạn trích
kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận
xét/đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm/
đoạn trích)
(2) Phân tích/ cảm nhận hình tượng quahai chi tiết/hai đoạn văn riêng biệttrong cùng một tác phẩm (có thể kèmthêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/ đánh giá
về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)(3) Phân tích/ cảm nhận một khía cạnh
trong đoạn trích/ tác phẩm kí (có thể
kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/ đánh
giá về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)
(3) Phân tích/ cảm nhận một đặc điểm/khía cạnh của hình tượng (thuộc về nộidung, tư tưởng hoặc nghệ thuật của tácphẩm/ tác giả), (có thể kèm thêm yêucầu) để làm sáng tỏ một nhận xét/ nhậnđịnh về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạntrích)
(4) Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm/
đoạn trích kí
(4) Bình luận hai ý kiến bàn về hìnhtượng
(5) So sánh giữa hai đoạn trích/ hai tác
phẩm kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ
ra/ nhận xét/ đánh giá về tác giả hoặc tác
phẩm/ đoạn trích)
(5) So sánh hai đoạn văn/ hai chi tiết vềhình tượng nghệ thuật ở hai tác phẩm/đoạn trích
Tất cả các văn bản trong chương trình Ngữ văn 11, 12 đều là đoạn trích kí
CHÚ
3 Ai đã đặt tên cho dòng
sông
Hoàng Phủ Ngọc Tường 12 Đoạn VB
Trang 342.1.2 Sử dụng phối hợp hiệu quả các kĩ thuật dạy học trong hướng dẫn HS ôn tập các dạng đề nghị luận về tác phẩm/đoạn trích kí
Các kĩ thuật được chúng tôi áp dụng trong dạy học phát triển năng lực giảiquyết vấn đề và sáng tạo cho HS thông qua qua các dạng bài NLVH về tác phẩm kítrong chương trình Ngữ văn THPT: chia sẻ nhóm đôi, mảnh ghép, khăn trải bàn,phòng tranh, phân tích phim video, trạm, “trình bày 1 phút”, “tia chớp, động não,
sơ đồ tư duy/ minmap,…
Cụ thể ở phương án dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo cho học sinh thông qua Bài tập 1(Tình huống khởi động) chúng tôi đã sử dụng
kĩ thuật phân tích phim video và kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi (Xem phụ lục về kĩ
thuật này/117 của SK) Theo đó:
trước khi cho HS xem video, chúng tôi nêu một số câu hỏi thảo luận mà các
em cần tập trung (các câu hỏi đã trình bày ở trang 20 của SK) Làm như vây
sẽ giúp các em chú ý tốt hơn
HS xem phim
sau khi xem video, yêu cầu HS thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảoluận, phân loại với nhau Nhóm đôi này lại tiếp tục chia sẻ với nhóm đôikhác hoặc với cả lớp
Ở nội dung xây dựng bảng hệ thống hóa kiến thức ba đoạn trích kí trong
chương trình Ngữ văn 11, 12 chúng tôi đã áp dụng khăn trải bàn (Xem phụ lục về
kĩ thuật này/113,114 của SK)
HS tự chọn vấn đề, GV kết hợp nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký và giao dụng cụ
GV đưa ra vấn đề cho các nhóm (3 nhóm kí tương ứng với 3 đoạn trích), từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của tờ giấy
Nhóm trưởng và thư ký sẽ tổng hợp các ý kiến và lựa chọn những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy
Lưu ý: Mỗi thành viên làm việc tại góc riêng của mình
Trang 35Ở nội dung định hướng các dạng đề nghị luận về tác phẩm/đoạn trích kí chúng tôi đã áp dụng kĩ thuật các mảnh ghép (Xem phụ lục về kĩ thuật này/112 của
SK)
Phân học sinh thành từng nhóm có nhóm trưởng
Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm (nghiên cứu khả năng đề về từng đoạn trích hay tập hợp vấn đề từ 3 đoạn trích)
Các nhóm cùng thảo luận và rút ra kết quả, yêu cầu từng thành viên trong nhóm đều có khả năng trình bày kết quả
Mỗi nhóm sẽ tách ra và hình thành nhóm mới theo sơ đồ
Lần lượt từng thành viên trình bày kết quả thảo luận
2.1.2.1 Sử dụng phối hợp hiệu quả các kĩ thuật dạy học trong hướng dẫn HS ôn tập dạng thứ nhất nghị luận về một tác phẩm/ đoạn trích kí
Để dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinhthông qua việc hướng dẫn HS ôn tập dạng thứ nhất nghị luận về một tác phẩm/
đoạn trích kí chúng tôi đã sử dụng kĩ thuật trạm và kĩ thuật động não (Xem phụ lục
về kĩ thuật trạm/119, động não /114,115 của SK.)
Tổ chức thực hiện kĩ thuật trạm và động não: Chia lớp thành 05 nhóm, nghiên
cứu nội dung của 05 trạm chủ đạo theo sự bắt thăm ngẫu nhiên Nhóm trưởng điềuhành hoạt động thảo luận chung của cả nhóm trong một thời gian quy định, các ýkiến đều được thư ký ghi nhận, khuyến khích thành viên đưa càng nhiều ý kiếncàng tốt Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu, thu gọn các ý tưởng trùng lặp,xóa những ý không phù hợp, sau cùng thư ký báo cáo kết quả Sau khi hoàn thànhsản phẩm nhóm tại các trạm, cả lớp có 10 phút di chuyển lần lượt qua các trạm để tìmhiểu thêm về nội dung của các trạm còn lại
Trạm 1: Phân tích/ cảm nhận một tác phẩm kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm)
Trạm 2: Phân tích/ cảm nhận một đoạn trích kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)
Trạm 3: Phân tích/ cảm nhận một khía cạnh trong đoạn trích/tác phẩm kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/ đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)
Trang 36Trạm 4: Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm/ đoạn trích kí
Trạm 5: So sánh giữa hai đoạn trích/hai tác phẩm kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/ đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)
Ở trong từng trạm nhiệm vụ của từng nhóm HS có 04 yêu cầu cho cả nhóm
và 01 yêu cầu dành cho cá nhân:
+ tìm ví dụ minh họa (HS chia cột tìm 01 ví dụ áp cho 02 dạng đề cơ bản và nâng cao)
+ chỉ ra phương pháp làm bài (HS sử dụng kĩ thuật vẽ sơ đồ/ mind map (Xem phụ lục về kĩ thuật sơ đồ hoặc mindmap/115 của SK.)
+ luyện tập 01 đề minh họa cho phương pháp về kiểu bài
+ lập bảng so sánh 5 kiểu bài
(04 yêu cầu này dành cho cả nhóm)
+ triển khai hành văn đoạn ở 01 trong các nội dung viết mở bài hoặc giới thiệuchung/ khai thác luận điểm trọng tâm/ đánh giá/ kết bài và viết bài hoàn chỉnh (riêng nhiệm vụ này từng cá nhân làm việc độc lập, viết đoạn HS tiến hành trên lớp, viết bài HS về nhà làm và nộp bài theo thời gian GV qui định)
Và khi HS đã triển khai hành văn đoạn GV tổ chức kĩ thuật phòng tranh(Xem phụ lục về kĩ thuật phòng tranh/ 118,119 của SK.)
Tổ chức thực hiện: Sau khi GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho các nhóm và cá nhân
thì mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạnhững ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xungquanh lớp học như một triển lãm tranh HS cả lớp đi xem “triển lãm’’và có thể có ýkiến bình luận hoặc bổ sung Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tậphợp lại và tìm phương án tối ưu
(1) Phân tích/ cảm nhận một tác phẩm kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/ đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm)
Chú ý: Khi phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm
+ Tìm, chọn, phân tích chi tiết đắt trong mối quan hệ với việc thể hiện nội dung, nghệ thuật tác phẩm kí
Trang 37Lượng chi tiết tương đối lớn cần phân tíchChọn những chi tiết quan trọng nhất tập trung phân tích33
Xác định, phân tích giá trị nội dung, hình thức nổi bật
++ Chỉ thông qua thao tác mở rộng vấn đề, học sinh mới có thể trình bày vấn đề cần nghị luận một cách toàn diện nhất, tức là đặt việc nghị luận tác phẩm trong mốiquan hệ với lý luận văn học, văn học sử,
(2) Phân tích/ cảm nhận một đoạn trích kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/
nhận xét/đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)
a Ví dụ Kiểu bài Phân tích/cảm nhận
một đoạn trích kí
Phân tích/cảm nhận một đoạn trích kí
+ vấn đề nâng cao
Ví dụ “Rời khỏi kinh thành… mãi
mãi chung tình với quê hương
xứ sở.”
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?,Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ Văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,
tr 200-201)
Cảm nhận vẻ đẹp của sôngHương trong đoạn trích trên
“Rời khỏi kinh thành… mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.”
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?,Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ Văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr 200-201)
Cảm nhận vẻ đẹp của sông Hươngtrong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét
về nét tài hoa trong lối viết kí củaHoàng Phủ Ngọc Tường
b Phương pháp
Trang 38Vĩ Dạ Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vịnh xưa cổ Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của
nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người nơi đây; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ…” Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.”
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Ngữ Văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr 200-201)
Trang 39Cảm nhận vẻ đẹp của Sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về nét tài hoa trong lối viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Mở bài - Giới thiệu vấn đề nghị luận
Thân bài * Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác
phẩm và đoạn trích cần cảm nhận
* Cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương qua đoạn trích:
- Khung cảnh thơ mộng, êm đềm đậm chất Huế trên đường rờikhỏi kinh thành của sông Hương: đảo cồn Hến quanh năm mơmàng trong sương khói; màu xanh biếc của tre trúc, những hàngcau của vùng ngoại ô Vĩ Dạ -> đến tận lúc chia tay xứ cố đô sôngHương vẫn cố ghi dấu trong mình những địa danh nổi tiếng,những cảnh sắc đặc trưng của Huế
- Phép nhân hóa đã thổi vào dòng sông một linh hồn với đầy tâm
tư vương vấn: ôm lấy đảo cồn Hến, lưu luyến ra đi qua vùng ngoại ô Vĩ Dạ, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ.
- Tác giả đã liên tưởng tình cảm của sông Hương dành cho Huếvới mối tình Thúy Kiều – Kim Trọng trong danh tác của Nguyễn
Du Đây là sự liên tưởng tinh tế và bao hàm nhiều ý nghĩa: songHương luôn dành cho Huế nhiều vấn vương, chút lẳng lơ kín đáonhư nàng Kiều trong đêm trăng tình tự, hẹn thề; lời thề Kim –Kiều ấy cũng chính là khúc hát thủy chung của sông Huong dànhcho xứ Huế “Còn non, còn nước…”
Trang 40=> Sự lưu luyến khi chia tay Huế của dòng sông vừa dịu dàng,lắng đọng vừa tha thiết, bồi hồi và một lần nữa nhà văn đã nhuộmlên dòng sông sắc tím thủy chung nơi tà áo dài của người con gái
- Giọng điệu rất Huế, rất trữ tình và sâu lắng, đầy suy niệm
Kết bài - Khẳng định lại vấn đề nghị luận
- Liên hệ, mở rộng, nêu suy nghĩ bản thân
(3) Phân tích/ cảm nhận một khía cạnh trong đoạn trích/tác phẩm kí (có thể kèm thêm yêu cầu chỉ ra/ nhận xét/ đánh giá về tác giả hoặc tác phẩm/ đoạn trích)
Phân tích/ cảm nhận một khía cạnh trong đoạn trích/ tác phẩm kí
+ vấn đề nâng cao
Ví dụ Phân tích giá trị hiện thực của
đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”
– Lê Hữu Trác
Phân tích giá trị hiện thực của đoạn
trích “Vào phủ chúa Trịnh” – Lê
Hữu Trác Từ đó nhận xét về nghệthuật miêu tả hiện thực phủ chúaTrịnh qua đoạn trích
b Phương pháp